Suy Niệm Lời ChúaSuy Niệm Lời Chúa
      Home | Forum | Calendar | Members | Register | Messages | Log in

Chúa Nhật Lễ Lá năm B - Palm Sunday B

 
Post new topic   Reply to topic    Suy Niệm Lời Chúa -> Chúa Nhật Lễ Lá Năm B
View previous topic :: View next topic  
Author Message
hoangvu



Joined: 16 Feb 2004
Posts: 0
Location: 66yyh99i

PostPosted: Fri Feb 27, 2004 9:49 pm    Post subject: Chúa Nhật Lễ Lá năm B - Palm Sunday B Reply with quote

Passion Sunday, B

BÀI ĐỌC I: Is 50, 4-7
"Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười, nhưng tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn".

(Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 21, 8-9. 17-18a. 19-20. 23-24
Đáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con? (c. 2a)

Xướng: 1) Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: "Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương". - Đáp.

2) Đứng quanh con là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể đếm được mọi đốt xương con. - Đáp.

3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm... Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Đấng phù trợ con, xin kíp ra tay nâng đỡ. - Đáp.

4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. "Chư quân là người tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa, toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!" - Đáp.

BÀI ĐỌC II: Pl 2, 6-11
"Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.
Chúa Giêsu Kitô, tuy là {thân phận} Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Pl 2, 8-9
Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

BÀI THƯƠNG KHÓ: Mc 14, 1 - 15. 47 (bài dài)
"Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Marcô.

Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Tuần Lễ ăn bánh không men, các thượng tế và luật sĩ tìm mưu bắt giết Chúa Giêsu. Họ bảo nhau rằng: S. "Đừng làm trong ngày lễ, kẻo sinh náo động trong dân". C. Khi Chúa đang dùng cơm ở Bêtania trong nhà ông Simon tật phong, thì có một người phụ nữ mang đến một bình ngọc đựng dầu thơm rất quý giá. Đập vỡ bình, bà đổ dầu thơm trên đầu Người. Có mấy người khó chịu nghĩ thầm rằng: Làm gì mà phí dầu thơm như vậy? Dầu này có thể bán được hơn ba trăm đồng bạc để bố thí cho kẻ nghèo khó. Và họ nặng lời với bà đó. Nhưng Chúa Giêsu bảo: "Hãy để mặc bà, sao các ông lại làm cực lòng bà? Bà vừa làm cho Ta một việc rất tốt. Vì bao giờ các ông cũng có những kẻ nghèo ở bên mình, và các ông có thể làm phúc cho họ lúc nào tuỳ ý, nhưng Ta, các ông không có Ta ở luôn với đâu. Làm được gì thì bà đã làm, bà đã xức dầu thơm có ý tẩm liệm xác Ta trước. Ta bảo thật các ông: Trong khắp thế giới, Phúc âm này rao giảng đến đâu thì người ta cũng sẽ thuật lại việc bà mới làm để nhớ bà". C. Khi ấy, Giuđa Iscariô, một trong nhóm Mười Hai, đến tìm các thượng tế để tình nguyện nộp Người cho họ. Nghe vậy, họ mừng rỡ và họ liền hứa cho nó tiền. Và nó tìm dịp tiện nộp Người.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng Lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Người: S. "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?" C. Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng: "Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó. Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu? Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó". C. Hai môn đệ ra đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo, và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Người cùng Mười Hai môn đệ tới. Và khi mọi người đang ngồi ăn, thì Chúa Giêsu nói: "Ta bảo thật các con, một trong các con đang ăn cùng Ta, sẽ nộp Ta". C. Các ông đều buồn rầu và lần lượt từng người thưa Ngài: S. "Thưa Thầy, có phải con không?" C. Người đáp: "Là một trong mười hai, kẻ cùng chấm một đĩa với Thầy. Con Người phải ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà nó đừng sinh ra thì hơn". C. Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: "Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta". C. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: "Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa".

C. Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu. Chúa Giêsu bảo các ông: "Đêm nay, tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy, vì có lời chép rằng: ta sẽ đánh chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con". C. Phêrô thưa Người: S. "Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, nhưng con thì không". C. Chúa Giêsu bảo ông: "Thầy bảo thật con: Hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Thầy ba lần". C. Nhưng Phêrô càng lên giọng cương quyết hơn mà rằng: S. "Không, dầu phải chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy". C. Và tất cả đều nói như vậy.

Đi đến một vườn kia tên là Ghếtsêmani, Người bảo các môn đệ: "Các con hãy ngồi lại đây trong khi Thầy đi cầu nguyện". C. Rồi Người đem Phêrô, Giacôbê và Gioan theo Người và Người bắt đầu kinh sợ và buồn sầu. Người liền bảo các ông: "Linh hồn Thầy buồn đến chết được, các con hãy ở lại đây và tỉnh thức".

C. Tiến xa hơn một chút, Người phục xuống đất và cầu xin nếu có thể được thì xin cho qua khỏi giờ này. Và Người nguyện rằng: "Abba, Lạy Cha, Cha có thể làm được mọi sự, xin cất chén này khỏi con! Nhưng không theo ý con muốn, một theo ý Cha". C. Người trở lại và thấy các ông đang ngủ, nên nói với Phêrô: "Simon, con ngủ ư? Con không có sức thức được một giờ sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lẹ, còn xác thịt thì yếu đuối". C. Rồi Người đi khỏi đó và cầu nguyện cùng lời như trước. Khi trở lại lần nữa và thấy các ông còn ngủ (vì mắt các ông nặng trĩu) và các ông không còn biết thưa Người làm sao. Lần thứ ba, Người trở lại và bảo: "Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi. Thế là xong! Giờ đã đến: Này Con Người sắp bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Thôi! hãy chỗi dậy, chúng ta đi, kẻ nộp Thầy đã tới nơi". C. Người còn đang nói, thì Giuđa Iscariô, một trong nhóm Mười Hai đến, cùng đi với một toán đông mang gươm giáo và gậy gộc do các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão sai đến. Trước đó, tên phản bội đã ra hiệu cho chúng rằng: S. "Hễ tôi hôn mặt ai, thì đó chính là Ngài, các ông cứ bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận". C. Vừa đến, nó liền tới gần Người mà nói: S. "Chào Thầy". C. Và nó hôn Người. Và chúng tra tay bắt Người. Nhưng một người trong những kẻ đứng xung quanh rút gươm chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu nói với chúng rằng: "Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp! Hằng ngày, Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ mà sao các ngươi không bắt Ta. Nhưng thế là để ứng nghiệm lời Kinh Thánh". C. Bấy giờ môn đệ bỏ Người và trốn đi hết. Có một thanh niên theo Người, mình chỉ quấn một tấm khăn, họ túm lấy anh ta, nhưng anh ta bỏ tấm khăn lại và chạy trốn mình trần.

Chúng điệu Chúa Giêsu đến thầy thượng tế, các tư tế, luật sĩ và kỳ lão hội lại đông đủ. Còn Phêrô theo Người xa xa đến tận trong dinh thượng tế và ngồi sưởi lửa với đám đầy tớ. Vậy các thầy thượng tế và toàn thể công nghị tìm một chứng cáo Chúa Giêsu để giết Người, song họ không tìm ra. Có nhiều kẻ đã cáo gian Người, nhưng các chứng đó không hợp nhau. Tuy nhiên có nhiều kẻ đứng lên làm chứng gian cho Người rằng: S. "Chúng tôi đã nghe nó nói: Ta sẽ phá huỷ đền thờ này do tay loài người làm ra, và trong ba ngày, Ta sẽ xây lại một đền thờ khác không bởi tay loài người làm ra". C. Nhưng chứng cớ của họ cũng không hợp nhau. Khi ấy, thầy thượng tế đứng lên giữa công nghị hỏi Chúa Giêsu rằng: S. "Sao ông không trả lời gì về những điều các người này tố cáo ông". C. Nhưng Người vẫn thinh lặng và không đáp lại gì. Thầy thượng tế lại hỏi: S. "Ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?" C. Chúa Giêsu đáp: "Phải, chính Ta! Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đấng toàn năng và ngự đến trên đám mây". C. Thầy thượng tế liền xé áo mình ra và nói: S. "Chúng ta còn cần chi đến nhân chứng nữa? Các ông đã nghe lời nói lộng ngôn, các ông nghĩ sao?" C. Ai nấy đều lên án Người đáng chết. Rồi có kẻ bắt đầu nhổ vào Người, che mặt Người và đánh đấm Người mà rằng: S. "Hãy đoán xem!" C. Và bọn thủ hạ vả mặt Người.

Phêrô đang ở ngoài sân tiền đường, thì có một đầy tớ gái của thầy thượng tế đến, thấy Phêrô đang sưởi, thì nhìn ông và nói: S. "Ông cũng theo Giêsu, người Nadarét". C. Nhưng ông chối phắt mà rằng: S. "Tôi không biết, tôi không hiểu cô muốn nói gì". C. Rồi ông đi ra ngoài phía trước tiền đường, và gà liền gáy. Lần nữa người đầy tớ thấy ông, liền nói với những người xung quanh rằng: S. "Ông này thuộc bọn đó". C. Nhưng ông lại chối. Một lúc sau, những người ở đó lại nói với Phêrô rằng: S. "Đúng ông thuộc bọn đó, vì cả ông cũng là người Galilêa". C. Ông liền nguyền rủa nặng lời và thề rằng: S. "Tôi không biết người mà các ông nói đó". C. Tức thì gà gáy lần thứ hai. Và Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã bảo ông: "Trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Ta ba lần". Và ông liền than khóc.

Vừa tảng sáng, các thượng tế hội nghị với các kỳ lão, luật sĩ và toàn thể công nghị. Họ đã trói Chúa Giêsu và giải nạp Người cho Philatô. Philatô hỏi Người: S. "Ông có phải là vua dân Do-thái không?" C. Chúa Giêsu đáp: "Ông nói đúng!" C. Và các thầy thượng tế cáo Người nhiều điều. Philatô lại hỏi Người rằng: S. "Ông không trả lời gì ư? Hãy coi họ tố cáo Ông biết bao nhiêu điều!" C. Nhưng Chúa Giêsu không trả lời gì thêm, khiến Philatô ngạc nhiên. Vào mỗi dịp lễ, quan có thói quen phóng thích cho dân một người tù tuỳ ý họ xin. Bấy giờ trong khám có tên Baraba bị giam cùng với những kẻ phiến loạn, vì chúng đã giết người trong cuộc khởi loạn. Dân chúng tiến lên Philatô xin ân xá theo như quan quen làm. Vậy Philatô hỏi: S. "Các ngươi có muốn ta phóng thích cho các ngươi Vua dân Do-thái không?" C. (Vì quan đã biết rõ do lòng ghen tương mà các thượng tế nộp Người). Nhưng dân xin quan phóng thích Baraba cho họ. Philatô bảo dân chúng rằng: S. "Các ngươi muốn Ta làm gì cho vua dân Do-thái?" C. Nhưng chúng lại kêu lên: S. "Đóng đinh nó đi!" C. Philatô đáp lại: S. "Người này đã làm gì nên tội?" C. Song chúng càng la to hơn: S. "Đóng đinh nó đi!" C. Sau cùng Philatô muốn vừa lòng dân, liền tha Baraba và trao Chúa Giêsu cho chúng đánh đòn và đóng đinh vào thập giá. Quân lính điệu Người vào sân tiền đường và tập họp cơ đội lại. Chúng mặc áo choàng đỏ cho Người, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người. Đoạn chào Người rằng: S. "Tâu Vua dân Do-thái". C. Rồi chúng lấy cây sậy đánh đầu Người, khạc nhổ vào Người và quỳ gối triều bái Người. Khi đã nhạo cười Người, chúng lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục lại cho Người và chúng điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Chúng gặp một người qua đường, tên là Simon, quê ở Xyrênê, là thân phụ của Alexanđrô và Rôphô vừa ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác đỡ thập giá cho Người. Chúng điệu Người đến nơi kia gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Chúng cho Người uống rượu pha mộc dược, nhưng Người không uống. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi chúng chia nhau áo Người bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào.

Vào lúc giờ thứ ba, chúng đã đóng đinh Người vào thập giá. Và có bản án ghi rằng: Vua dân Do Thái! Và cùng với Người, chúng đóng đinh hai tên trộm cướp vào thập giá, một đứa bên hữu, một đứa bên tả Người. Như vậy là ứng nghiệm lời Thánh Kinh rằng: Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác. Những người qua đường sỉ nhục Người, lắc đầu và nói: S. "Kià! Kẻ phá đền thờ Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày: hãy tự cứu mình xuống khỏi thập giá đi!" C. Các thượng tế với các luật sĩ cũng nhạo báng Người và nói với nhau: S. "Nó đã cứu được những kẻ khác mà không tự cứu mình! Bây giờ Đấng Kitô Vua Israel, hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta thấy mà tin nào!" C. Cả những kẻ cùng chịu đóng đinh với Người cũng lăng nhục Người. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, tối tăm bao trùm toàn thể lãnh thổ. Và đến giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng: "Eloi, Eloi, lema sabachtani!" C. Nghĩa là: "Lạy Chúa con, lạy Chúa con, Tại sao Chúa bỏ con!" C. Có mấy người đứng đó nghe thấy liền nói rằng: S. "Kìa, nó gọi Elia!" C. Bấy giờ có kẻ chạy đi nhúng miếng bông biển đầy dấm và cuốn vào cây sậy và đưa lên cho Người uống mà rằng: S. "Hãy đợi xem Elia có đến đem nó xuống không?" C. Nhưng Chúa Giêsu kêu một tiếng lớn và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới. Viên sĩ quan đứng trước mặt Người thấy Người kêu lên và trút hơi thở như thế, liền nói rằng: S. "Đúng người này là Con Thiên Chúa!" C. Cũng có những phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa, trong số đó có bà Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê hậu và của Giuse, và bà Salômê, là những kẻ đã theo giúp Người khi Người còn ở xứ Galilêa. Và nhiều người khác cũng đã lên Giêrusalem với Người.

Trời đã xế chiều và hôm đó lại là ngày chuẩn bị, áp ngày Sabbat. Ông Giuse quê ở Arimathia, một hội viên vị vọng trong công nghị, cũng là người trông đợi nước Thiên Chúa, ông mạnh dạn đến gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Philatô ngạc nhiên nghe nói Người đã chết, ông gọi viên sĩ quan đến và hỏi xem Người đã chế thật chưa. Khi được viên sĩ quan phúc trình, quan trao xác Người cho Giuse. Giuse đã mua một khăn trắng, hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá, liệm vào khăn và đặt trong mộ đã đục sẵn trong đá, và lăn một tảng đá lấp cửa mộ. Lúc đó bà Maria Mađalêna và Maria mẹ ông Giuse nhìn xem nơi Người được an táng.




SUY NIỆM LỜI CHÚA

THAM DỰ HÀNH TRÌNH CỨU ĐỘ VỚI CHÚA GIÊSU
Tin Mừng Lễ Lá đưa nhân loại vào cao điểm sứ điệp của Chúa Giêsu. Trong hành trình cao điểm sứ điệp này, người ta đọc thấy một số nhân vật trực tiếp đại diện cho sự yếu đuối và phản bội của toàn thể nhân loại, bao gồm cả kẻ ghét lẫn người cảm thông. Đó là Giuđa Iscariot, môn đệ phản bội bán thầy; Phêrô, môn đệ nhiệt thành, nhưng yếu đuối chối thầy ba lần; mười tông đồ khác nhát đảm lẩn trốn để xa xa quan sát thầy bị kết án; đám đông ít ngày trước hoan hô Chúa Giêsu khi vào thành Giêrusalem, nhưng ít ngày sau đã hùa theo nhóm thượng tế và Pharisiêu kết án tử Ngài; quân lính Do Thái hành xử theo lệnh các nhà lãnh đạo tôn giáo hành hạ và đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá; Các thầy cả thượng tế Do Thái lãnh đạo xách động, xúi giục dân chúng và nhà cầm quyền Roma kết án Chúa Giêsu; Philatô, quan toàn quyền Roma làm ngơ trước con người vô tội Giêsu, mặc cho đám người đối nghịch lăng nhục và đóng đinh Ngài vào thập giá. Và vài nhân vật khác xem ra không trực tiếp, nhưng gián tiếp đem gánh nặng vào thập giá Chúa Giêsu: đó là hai người trộm bị kết án tử thập giá cùng với Ngài.

Bên cạnh những nhân vật yếu đuối phản bội, cũng xuất hiện những con người cảm thông chia sẻ với Chúa Giêsu. Đó là nhóm phụ nữ thành Giêrusalem khóc thương Người; Madaleina, môn đệ trở lại và trung tín theo Chúa Giêsu đến chân thập giá; môn đệ Gioan, môn đệ Chúa yêu cùng với Mẹ Maria, Mẹ Người tham dự vào giây phút hấp hối sau cùng với Người dưới chân thánh giá; có lẽ cũng còn rất nhiều người trong dân chúng đã từng chứng kiến các phép lạ Chúa Giêsu cũng có mặt trong bản án tử của Người và âm thầm khóc thương cho một người lành thánh vô tội!...

Có thể nói cả kẻ phản bội lẫn người thương xót Chúa Giêsu đều rất hạnh phúc, vì họ trực tiếp được tham dự vào sứ điệp cứu độ của Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Hạnh phúc bởi vì cho dù phản bội, Chúa Giêsu vẫn thương họ cho đến giây phút cuối cùng cuộc đời Ngài và cuộc đời họ. Nếu có chuyện không hạnh phúc xảy đến cho họ là tại họ không muốn đón nhận mà thôi. Thí dụ Duđa Iscariot tuy nhận ra tình thường thầy và ân hận về sự phản bội của mình, nhưng lại tự kết thúc đời mình trong thất vọng. Chọn lựa của ông để lại cho nhân loại ngàn sau nghi nghờ thắc mắc về hạnh phúc ngàn đời của ông! Đám thầy cả thượng tế và Pharisiêu, dù thấy các phép lạ, tình thương và uy quyền của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, ngay cả vào phút sau cùng đời Người khi tắt thở với dấu hiệu trời đất tối tăm và màn đền thờ xé ra làm hai, họ vẫn không muốn chấp nhận để được sống trong hạnh phúc. Kết quả sau cùng cuộc đời họ chỉ có Chúa biết rõ!

Ngược lại, Phêrô cũng phản bội, nhưng đã kịp ăn năn trước ánh mắt tình thương Chúa. Ông đã xứng đáng đại diện cho nhân loại lỗi lầm và trở thành người đại diện cho Giáo Hội Chúa trên trần gian. Số phận của ông là cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu quê trời. Người khác nữa là Maria Madaleina, sau khi trở lại, đã trung thành theo Chúa Giêsu đến hơi thở sau cùng đời Ngài, để sau này được trực tiếp thấy và tham dự với Ngài trong giây phút phục sinh vinh hiển. Các tông đồ và môn đệ khác tuy yếu đuối trốn tránh, nhưng tất cả đã trở về quy tụ thành đoàn các tông đồ và chứng nhân Tin Mừng của Chúa Giêsu. Rồi một trong hai người trộm tuy lỡ lầm làm điều xấu trong đời, nhưng đã nhận biết lỗi lầm và ăn năn vào giây phút sau cùng bên thập giá Chúa Giêsu. Anh đã được cứu thoát. Anh có thể là hình ảnh rất thực đại diện cho đa số trong nhân loại tội lỗi chúng ta. Tất cả đều được hạnh phúc viên mãn quê trời. Riêng Mẹ Maria và môn đệ Gioan, những hình ảnh tình yêu trong sáng, thì tham dự trực tiếp vào việc đại diện cho Chúa Giêsu và cho nhân loại tiếp tục sứ vụ cứu chuộc của Ngài qua việc trối lại của Ngài trên thập giá. Mẹ Maria đã trở thành Vị Đồng công cứu chuộc nhân loại với Chúa Giêsu; còn Gioan thì trở thành chứng nhân Tin Mừng tình yêu cứu độ suốt đời.

Giữa những kẻ phản bội và người trung thành, cảm thông, chia sẻ, đều mang cùng đặc tính chung của thân phận loài người yếu đuối tội lỗi. Họ chỉ hơn nhau là biết can cảm chấp nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu và trở về với Ngài. Mừng Lễ Lá cũng là thời điểm mời gọi chúng ta quyết liệt bước vào hành trình cứu độ với Chúa Giêsu. Sẽ không có chọn lựa nào khác hơn là nhập vào đoàn các tông đồ và những người yêu Chúa Giêsu. Họ cũng yếu đuối và phản bội Chúa như chúng ta, nhưng họ đã quyết tâm trở về với Chúa và tiến bước xây dựng phát triển Nước Trời dưới thế. Tham dự vào hành trình cứu độ với Chúa Giêsu, chắc chắn chúng ta sẽ cùng được phục sinh vinh hiển với Người trên đất dành cho kẻ sống ngàn thu..

Lm. Raphael Xuân Nguyên



Is 50:4-7; Phil 2:6-11; Mk 14:1 - 15:47

True Supporters (Andrew Greeley)
A Tear For Remembrance (John Walsh)
Colours of Your Life (Martin Hogan)
Would We Have Stayed? (Jack McArdle)

True Supporters
(Andrew Greeley)

The procession gospels of Mark and John offer material for a short homily and are in keeping with the event we celebrate on this Sunday of Holy Week. Jesus' entrance into Jerusalem is not all that unlike the adulation some have shown for various people competing in primary elections. Those who supported the losers will, more often than not, easily give their enthusiastic support to the winning party candidate. Following almost immediately after the procession gospel, we will hear the story of how quickly the people, including the Lord's own disciples, forget their “Hosannas” and instead deny or abandon Jesus or even get caught up in the fervor of “Crucify him.” Obviously this quick change of heart, even among his own disciples, had an impact on the writers of the early Church.
Story: Once upon a time, not so very long ago, a sixth grade social studies teacher in a suburban school district, decided to have her student engage in an election procedure, hoping to teach them something about the democratic process. The students were a very enthusiastic group and got into the whole process. Though the school was known for the highly competitive nature of the parents, especially in regards to their children's academic achievements, the students elected the girl who happened to also be the smartest one in the class. All went well that year. The next year was a different story. By then the parental pressure for top grades, led some of the students to turn on their former president, spreading untrue stories about how she spent all her time studying (which wasn't true) and some of the boys began referring to her as “The Computer."







A Tear For Remembrance
(John Walsh)

However exemplary it may be to spend a year fasting on bread and water, or visit all the holy places in Jerusalem, St Augustine once said, it is still worth far more in the sight of God to shed a single tear in remembrance of the Passion of his Son, our Lord Jesus Christ. On the last night of his life on earth, Christ had celebrated the Passover meal with the Apostles, and at the end of it he established the Holy Eucharist as his most precious parting gift to them. Then all, with the exception of Judas, went down from the upper city area into the Kidron valley, past the southern end of the Temple enclosure, and along its eastern wall until they reached the Garden of Gethsemane near the foot of the Mount of Olives. It was a place where Jesus often went to pray, but this night's visit had a special urgency about it. Being in the full vigour of his manhood, he did not want to die when there was so much to be set right in the world, and he the only one to bring it about. But as against this he had to accept that he path of non-resistance to the powers of evil was the surest way of defeating them, and that God was asking him to go down that path. The terrible agony that acceptance of this would entail was clearly present in minutest detail to the mind of him who could see into the secret depths of the hearts of others.
For a while he pleaded with God to let this cup pass him by, but gradually he stifled this natural weakness within him to the point where he accepted the role of self-immolation with his plea to the Father, “Not my will but yours be done.” Being in such an agony as to cause him to sweat blood, he prayed the longer. Divine help in the form of an angel came to strengthen him, whereas the special three, chosen to be near him, Peter, James and John, had fallen asleep. “Rise up, let us go,” he told them, “my betrayer is near at hand.” But very soon all the disciples deserted him and fled away into the darkness, although Peter followed at a safe distance to see what the end would be. In the trial of Jesus that ensued, the Sanhedrin, or Supreme Court of the Jews, broke all its own laws. The trial should have been within the Temple precincts; it wasn't. The trial should not take place at night: it did. Witnesses” evidence should be in agreement; it wasn't. A whole night should elapse before a verdict of death was caried out. Christ was put to death on the very same day. When nothing concrete was issuing from the actual trial, the High Priest took matters into his own hands.
He asked a question that was completely forbidden by the law, which strictly required that no question be put to the accused that might make him incriminate himself. It was put in such a way that Christ was forced to answer. “I put you on oath by the living God,” Caiaphas said solemnly, “to tell us if you are the Christ, the Son of God.” Jesus replied without hesitation that he was. Then the High Priest tore his robes claiming that this was blasphemy, an insult against God that merited the death penalty, and they all agreed. This meeting, which began as a court of justice, now lost all semblance of legality. For it ended in a frenzy of venom and hatred, with these custodians of the law spitting upon the face of Jesus, blindfolding him, hitting him, and taunting him to say who hit him.
But there was one obstacle to be cleared. They might pronounce the death penalty, but only the Romans could carry it out, and Roman policy was not to become involved in religious quarrels. So the charge of blasphemy was changed to one of sedition, Jesus claiming to be king and discouraging payment of taxes to Caesar. Pilate knew full well that these were trumped up charges, but being scared at the possibility of violence by the mob he tried various means of escaping his dilemma. He tried to make Herod responsible for condemning Jesus, but failed. He offered them a choice between releasing Jesus and a notorious criminal Barabbas, but the mob chose Barabbas. He tried to arouse a spark of sympathy in them by having Jesus scourged and bringing him before them with a crown of thorns on his head and a purple robe thrown round him. But the thirst for blood of those present would not be denied. So Pilate, whose responsibility it was to dispense Roman justice, after the futile gesture of washing his hands, delivered Jesus to be crucified. The crucifixion of Christ was to be thereafter a stumbling block to the Jews, to the gentiles foolishness. But the only person to openly admit Christ's true identity in what took place on Calvary was a gentile, the Roman centurion in charge of the soldiers present. “Truly this man was the Son of God."







Colours of Your Life
(Martin Hogan)

If we were to think of the journey of our lives in terms of colour we would probably find that we would need many different colours to depict that journey. The colour yellow might come to mind to describe those moments of great light when all seemed well and we could see clearly. We might term these our transfiguration moments. We might use the colour red to depict those times when we gave of ourselves in love to serve others in some generous way. This could be termed our last supper moments, remembering that it was at the last supper that Jesus washed the feet of his disciples. We might use the colour green to depict those experiences of newness and freshness, those times when we begin some project or other with fresh enthusiasm and dynamism. These might be described as our Easter moments. We might use the colour orange to depict those moments when we experienced the warmth of love, in particular the warmth of God's love renewing and restoring us. We might think of these times as Pentecost moments in memory of the day when the disciples experienced the coming of the Spirit of God's love in the form of tongues of fire.
Undoubtedly, we would also find ourselves reaching for the darker colours on our pallet from time to time. We might even find it necessary to dip our brush into the black paint occasionally. We would need that colour to depict those dark experiences that are an inevitable part of all our lives. These will be the times when we suffered in some deep way. The suffering may have been physical or emotional or spiritual, or a combination of all three. We might think of those times when we felt extremely lonely, or when we had to endure some major disappointment, or those times when we were unfairly treated or unjustly deprived of our good name, when something was done to us by another that left us feeling diminished. We might also think of times of great loss, when we had to let go of someone whom we loved deeply, because they went on a journey away from us. The greatest loss of all is when our loved ones go on that final journey from this life to the next. When we look back on all these moments in our lives, we remember them as traumatic, as deeply painful and very draining. These might be termed our Good Friday moments.
We have just read Mark's passion narrative, in which the evangelist tells the story of Jesus' Good Friday moment. Each of the four evangelists tells this story, but Mark's account is the darkest of all four. The account of John, which we read every Good Friday, has the most light in it, and in between Mark and John stand the accounts of Matthew and Luke, with Matthew a little less darker than Mark and Luke a little less darker again than Matthew. Mark depicts this experience of Jesus in very dark colours indeed. The three disciples who were closest to Jesus fall asleep in the garden; he is betrayed by Judas, one of the twelve, denied by Peter, the leader of the twelve, deserted by all his disciples at the moment of his arrest, falsely accused before the Jewish Sanhedrin, handed over to be crucified by a governor who surrendered his authority to the mob, jeered and mobbed as he hung dying on a cross, and with his last words crying out to God in deep desolation. From the moment Jesus shares his last supper with his disciples until the moment of his death the story as Mark tells it seems to have no redeeming feature. Apart from Jesus, everyone in the story is deeply flawed. Jesus goes to his death surrounded by the worst instincts of human nature, let down and abused by deeply flawed human beings.
Yet, in the midst of all this terrible darkness, the evangelist knows that there is a light for those with eyes to see it, the light of God's love, the light of God's presence. In the story as Mark tells it, a pagan recognizes this light at the very moment when Jesus dies. The Roman centurion declares, “Truly, this man was the Son of God.” He recognized the light of God's presence at the heart of all this darkness. This pagan had eyes to see the deeper meaning of these ugly and painful events. God was indeed working powerfully through the awfulness of Golgotha, bringing good out of evil, new life out of death, transforming a story of human sin and pain into a story of redemption. The evangelist is saying to all his readers, to us, that God is at the heart of all our own darkness. God is present in all of our Good Fridays, working in the same life-giving way as he did on that first Good Friday. God is not absent from our darkest moments, even from those moments when we find ourselves crying out, “My God, my God, why have your forsaken me?” Even though there may be darkness over the whole land, over our own personal world, the light that darkness cannot overcome continues to shine, the light of God's life-giving presence. We might pray on this Palm Sunday for the eyes of the centurion so that we too may recognize and worship the Lord present with us even in our darkest moments. “Even though I walk through the valley of darkness, you are there with your crook and your staff. With these, you give me comfort."







Would We Have Stayed?
(Jack McArdle)

Theme: We have been preparing for this gospel for some weeks now. Mark's account contains many simple details, but the highlight must surely be the recognition of the soldier who, after watching things unfold, struck his breast and muttered “Truly this was the Son of God."
Parable: Some years ago I had the privilege of attending the world renowned Passion Play in Oberammergau, which is performed every ten years. It was a wonderful experience, and it was as near as I could ever hope to capturing the atmosphere of that original Good Friday. What struck me most about it was that, while being an extraordinary spectacle, it retained a profound reverence, and was much more touching than entertaining. Just as every person in the town had a part in the play, all of human life was there and, for me, as an onlooker, I was very soon absorbed into the midst of the emotions, the actions, and the spirit of what was going on. And yet this was but an attempt to portray the original. It required Jesus himself to be there before any one of us would have cried out, “Indeed this man is the Son of God."
Teaching: Today's gospel presents us with pen-pictures of many personalities. We have the woman who anointed his feet in love, Judas who betrayed him with greed, Peter who denied him with fear, and Pilate who condemned him to please the crowd. We have Simon of Cyrene who helped him carry his cross, and Joseph of Arimathea who provided him with a tomb. Jesus' mother and Mary Magdalene are never very far away. It was a time of challenge, a time that separated the chaff from the wheat, that showed very clearly who was for him, and who was against him. As a child I always believed that I would have stayed by his side at all times but, with the unfolding of the realities of life, I can no longer claim such loyalty.
There are layers of personalities within this story. There are those who scoffed, those who plotted, those who carried out the crucifixion and, of course, there were the onlookers, who didn't care too much, one way or another. I myself must involve myself directly in this story. I can never be an onlooker, when it is my salvation that is at stake. If the gospel is now, and I am every person in the gospel, then it might surprise me to discover that I can have some personal identification with everybody in the story.
In most new churches today, there are fifteen stations of the cross. The fourteenth used be the last one, when Jesus was laid in the tomb. Today we have a fifteenth station, showing the empty tomb. If the story ended with the burial, it would be a total failure. Of course, we still have to go through the ceremonies of Holy Thursday and Good Friday but, as Christians, we do so with the sure and certain hope of resurrection. It is good to dwell on today's gospel, right out to the burial in the tomb provided by Joseph, but, in the back of our minds, we realise we are actually celebrating. Because we know the outcome, we can actually celebrate Good Friday. Part of our celebration, of course, is our declared willingness to be part of the story, to share in the cross and the crown.
Response: In our hearts we all admire people of action, when it comes to doing good. The woman in today's gospel washed his feet, and poured precious oil over them, while those who stood around complained about the waste, and all the other good causes that could be helped by that oil. It is better to light a candle than curse the darkness. To really listen to the gospel is to hear a call to action. My response to the gospel is not some sort of mental assent, which I may confuse with faith. My faith is in my feet, and I exercise my faith when I step out, and take action.
It is interesting that, while the other apostles kept falling asleep, Judas was the one who was fully awake. “The children of this world are more astute in their ways than the children of light.” Serving Jesus, being faithful to him, taking him seriously, does not give the same returns in earthly goods and pleasures, and, therefore, on a human level, is not so attractive. Such service comes out of love, gratitude, and a sense of privilege in being able to make some return for the love that is lavished on me. The selfish mind wonders what's in it for me. The generous and grateful heart asks, “What can I do for my God who has done so much for me?'
Jesus came that we should have life, and have it more abundantly. Part of the paradox is that he had to die, because “it's in dying that we're born to eternal life.” Through his death we are saved. It was important that he obtains victory over death. From the time of Adam and Eve, death was seen as a punishment. Now Jesus was going to reverse all that. “Death where is your victory? Oh death, where is your sting?” That is why Passion Sunday is also Palm Sunday. Palms are the symbols of victory and, before reading the Passion, we are all handed a palm to hold in our hand. For us, now, death is the gateway to eternal life. Death is the Red Sea, through which we must pass to enter into the Promised Land. Jesus has led the way, and he bids us follow. “They who follow me will have the light of life, and will not walk in darkness."
Practical: During the coming week we will have our Easter ceremonies. I must confess that, in my younger days, I never liked the Holy Week ceremonies, because they were very long, and being in Latin didn't help. Nowadays I consider them to be beautiful, meaningful, and moving. A lot depends, of course, on the effort put into the ceremonies; but, generally, I find that they are well done. It is important to take them seriously, and to enter into the spirit of the ceremonies. I always notice some people who come early to read through the booklet, to get a seat with a good view of what's going on, and to prepare their hearts for what is coming. I strongly recommend this practice.
If you have a copy of the gospels, could I suggest some reading for the week? If you begin at John, chapter 13, and continue, when you get a moment here and there, to read on to the end of chapter 19. Chapter 20 is about the resurrection, if you wish to continue reading. These chapters are replete with teachings, insights, and food for reflection and for prayer. It would be a wonderful way to celebrate Holy Week in your own way.
Have you noticed, in recent times, how the cross has become an ornament of gold, on a gold chain, complete with gold earrings? I can buy crosses made of bronze, glass, silver, turquoise, leather, or even seashells. There seems to be greater stress on the ornamental value, than on something that reminds us of Jesus, and the sacrifice he made for us. More ornament than sacramental. It is not for me to judge others, but it is reasonable to expect that a Christian home should have a realistic wooden PASSION SUNDAY 65 cross in a place of prominence. As I enter a Jewish home I would expect to see a religious symbol to the side of the front door, which is either touched or kissed by those who enter and leave. It is not too much to ask that a Christian home should have a prominent Christian symbol. If this is not so, then this would be a good week in which to set that right.
Story: Two young men of Irish origins were together in Vietnam. One was called Manning, and the other was called Brennan, and both names are about as Irish as you could find. They were part of a platoon making their way through the jungle when, suddenly, Manning was sent flying into the bushes, as Brennan threw himself on the ground. There was a terrific explosion, as a landmine blew Brennan to bits, and Manning escaped without- a mark. Manning was deeply shocked, of course, but he was also profoundly overcome that his friend had sacrificed his own life for him. His right foot was just about to come down on the mine when Brennan spotted it, and dived. His intention was to get Manning out of the way, but it was impossible to do that without throwing himself in the line of fire.
When Manning returned to the US, he joined a branch of the Franciscans, called the Canons Regular. He took “Brennan” as his religious name, and for many years, books and tapes from Fr Brennan Manning TOR were to be found on the shelves of all religious bookstores. Some years after his ordination, he was visiting the mother of his friend Brennan, who was now quite old.
She was a quiet little woman, and constant prayer was her daily sustenance. By way of saying something, during a lull in their conversation, Manning turned to her and asked, “Do you think that he really loved me?” The quiet little woman sprang into life, was on her feet, and was pointing a finger into his face, as she spoke with a clear firm voice: “Don't ever ask me that question again. Of course he loved you. Didn't he die for you? What further proof could you possibly need?'
Back to top
View user's profile Send private message Visit poster's website AIM Address Yahoo Messenger MSN Messenger
Display posts from previous:   
Post new topic   Reply to topic    Suy Niệm Lời Chúa -> Chúa Nhật Lễ Lá Năm B All times are GMT - 8 Hours
Page 1 of 1

 
Jump to:  
You cannot post new topics in this forum
You cannot reply to topics in this forum
You cannot edit your posts in this forum
You cannot delete your posts in this forum
You cannot vote in polls in this forum


Suy Niệm Lời Chúa © 2004 - 2009. All Rights Reserved.