Lời Chúa là chính Chúa. Chúa Giêsu phán:"Ta là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6); nên lời Ngài chính là đường dẫn ta về quê trời, là sự thật duy nhất giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết, và là sự sống đem lại hạnh phúc thật hôm nay và mai sau. Suy Niệm Lời Chúa là tiếp xúc, là nghĩ, là sống và hành động theo lời Ngài; và qua đó sẽ cảm nghiệm Ngài thực là đường, là sự thật và là sự sống vĩnh cửu cho ta. |
|
5 tháng 7/2009: CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN NĂM B
BÀI ĐỌC I: Ed 2, 2-5
"Đây là nhà phản loạn, và họ sẽ biết rằng giữa họ vẫn có một tiên tri".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Trong những ngày ấy, sau khi nói với tôi, Thần Linh nhập vào tôi, và đỡ tôi đứng dậy. Tôi nghe Người nói với tôi rằng: "Hỡi con người, Ta sai ngươi đến với con cái Israel, đến với dân nổi loạn phản nghịch Ta, chúng và cha ông chúng vi phạm giao ước của Ta cho đến ngày nay. Ta sai ngươi đến để nói với những con cái dầy mặt cứng lòng rằng: 'Chúa là Thiên Chúa phán như vậy'. Hoặc chúng nghe, hoặc chúng không nghe, vì đây là bọn phản loạn, và chúng sẽ biết rằng giữa chúng có một tiên tri". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 122, 1-2a. 2bcd. 3-4
Đáp: Mắt chúng con nhìn vào Chúa, cho tới khi Người thương xót chúng con (c. 2cd).
Xướng: 1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa, Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ, nhìn vào tay các vị chủ ông. - Đáp.
2) Như mắt của những người tỳ nữ, nhìn vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa, là Thiên Chúa của chúng tôi như thế, cho tới khi Người thương xót chúng tôi. - Đáp.
3) Nguyện xót thương, lạy Chúa, nguyện xót thương, vì chúng con đã bị khinh dể ê chề quá đỗi! Linh hồn chúng con thật là no ngấy lời chê cười của tụi giàu sang, nỗi miệt thị của lũ kiêu căng. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: 2 Cr 12, 7-10
"Tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ngự trong tôi".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, để những mạc khải cao siêu không làm cho tôi tự cao tự đại, thì một cái dằm đâm vào thịt tôi, một thần sứ của Satan vả mặt tôi. Vì thế đã ba lần tôi van nài Chúa, để nó rời khỏi tôi. Nhưng Người phán với tôi rằng: "Ơn Ta đủ cho ngươi, vì sức mạnh của Ta được tỏ bày trong sự yếu đuối". Vậy tôi rất vui sướng khoe mình về những sự yếu hèn của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ngự trong tôi. Vì thế, tôi vui thoả trong sự yếu hèn của tôi, trong sự lăng nhục, quẫn bách, bắt bớ và khốn khó vì Đức Kitô: vì khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ. Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: 1 Pr 1, 25
Alleluia, alleluia! - Lời Chúa tồn tại muôn đời, đó là lời Tin Mừng đã rao giảng cho anh em. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 6, 1-6
"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Đến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người. Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy. Đó là lời Chúa.

Thánh Joan Vianey: Cha Sở Họ Ars
Gương mẫu các Linh Mục trong Năm Linh Mục
SUY NIỆM TIN MỪNG
KIÊU CĂNG VÀ KHIÊM NHƯỜNG
Những thắc mắc của những người đồng hương với Chúa Giêsu: "Sao ông ta có thể khôn ngoan và làm được những phép lạ cả thể như vậy?" biểu lộ sự ngạc nhiên về một người từ một gia đình tầm thường mà họ thường gặp. Nhưng Phúc âm lại kết luận: Và họ vấp phạm về Ngài! khiến Chúa Giêsu đã lên tiếng: Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương xứ sở mình! Hành động của họ biểu lộ một tính xấu rất thông thường tận thâm tâm con người: đó là tính kiêu căng.
Kiêu căng vừa là tính xấu nhất phá đổ hạnh phúc nhân loại và vừa là cội rễ tiêu diệt các nhân đức và Nước Thiên Chúa. Từ đầu Khởi Nguyên, Satan vì kiêu căng đã bị Chúa đày xuống hỏa ngục. Tổ tông loài người vì muốn hiểu biết bằng Thiên Chúa, nghe theo cám dỗ của Satan, nên đã chịu hình phạt đau khổ và chết chóc hiện nay. Bất cứ nơi nào có sự hiện diện của kiêu căng, thì ở đấy có chia rẽ, hận thù! Quỷ dữ dùng chính con người làm khổ con người khi kích thích tính kiêu căng trong lòng họ để khoe khoang, để chiếm đoạt và tiêu diệt. Những người đồng hương với Chúa Giêsu, vì kiêu căng, nên đã không thể chấp nhận được sự khôn ngoan rao giảng, và khả năng làm phép lạ chữa lành của Người! Kiêu căng đã che mắt không cho họ thấy được bản tính và vinh quang Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô.
Thay thế cho kiêu căng chính là đức Khiêm Nhường. Khiêm nhường thật là một hành trình dài phấn đấu với chính mình, với thế gian và với ma quỷ. Phấn đấu với chính mình để nhận ra những yếu đuối của mình, giúp mình biết cậy trông vào Chúa và luôn hướng về điều thiện. Từ nhận thức yếu đuối, sẽ dễ cảm thông, chia sẻ, chấp nhận và giúp đỡ tha nhân, nhất là luôn biết sám hối và thờ phượng tạ ơn Chúa. Phấn đấu với thế gian để loại trừ những thói xấu lẫn trong các việc đạo đức thường tạo ra những vinh quang giả do ảo tưởng tự tạo gây ra. Và phấn đấu với ma quỷ để luôn biết canh chừng không tiếp tay với chúng phá hoại nước Thiên Chúa.
Những ai khiêm nhường thật thường có sự an bình nội tâm, có tâm tình sẵn sàng vâng nghe và thực hành Lời Chúa và các giáo huấn của giáo hội; luôn biết tự trọng chính đáng, nghĩa là biết nhận chân những giá trị mình có, không khoe khoang thêm bớt sự thật và các thực tại nơi mình. Người khiêm nhường do đó không độc tài trong các quyết định, nhưng dễ cộng tác với tha nhân trong các công cuộc xây dựng cũng như tạo sự hài hòa giữa các bất đồng trong mọi hoàn cảnh sống. Nhờ sống khiêm nhường, họ sẽ được Chúa thương yêu và tha nhân kính trọng. Họ sẽ trở thành những sứ giả của tình thương và hòa bình. Thiên Chúa sẽ thực hiện những điều cao cả nơi những ai khiêm nhường. (Kinh Magnificat)
Lm. Raphael Xuân Nguyên |
THẾ ĐỨNG CỦA TRIẾT VIỆT
9. NGHỆ THUẬT ĐÚC TƯỢNG
Trong huyền thoại của Trung Hoa cổ đại hay nói đến việc đúc, coi đó là việc rất quan trọng: đúc trống, đúc kiếm, đúc đỉnh v.v… mỗi việc đều kèm theo nghi lễ rềnh rang. Thí dụ trước khi đúc gươm phải tìm thứ kim khí xứng hợp là trống mái. Muốn biết thứ nào là trống hay mái, người ta nấu chảy kim khí rồi đổ xuống, nếu lõm (ao) thì là âm, nếu lồi (đột) thì là dương. Có những trường hợp lò bể phải được kéo bởi 300 cô gái tơ, hoặc như đôi kiếm Mạc Da đúc mãi không xuôi, sau biết được cần phải có người hy sinh, nên vợ nhảy vào lò nấu kim khí rồi chồng mới đúc được đôi kiếm quý giá để đời.
Sau này không đi đến cùng cực như vậy thì người ta thay vào bằng cắt móng tay và tóc để “hy sinh”, nhờ vậy đồ đúc ra mang đầy tính chất linh thiêng: đôi kiếm có thể bay đi, nếu để mỗi nơi một thì có thể tìm đến nhau. Đỉnh cũng vậy, có thể tự ý ra đi hoặc trở nên nặng nhẹ tuỳ theo người chủ có đức nhiều hay ít. Đỉnh còn đức tính nấu đồ ăn mà không cần lửa v.v… Mấy điểm truyền thuyết trên đây chứng tỏ sự quan trọng được gán cho việc đúc.
Vì là việc quan trọng coi như việc sáng chế quý giá nên tất nhiên được nhiều người nhận công. Đó là Hoàng Đế và Li Vưu. Về ngành Hoàng Đế thì đi vào những điều bí mật với các tin tưởng như vừa kể trên, kiêm luôn cả việc luyện thuốc trường sinh. Còn ngành Li Vưu của Việt tộc thì đi vào con người tâm linh nên việc đúc được trừu tượng hóa để thể hiện vào tên gọi của nước mà rõ nhất là Giao Chỉ. Theo nghĩa cùng tột thì đó là chỉ trời chỉ đất giao nhau, nói kiểu cơ cấu đã bình dân đến cùng cực là “vài ba”. Vài là hai đất phải giao thoa với ba trời.
Khi sách “Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền” nói “vua Kinh Dương đóng đô ở xứ Nghệ” thì cũng là diễn tả theo ý đó, vì ý nghĩa thông thường của chữ nghệ đơn là cai trị khéo léo, còn nghĩa chính là xếp đặt. Vậy sự xếp đặt cùng tột là biết xếp trời vào chỗ trời, đất vào vị trị của đất thì lúc ấy vạn vật mới được nho thỏa hạnh phúc. Vì thế nói xứ Nghệ, nằm về phía Hoan Châu, có nghĩa là hoan lạc an vui như hậu quả của xứ Nghệ. Sau Nho giáo đã công thức hóa thành câu: “Chí trung hòa thiên địa vị yên, vạn vật dục yên”. Đạt đợt chí trung hòa thì trời đất đặt vào đúng vị, nhờ đó vạn vật được nảy sinh đầy đủ. Như vậy hạnh phúc của con người nằm trong chữ nghệ: tức biết đặt trời đất vào đúng vị trí. Đọc lướt qua ta không ngờ đó là câu nói khó vô biên, loài người đã tiến rất cao trong khoa học, nhưng việc xếp đặt trời đất chưa sao thành công, nếu không xếp tất cả vào cho trời kiểu Hoàng Lão khi đúc gươm như đã nói trên, thì lại xếp đất trên trời kiểu duy vật: hạ tầng kinh tế chỉ huy thượng tầng văn hóa: rõ ràng là đất đặt trên đầu rồi đó. Hậu quả là vạn vật bất dục yên. Đói dài.
Muốn được an lạc thì phải sống đúng điệu nghệ như Kinh Dương Vương là phải đi một đường xả gọi là tống cựu nghênh tân mà huyền sử nước ta chỉ bằng ba vĩ tích của Lạc Long Quân: diệt hồ tinh, ngư tinh, mộc tinh. Có vậy Hùng Vương mới lập nổi nước Văn Lang. Chữ Văn Lang chính là chữ Nghệ thêm bộ đầu, tức nội chất cũng là những cuộc đúc: đúc trời với đất nhưng đã được bình dân hóa nên gọi là bánh trời bánh chưng, hoặc truyện trầu cau trong đó đá vôi tượng đất, cây cau tượng trời, còn người được chỉ bằng cây trầu quấn quýt cả hai lại. Vì thế có bản nói vợ Tân Lang tên là Liên. Đó chỉ là tên huyền sử với ý nghĩa người là mối liên hệ giữa trời cùng đất, biểu lộ ra trong màu đỏ của miếng trầu nhai trong miệng. Được như vậy thì tình người đỏ thắm tức được hạnh phúc đỏ tươi. Đó không còn là hôn phối mà là linh phối. Cũng phải nói như thế về cặp Tiên Dung Đồng Tử cũng là linh phối vì nó vượt ra ngoài mọi ràng buộc hàng ngang xã hội như môn đăng hộ đối, vượt cả quyền quyết định của vua cha. Ở đây Tiên Dung xã hết, Chữ Đồng Tử cũng xả tận cùng biểu thị bằng cái khố cũng không còn, nhờ tác động xả tận cùng như vậy mà đôi uyên ương ấy đã lên tiên, sống mãi với non sông đất nước, nước của tiên rồng. Đó là cuộc linh phối sơ nguyên khai sinh ra nước Văn Lang: bên tiên bên rồng, bên trời bên nước, bên núi bên sông, tuy khác biệt mà vẫn gặp nhau trong cánh đồng Tương: và đẻ ra cả một trăm con mà con nào con nấy đều phương trưởng: tức đều được sống trong hạnh phúc an lạc không ai bị làm nô lệ.
Tóm lại tên nứơc Văn Lang hay Giao Chỉ đều có ý nói lên cuộc đúc trời với đất mà nghĩa cụ thể là “vi nhân” là đúc nên con người, con người phải tham dự vào việc đúc đó, phải tự làm nên chính mình, nên có thể nói bản tính con người đến sau con người tức con người mới sinh ra là thằng người sinh lý, nó phải đúc vào cái khuôn nào đó thì mới thực có bản tính người. Nói khác muốn ra người thì phải đổ vào khuôn nhân, còn đổ vào khuôn trời hay khuôn đất đều là vong thân. Sau đây là câu truyện cổ muốn nói lên điều đó: truyện ông Đông mà đúc trống đồng.
Oâng Đổng cũng như ông Đùng, ông Tứ Tượng là một trong các ông khổng lồ Việt tộc, trông coi về nghề đúc, nên được các người làm nghề đúc thờ như thánh tổ.
Xưa có người thợ đúc đi rao: ai muốn đúc nồi, niêu xoong chảo ông đều làm đượcvà rất tinh tế: nên rất đắt hàng, nhờ vậy ông có dịp đi hết nơi này đến nơi kia. Ngày nọ ông ta gặp một chàng trai cũng quảy đồ đúc như ông. Chàng ta vái chào cung kính và xin theo ông để học nghề nói rằng mình đang học dở dang với một thầy mà không may nửa đường lạc mất. Sau nhiều lần từ chối ông ta đành nhận chàng trai nọ làm học trò, rồi giồn hai gánh lại một cho anh ta gánh. Đi được ít lâu thì có người gọi đúc nồi. Trong khi đúc ông ta nhận ra chàng thanh niên nọ còn ngù ngờ lắm chưa tỏ một dấu gì gọi được là đã khởi đầu học đúc, ông ta mắng mỏ nặng lời cho là đồ ăn hại. Chàng trai trả lời:
- Thưa thầy, lối đúc của thầy cũ tôi khác lắm, không những cách thức đúc mà cả đối tượng: tức thầy cũ tôi không đúc đồ vật mà chỉ đúc người, đúc già thành trẻ, xấu thành đẹp, gái thành trai, muốn sao được vậy.
- Ủa mà nói chi lạ. Tao chưa hề nghe thấy thế bao giờ.
- Thưa thầy cái đó khó mà dễ, dễ là nhờ cái khuôn này.
Nói rồi giở khuôn ra cho coi, và nói thêm là đúc dễ mà tiền kiếm được lại nhiều. Thầy đúc nổi được có dăm quan chứ thầy cũ tôi mỗi chuyến kiềm vài ba trăm quan là thường.
Người thợ đúc rất ngạc nhiên cật vấn cẩn thẩn và nói nếu anh cam đoan làm đựơc như vậy thì ra hàng coi thử. Thế là anh chàng bắt đâu rao: ai có đúc người chăng, bảy mươi đúc thành mười tám, xấu đúc thành đẹp, gái thành trai… Chỉ một lúc sau có người mời vào nhà và hỏi cặn kẽ rồi bắt dầu làm giấy cam đoan, nếu chết người thì phải đền mạng. Giấy tờ ký đâu đấy rồi anh chàng đòi chủ nhà liệu cho 20 sảo than, một cái nồi 30 và dọn cho một căn phòng kín không ai được ròm ngó tới cả. Sau đó chủ nhà dẫn ông già 70 lên, anh liền đánh nhẹ vào hiểm huyệt, ông chết liền, đưa xác bỏ vào nồi nấu liền ba ngày ba đêm cho tan ra nước rồi lấy nước đó đổ vào khuôn đã tô đi nặn lại rất kỹ. Làm đến đâu đều chỉ vẽ cẩn thận cho thầy mới xem. Làm xong để ba ngày ba đêm cho đông lại anh mới khoan thai tháo khuôn ra: quả nhiên một người bắt đầu cọ quạy, rồi dần dần ngồi lên, mặt mũi còn phảng phất ông già nhưng má hóp thành đầy đặn, tóc bạc thành đen nhánh trông như trai 18 tuổi vậy. Oâng thầy thở phào hết hồi hộp lo âu. Khi chủ nhà nhận thấy quả được như đã giao hẹn liền trả đủ 150 quan tiền đã đoan ước, tiếp đãi cơm nước tưng bừng. Hai thầy trò chia tiền mỗi người một nửa rồi tiếp tục đi hành nghề.
Đi chẳng mấy lúc đã có người xin đúc lại cho bà vợ lưng gù răng rụng hết. Lần này ông thầy dành lấy làm tất cả, và sau sáu ngày mở khuôn ra thì quả là một cô gái đang mơn mở cái xuân xanh. Rồi cũng nhận tiền, và chia như trước. Đoạn tiếp tục ra đi và rao hàng. Trong khi đó ông thầy nghĩ thầm việc chẳng khó chút nào tất cả đều ở cái khuôn này, nắm được cái khuôn là xong tất cả cần chi đến anh chàng nọ, nghĩ mãi đâm ra lòng tham muốn chiếm đoạt. Khi đến một làng kia ông ta liền tri hô rằng chàng trai ăn cắp tiền của ông. Đến khi cảnh sát khám ruột tượng chàng trai thì quả nhiên gặp thấy tiền của ông ta đã ghi số đàng hoàng mà nó lẻn vào dây lưng của chàng trai lúc nào không ai biết. Thế là chàng trai bị tù; ông ta một mình đúc và được mời đúc một cụ già 80 tuổi. Oâng ta cũng làm như lần trước: đánh chết cụ già, bỏ vào nồi hầm ba ngày ba đêm rồi đổ khuôn, rồi chờ ba ngày ba đêm nữa, nhưng đến lúc mở ra chỉ thấy nước đã có mùi, chủ nhà chờ quá hạn phá cửa vào, ông ta xin khất ba ngày nữa, nhưng sau ba ngày chỉ thối thêm. Thế là ông ta bị đánh túi bụi rồi theo tờ cam kết thì đóng gông chờ giải huyện. Trong khi đi đường ông ta nhận ra mình bị trừng phạt vì lòng tham lam gian xảo của mình, nên hết lòng hối hận và cầu khẩn cùng đức Thánh tổ nghề đúc. Đến ngày bị điệu lên huyện, lính ghé vào quán giải khát, ông thấy người “học trò” đang ung dung ngồi uống nước, ông ta liền hiểu rõ và vội vàng cầu xin khấn lạy như tế sao, miệng luôn luôn kêu xin tha thứ.
Người “học trò” liền nói chính ta đây là thánh tổ của các thợ đúc: không ngờ lòng các người nham hiểm đến như vậy. Lẽ ra ta còn phạt cho cân xứng, nhưng nay đã biết hối hận thì ta tha cho. Các người phải lo bảo nhau: đã đi làm cái nghề này của ta thì không được dối trá lừa gạt người khác, dù có nghèo khổ tới đâu cũng phải cho trong sạch, nói rồi biến mất. Cùng lúc có người nhà đến nói thôi đừng giải ngừơi ta nữa, bố tôi đã sống lại, hiện đang cựa quạy trong khuôn.
Câu truyện trên muốn nói lên rằng đúc đỉnh, đúc gươm, đúc trống tàng ẩn ý đúc người. Muốn đúc ra người mới tốt đẹp đúng cỡ nhân linh thì phải xả bỏ người cũ. “Vi nhân” là thế.
Tác giả Kim Định
ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ 16 GIẢI THÍCH Ý NGHĨA NĂM LINH MỤC

VATICAN - Trong buổi tiếp kiến chung 30 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư, 24-6-2009, ĐTC Biển Đức 16 đã giải thích về ý nghĩa năm Linh Mục.
Trong số các tín hữu hiện diện đặc biệt cũng có phái đoàn hành hương 55 người thuộc Giáo Xứ Việt Nam ở Paris, thủ đô Pháp, do Cha Giuse Trần Anh Dũng hướng dẫn.
Trong bài huấn dụ tại buổi tiếp kiến, ĐTC tạm ngưng loạt bài về các giáo phụ và các học giả Kitô giáo, để quảng diễn ý nghĩa về Năm Linh Mục ngài mới khai mạc hôm 19-6-2009 vừa qua. Ngài nói tóm tắt như sau:
"Thứ sáu vừa qua, lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, một ngày theo truyền thống vẫn được dành để cầu nguyện cho sự thánh hóa các linh mục, đã đánh dấu khởi đầu Năm Linh Mục, kỷ niệm 150 năm qua đời của thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, bổn mạng các cha sở. Năm Thánh Phaolô sắp kết thúc và năm Linh Mục hiện nay mời gọi chúng ta hãy để ý xem Thánh Phaolô Tông Đồ và cha sở khiên hạ của giáo xứ Ars đã hoàn đồng hóa với sứ của các vị thế nào, bằng cách cố gắng sống trong sự hiệp thông liên lỷ với Chúa Kitô. Ước gì Năm Linh Mục này giúp tất cả các linh mục tăng trưởng, tiến tới sự trọn lành thiêng liêng vốn là điều thiết yếu để sứ vụ của các vị được hữu hiệu và giúp các tín hữu ngày càng quí chuộng hoàn toàn hồng ân cao cả của chức linh mục: đối với chính các LM, Giáo Hội và cho thế giới chúng ta. Được trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô trong bí tích truyền chức Thánh, LM được mời gọi trở thành Alter Christus, Chúa Kitô thứ hai. Vì thế, sự kết hiệp bản thân với Chúa phải thống nhất mọi khía cảnh của đời sống và hoạt động linh mục. Trong năm Linh Mục này, chúng ta hãy phó thác tất cả các LM cho Mẹ Maria, là Mẹ Giáo Hội và cầu nguyện để các Linh Mục được tăng trưởng trong lòng trung thành với sứ vụ trở thành những dấu chỉ sống động về sự hiện diện và lòng từ bi vô biên của Chúa Kitô".
THÁNH GIOAN PHAOLÔ VÀ VIANEY
Trước khi tóm lược bài huấn giáo bằng các thứ tiếng khác nhau, ĐTC đã diễn giải bằng tiếng Ý với nhiều chi tiết hơn về Năm Linh Mục và về chính ý nghĩa của Linh mục.
Trước tiên, ngài ghi nhận 2 thánh Phaolô và Vianney rất khác biệt nhau về cuộc sống: một vị đi từ miền này sang miền khác để loan báo Tin Mừng, vị khác đón tiếp hàng ngàn tín hữu và ở lại trong giáo xứ bé nhỏ của ngài. Tuy nhiên có một cái gì cơ bản làm cho hai vị giống nhau, đó là sự hoàn toàn đồng hóa của hai vị với sứ vụ của mình, sự hiệp thông của các ngài với Chúa Kitô, đến độ thánh Phaolô có thể nói: ”Tôi đã bị đóng đinh với Chúa Kitô. Không còn là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi” (Galát 2,20). Và thánh Gioan Maria Vianney ưa lập lại rằng: ”Giả sử chúng ta có đức tin, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa ẩn náu trong linh mục như ánh sáng đàng sau tấm kiếng, như rượu được hòa với nước”... Hiển nhiên điều kiện lịch sử và xã hội thời thánh cha sở họ Ars đã thay đổi, và chúng ta có lý để tự hỏi các LM ngày nay có thể bắt chước thánh nhân thế nào trong sự đồng hóa với sứ vụ qua những hoàn cảnh xã hội hoàn cầu hóa ngày nay. Trong một thế giới trong đó quan niệm chung về cuộc sống ngày càng bớt phần thánh thiêng, và thay vào đó, chức năng trở thành tiêu chuẩn duy nhất có tính chất quyết định, quan niệm của Công Giáo và chức LM có nguy cơ bị mất đặc tính tự nhiên, đôi khi cả trong ý thức giữa lòng Giáo Hội nữa. Nhiều khi, trong các giới thần học, cũng như trong việc thực hành mục vụ và huấn luyện giáo sĩ, người ta đặt hai quan niệm về chức LM đối nghịch nhau. Cách đây vài năm tôi đã nhận xét: một bên là những ngừơi quan niệm về chức LM theo khía cạnh chức năng xã hội và định nghĩa yếu tính của chức LM bằng ý niệm phục vụ: phục vụ cộng đoàn, chu toàn một chức năng, bên kia là quan niệm có tính chất bí tích và thực thể, không chối bỏ tính chất phục vụ của chức linh mục, nhưng coi chức này ăn rễ nơi chính yếu tính của thừa tác viên và đây là điều được xác định do một hồng ân Chúa ban qua trung gian của Giáo Hội (J. Ratzinger, Minestero e vita del Sacerdote, in: Elementi di Teologia fondamentale. Saggio su fede e ministero, Brescia 2005, p 165).
ĐTC cũng giải thích thế nào là rao giảng Tin Mừng đối với linh mục, và thế nào là chỗ đứng ưu tiên của việc rao giảng? Ngài nhấn mạnh rằng việc rao giảng ở đây không phải chỉ là công bố lời nói, nhưng là công bố Lời Chúa, và việc rao giảng này đồng hóa với chính con người của Chúa Kitô, tự bản chất Người cởi mở đối với quan hệ với Chúa Cha và vâng phục thánh ý Cha. Vì thế, một việc phục vụ đích thực dành cho Lời Chúa đòi Linh mục phải hướng tới sự từ bỏ mình, đến độ có thể nói như thánh Tông Đồ: ”Không còn là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. LM không thể coi mình là chủ nhân ông của lời Chúa, nhưng là tôi tớ của Lời Chúa. LM không phải là lời Chúa, nhưng phải công bố Lời Chúa như Gioan Tây Giả là tiếng nói của Lời Chúa, ”Tiếng nói kêu trong hoang địa: hãy dọn đường cho Chúa, hãy uốn thẳng đường” (Mc 1,3).
Vì thế, trở thành tiếng của Lời Chúa, không phải chỉ là một khía cạnh chức năng của linh mục, trái lại đòi LM phải ”tiêu hao” bản thân trong Chúa Kitô, tham dự vào mầu nhiệm chết đi và sống lại của Chúa với tất cả con người của mình: trí khôn, tự do, ý chí, dâng hiến thân mình như lễ hy sinh sống động (Rm 12,1-2). Chỉ nhờ sự tham dự vào hy tế của Chúa Kitô, việc rao giảng của LM mới có tính chất chân thực.
Với đông đảo tín hữu hành hương nói tiếng Ý, ĐTC chào thăm các bạn trẻ, các bệnh nhân và các đôi vợ chồng mới cưới. Ngài nói: Hôm nay chúng ta mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, được Thiên Chúa sai đến để làm chứng cho ánh sáng và chuẩn bị cho Chúa một dân tộc sẵn sàng. Hỡi những người trẻ, Cha cầu chúc các con tìm trong tình bạn với Chúa Giêsu sức mạnh cần thiết để luôn xứng đáng với những trách nhiệm đang chờ đợi các con. Hỡi anh chị em bệnh nhân, tôi khuyên nhủ anh chị em hãy coi những đau khổ và thử thách hằng ngày như một cơ hội Chúa ban để cộng tác vào việc cứu độ các linh hồn. Và hỡi các đôi vợ chồng mới cưới, tôi mời gọi anh chị em hãy biểu lộ tình yêu của Chúa qua sự trung thành với nhau và quảng đại đón nhận sự sống.
Trước đó, ĐTC đã nồng nhiệt chào thăm phái đoàn do Phó tổng thư ký LHQ quốc dẫn và là đại diện đặc biệt về các trẻ em trong tình trạng xung đột võ trang. Ngài nói: ”Tôi nồng nhiệt đánh giá cao sự dấn thân của Ông Phó Tổng thư ký và các cộng sự viên trong nỗ lực bảo vệ trẻ em nạn nhân của bạo lực và võ khí, tôi nghĩ tới tất cả các trẻ em trên thế giới, nhất là những em đang phải sợ hãi, chịu cảnh bị bỏ rơi, đói khổ, lạm dụng, bệnh tật, và chết chóc. Tôi gần gũi tất cả những nạn nhân nhỏ bé và nhớ đến các em trong kinh nguyện”.
LM Trần Đức Anh, OP |
|