Home | Forum | Calendar | Members | Register | Messages | Log in
Lời Chúa là chính Chúa.
Chúa Giêsu phán:"Ta là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6); nên lời Ngài chính là đường dẫn ta về quê trời, là sự thật duy nhất giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết, và là sự sống đem lại hạnh phúc thật hôm nay và mai sau. Suy Niệm Lời Chúa là tiếp xúc, là nghĩ, là sống và hành động theo lời Ngài; và qua đó sẽ cảm nghiệm Ngài thực là đường, là sự thật và là sự sống vĩnh cửu cho ta.

 Nội Dung 
  Suy Niệm
  Lịch Sinh Hoạt
 1/2009 - 1/2011
  Sinh Hoạt
 Sinh Hoạt Đoàn Thể
  Liên Lạc
 Ban Thường Vụ
  Giáo Lý Trẻ Em
 Hướng Dẫn Căn Bản
  Thánh Ca Vào Đời
 Lm Xuân Nguyên
 Lm. Duy Thiên
 Lm. Thành Tâm
 Lm. Đình Phúc
 Lm Tiến Linh
 Các Tác Giả Khác
  Nhạc Và Radio
 Nhạc Không Lời
 VN Single Albums
 Son of the Moon
 Nhạc Radio
  Những Trang Web Hay
 Tòa Thánh Vatican Roma
 Tòa Giám Mục GP Orange
 VietCatholic Net
 Người Tín Hữu
 St. Bonaventure Church
 Chi Dòng Đồng Công
 Simon Hòa Đà Lạt
 The New American Bible
 Fekix Just S.J.
 Mạng Lưới Dũng Lạc
 Kinh Thánh Tiếng Việt
 Việt Nam Thánh Ca
 Nhật Báo Người Việt
 Sài Gòn Báo
 Việt Báo Online
 Ca Dao Tục Ngữ VN
 Bài Nhạc Thánh Ca
 CĐCGVN Orange CA
 Radio VNCR.com
 Thánh Lễ - Lm Ng Lợi
 Diễn Đàn Mẫu Tâm
 Tổng Giáo Phận Hà Nội
 Bài Đọc bằng tiếng Anh
 Suy Niệm bằng Tiếng Anh
 Truyền Hình Công Giáo
 Nhà Sách Sông Hương
 GlobalVietMedia.net
 Hội Đồng Giám Mục VN
  Administrators
 Webmail

 Tân Tòng & Thêm Sức 
- Chương Trình Tổng Quát

- Quyển I

- Quyển II

- Quyển III




12 tháng 9/2010: CHÚA NHẬT 24 THƯƠNG NIÊN NĂM C


BÀI ĐỌC I: Xh 32, 7-11. 13-14
"Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người".

Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập". Chúa phán cùng Môsê: "Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại". Môsê van xin Chúa là Thiên Chúa của ông rằng: "Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: "Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời. Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi". Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 50, 3-4. 12-13. 17 và 19
Đáp: Tôi sẽ chỗi dậy và đi về cùng cha tôi (Lc 15, 18 ).

Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.
2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
3) Lạy Chúa, xin mở môi con, miệng con sẽ loan truyền lời ca khen. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát khiêm cung.

BÀI ĐỌC II: 1 Tm 1, 12-17
"Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian để cứu độ những người tội lỗi".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu.
Cha cảm tạ Đấng đã ban sức mạnh cho cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì Người đã kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ: dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đã được Thiên Chúa thương xót, vì cha vô tình làm những sự ấy trong lúc cha chưa tin. Nhưng ân sủng của Chúa chúng ta đã tràn lan dồi dào cùng với đức tin và đức mến trong Đức Giêsu Kitô. Lời nói chân thật và đáng tiếp nhận mọi đàng là: Đức Giêsu Kitô đã đến trong thế gian này để cứu độ những người tội lỗi, trong số ấy, cha là người thứ nhất. Vì thế, cha được hưởng nhờ ơn thương xót, là Đức Giêsu Kitô tỏ ra tất cả lòng khoan dung trong cha trước hết, để nêu gương cho những ai sẽ tin vào Người hầu được sống đời đời. Danh dự và vinh quang (xin dâng về) Thiên Chúa độc nhất, hằng sống, vô hình, là Vua muôn đời. Amen! Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Lc 15, 1-10 {hoặc 1-32}
"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng".Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!" Cũng vậy, Tôi bảo các ông: "Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải. "Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'. Cũng vậy, Tôi bảo các ông: Các Thiên Thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải". {Người lại phán rằng: "Người kia có hai con trai. Đứa em đến thưa cha rằng: 'Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con'. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó muốn hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha'. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình. "Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: 'Đó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ'. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: 'Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn, còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó'. "Nhưng người cha bảo: 'Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'".} Đó là lời Chúa.






SUY NIỆM TIN MỪNG
CHA YÊU VÀ CON LẠC


Đoạn Phúc âm hôm nay có ba câu truyện khác nhau, nhưng lại có một bố cục rất chặt chẽ, tất cả đưa về hình ảnh người tội lỗi trở về nhà Cha và do đó, mang lại một nỗi vui mừng khôn tả cho triều thần thiên quốc. Sự trở về của người tội lỗi nói lên một quá khứ vong thân, tương tự như hình ảnh một con chiên trong một trăm con bị thất lạc, hoặc một trong mười đồng bạc bị mất; và đặc biệt qua hình ảnh đặc thù của người con hoang trở về, thì cái quá khứ vong thân của người tội lỗi không chỉ tác động trên họ, mà đúng hơn tác động mạnh mẽ trong trái tim nhân từ người Cha, Người đã sinh ra, yêu thương, nuôi dưỡng và đang mong mỏi con trở về. Chính người Cha ấy đã bị mất một người con yêu dấu, và có lẽ nỗi đau khổ của ông còn cao và lớn lao hơn sự dày vò trong lòng người con nữa! Nỗi đau khổ lớn lao bao nhiêu, thì sự vui mừng được gặp lại, được tìm thấy lại càng lớn lao bấy nhiêu. Cả ba câu truyện đều diễn tả nỗi vui mừng của người Cha và gia đình ấy như sau: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải. (Lc 15: 7)

Qua ba câu truyện của Chúa Giêsu kể, chúng ta đọc được tình yêu cao vời trong trái tim của Ngài; và từ trái tim ấy, chúng ta cảm nghiệm được lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha, Đấng đã dựng nên, nuôi dưỡng, yêu thương và sai Con Một cứu chuộc toàn thể nhân loại, nhất là những người đặc biệt mang danh tội lỗi. Khi ai đó phạm tội, thì tức khắc Cha trên trời bị mất đi một con chiên, một đồng bạc, một người con. Vì Ngài là Cha nhân từ, nên vội vã lao ngay vào cuộc tìm kiếm. Hành trình tìm kiếm được Chúa Giêsu diễn tả bằng việc bỏ lại chín mươi chín con chiên trong đàn; thắp lên ngọn đèn trong đêm tối để tìm đồng bạc; và kiên nhẫn ngày qua ngày đợi chờ con trở về trong tâm thức mỏi mòn yêu thương. Có lẽ chỉ những người có con bị lạc, bị mất mới có thể hiểu được một chút nỗi khắc khoải đợi chờ xum họp của Thiên Chúa với người tội lỗi thôi. Ngược lại chính bản thân con chiên lạc, đồng bạc bị mất và người con hoang, tức người tội lỗi cứ trơ trơ ra đó! Chỉ có một động lực duy nhất phát xuất từ tình yêu cao vời của người Cha, được bắt đầu bằng sự tìm kiếm của Ngài, mới biến cuộc đời của họ nên khác; đúng ra mới có thể rung động được tình trạng bị lạc, bị mất và đi hoang của họ. Khi ta phạm tội, ta cũng rơi vào tình trạng trơ trơ này! Hãy nhớ lại nỗi khổ đau của Cha mình đang thao thức mỏi mòn kiếm tìm ta, và sự vui mừng lớn lao vô cùng trên thiên quốc bừng sáng khi ta được tìm thấy. Quả thực, Thiên Chúa là Cha yêu thương ta vô cùng ! Hãy đứng lên trở về ngay mỗi khi lầm lỡ phạm tội, kẻo trì trệ thì hồn ta sẽ trơ trơ như đá, vừa vong thân, lại bị mất đi chính Ngài.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

  Nghe Giảng 


NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH

Hỵ Nguyễn Văn Thuận


25 - PHÁT TRIỂN

1. Linh mục moi rác.

* Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành những "bộ máy tự động", con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ĐHV 587).

* Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác: - Biết vùng dậy. - Biết suy tư. - Biết tổ chức. - Biết chiến đấu. - Biết chống ngược ý con khi cần. Con sẽ hạnh phúc thật vì anh em cùng thăng tiến với con (ĐHV 593).
Trong trận thế chiến thứ hai, Âu châu lâm vào cảnh bị tàn phá, đói rách tột độ. Một linh mục ở Paris quen gọi là "Abbé Pierre" (Cha Pierre), quá xúc động trước cảnh cùng khốn của đồng bào, bèn nảy ra sáng kiến: Từ căn nhà bé nhỏ của ngài, ngài đã gọi điện thoại đến mọi người, nơi thì xin đôi giày, chỗ khác xin chiếc áo rách, người này xin gói cà phê, gia đình nọ lại được ngài xin một đôi vớ cũ...

Những kẻ mang quà đến cho ngài đều được chứng kiến tận mắt nhân vật "Abbé Pierre" và chỗ ở của ngài: một căn phòng tồi tàn, chật hẹp quá sức tưởng tượng, không đủ chỗ chứa những quà tặng nho nhỏ người ta đem đến. Họ rất đỗi xúc động và to nhỏ cùng nhau: "Có ngờ đâu một linh mục lại ở một căn phòng tồi tàn như thế!" "Ờ! thấy ngài như thế ai mà lại làm ngơ được!" Một thời gian sau. nhiều người tình nguyện đến giúp cha Pierre: kẻ thì biên sổ, kẻ thì đi nhận quà từ các gia đình, người thì mang quà đi phân phát... Tiếng tăm cha ngày càng đồn xa, nhiều người hưởng ứng, tổ chức càng lan rộng, từng triệu người đến cứu giúp, được nâng đỡ xây dựng lại cuộc đời.

Sáng kiến đẻ ra sáng kiến: Trong "đô thành ánh sáng" Paris có những người nghèo khổ quá sức tưởng tượng. Mỗi sáng sớm, trời còn mờ sương, lắm kẻ đã thức dậy, dùng một cây gậy có mũi nhọn, lang thang đến những hầm rác mà các gia đình vừa đổ ra trong đêm trước để bưới móc, xem cái gì còn xài được thì bỏ vô bị mang về nhà: thịt, xương, bánh mì... thì ăn, còn vụn thuốc xé ra bỏ vào ống điếu hút. Lắm lúc đánh lộn nhau bỏ mạng cũng chỉ vì một cục xương, miếng thịt... Cha Pierre thấy thế bèn nảy ra sáng kiến thành lập "Hội moi rác", tiếng bình dân quen gọi là "nhóm moi giẻ rách". Hội đã chia đô thành ra nhiều khu vực để các "thành viên" làm việc, khỏi đánh đập tranh giành nhau vì vấn đề rác nhiều rác ít!

Nhưng cha Pierre không dừng lại đó. Ngài tận dụng những dịp ấy để tiếp xúc với họ, nâng đỡ họ, tìm hiểu yêu thương họ, và cuối cùng đi đến chỗ biến đổi họ, huấn luyện họ biết tôn trọng lẫn nhau. "Nhóm moi giẻ rách" sau một thời gian đã biến thành "Cộng đoàn Emmaus", bao gồm những thành viên biết yêu thương nhau, đón tiếp nhau theo gương hai người bộ hành Emmaus xưa đã biết tiếp đón Chúa.

Cộng đoàn Emmaus không những chỉ moi rác, mà sau đó còn cùng nhau đi xin thu dọn những đống sắt vụn, giấy vụn, gỗ vụn... của các xí nghiệp phế thải rồi đem về bán lại cho người khác. Dần dần số vốn lên cao, họ chia sẻ cho nhau, tạo hạnh phúc ấm no cho các gia đình có chân trong cộng đoàn. Một số vốn khác được họ san sẻ cho các trẻ em nghèo, hoặc những gia đình đói khổ neo đơn, để rồi dần dần những người ấy cũng được khám phá hạnh phúc, tươi nở nụ cười sau những ngày lầm than đen tối.

Ngày nay cộng đoàn Emmaus đã lan tràn sang nhiều nước. Ở tại Nhật Bản, Cộng đoàn đã hoạt động rất đắc lực thu thập nhiều sản phẩm gởi đi phân phát cho các nước nghèo để họ cũng được phát triển mỗi ngày một hơn.

2. Người sáng lập tổ chức Caritas.
* Bớt diễn thuyết về hạn hán ở Sahel, sóng thần ỏ Bangladesh, bạo động ở Nam Mỹ, nhưng hãy tìm thấy Chúa Giêsu bị bỏ rơi, kém mở mang kế bên con, dưới mái nhà con, bên kia vách tường con. Nếu quả tim nhân loại đã ráo cạn tình yêu. Nếu sóng thần của hận thù ích kỷ đã dâng cao, thì đại họa diệt vong không còn xa! (ĐHV 597)
* Phát triển nói cách cụ thể là một quả đất, ở đó Chúc thư Chúa Giêsu được thực hiện. Mọi người yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, san sẻ với nhau trong tình huynh đệ phổ cập (ĐHV 604)

Dưới ách thống trị độc tài Phátxít của Hitler, nhân dân Đức quốc nói chung và người Công giáo trong nước nói riêng phải chịu một sự đàn áp hết sức độc dữ, man rợ. Lúc Phátxít Đức lâm chiến chống lại khối Đồng minh, thì cảnh cơ khổ lại càng gia tăng không kể xiết.

Đức Ông Werthmann là một linh mục đã từng tham dự đại chiến thứ nhất, lập được nhiều công lao trong công tác xã hội nên được chính quyền ban thưởng một số huân chương có giá trị.
Thời ấy, linh mục nào có việc phải đến các văn phòng của đám thuộc hạ Hitler đều gặp phải rất nhiều khó khăn rắc rối. Thế nên, Đức Ông Werthmann mới nảy ra sáng kiến: đi đâu ngài cũng mang huân chương đầy ngực. Nhờ đó, việc ra vô các văn phòng Phátxít lúc nào cũng dễ dàng. Ngài bèn lợi dụng uy tín để đi khắp nơi, tổ chức nhiều công cuộc bác ái, cứu trợ tối đa cho nhân dân đang lầm than, đói khổ.

Năm 1945, chiến tranh thế giới chấm dứt, nước Đức hoàn toàn bị sụp đổ, tê liệt, lãnh thổ phải chia đôi và đặt dưới quyền kiểm soát các nước Nga, Anh, Pháp, Mỹ. Hội đồng Giám mục Đức thời bấy giờ muốn Giáo Hội góp một tay vào việc tái thiết đất nước, nhưng không có một tổ chức Công giáo nào có tính cách toàn quốc để mà làm phương tiện cả. Các ngài đang nhóm họp, lúng túng thảo luận với nhau thì sực nhớ đến tổ chức Caritas của Đức ông Werthmann. Ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm, đồng tâm nhất trí chọn tổ chức ấy làm phương thế để hoạt động. Từ đó, công việc khiêm tốn và kiên trì của Đức ông Werthmann trở thành một tổ chức quốc gia, rồi dần dần biến thành tổ chức Caritas quốc tế, đặt trụ sở trung ương tại Roma, trong khu vực các toà Bộ của Toà Thánh. Tổ chức này chuyên cứu trợ nạn nhân thiên tai, đói kém, chiến tranh và những người tị nạn, dưới rất nhiều hình thức như phân phát thuốc men, thực phẩm, mở trường học, xây dựng lại nhà cửa và tìm nơi sinh sống định cư cho.

3. Bác thợ nề được giải Nobel.
* Thiên Chúa muốn sự hợp tác của chúng ta trong việc tạo dựng cũng như trong việc cứu rỗi. Nếu Chúa làm một mình, công trình sẽ hoàn hảo hơn, nhưng con người sẽ kém "cao cả". Con hãy theo phương pháp của Chúa (ĐHV 584).
Cha Dominique Pire (1910-1968) gốc người Bỉ, thuộc Dòng Đa Minh, sáng lập viên nhóm "xây dựng" (Les Bâtisseurs) là người đã dấn thân tích cực vào công cuộc cứu trợ hàng triệu người từ Đông âu sang tị nạn ở Tây âu sau đại chiến thứ hai.
Ngài là "Bác thợ nề " (với hai bằng tiến sĩ thần học và tiến si chính trị xã hội học) đã thu hút được nhiều thanh niên đem hết bầu nhiệt huyết đi theo ngài từ nước này sang nước nọ để xây dựng hàng vạn nhà cửa cho những gia đình trong cảnh màn trời chiếu đất. Họ gồm đủ mọi hạng người, mọi lứa tuổi. Có những công nhân trẻ, những sinh viên, học sinh tự nguyện hy sinh cả kỳ nghỉ phép, nghỉ học của mình để đến một nước xa lạ để xây dựng nhà cửa cho những người khác màu da, khác sắc tộc, khác tiếng nói. Công việc bác ái tự nguyện ấy đã được cả thế giới nhiệt liệt hoan nghênh, khiến cha Pire đã lãnh được nhiều giải thưởng quốc tế, cao quý nhất là giải Nobel Hòa bình năm 1958. Nhưng niềm vui lớn nhất của ngài là đã đem lại hạnh phúc, an cư cho nhiều gia đình, nhất là tạo cho giới trẻ Âu châu một lý tưởng, một lẽ sống xinh đẹp.

4. Ông cha "thịt mỡ".
* Thảm kịch của người nghèo không phải chỉ là thiếu thốn, nhưng là vì họ không thể sống "xứng con người" (ĐHV 588).
* Chúa có thể chọn những người "thụ động", những người tội lỗi, hung hăng, rắc rối để hợp tác với Chúa (ĐHV 591).
Cũng sau kỳ đại chiến thứ hai, với làn sống người ồ ạt di cư từ Đông âu sang Tây âu (nhất là ở Đức), thực phẩm đã trở nên khan hiếm. Có nơi người ta phải ăn đến cả thịt chó, một điều ngoài sức tưởng tượng của người dân Âu Mỹ.

Một linh mục Dòng Prémontres, người Hoà Lan, tên Warenfried van Straaten đã lao mình cứu trợ trạng huống đáng thương ấy. Với một giọng nói thật tự nhiên, ngài đã lên tiếng ở đài phát thanh: "Xin cho tôi thịt mỡ ướp mặn" - Sao lại xin thịt mỡ ướp mặn? - Thưa vì thịt mỡ ướp mặn ăn được nhiều mì; nếu không mặn thì ăn mì với thịt rất tốn kém!
Chỉ trong vòng mấy tháng sau, người ta đã gởi đến cho ngài hàng ngàn tấn thịt mỡ. Ngài tiếp nhận và phân phát cho nhiều gia đình đang trong tình trạng đói khổ ở các trại tạm cư. Khắp Âu Mỹ ai cũng biết đến tên ngài. Nhưng biết thì biết mà than thở thì vẫn than thở: "Ồ! tên gì mà dài quá! thôi thì tạm gọi là "ông cha thịt mỡ" đi (le père au lard) và thế là tên ấy được phổ biến khắp thế giới. Sau một thời gian, tình trạng người di cư đã tạm ổn định, ngài liền biến tổ chức từ thiện của ngài thành một cơ quan cứu trợ tôn giáo, đáp ứng nhu cầu của những nơi Hội Thánh đang gặp khó khăn về vật chất cũng như tinh thần (tiếng Pháp gọi là "Aide à l'Eglise en détresse"). Bây giờ, tặng phẩm không chỉ là thịt mỡ ướp mặn mà thôi, nhưng còn là xe đạp, máy khâu, máy chiếu phim, loa, đài, xe máy, xe hơi 2 ngựa, xe tải... Tất cả đều được gởi đi các nước để đẩy mạnh công cuộc phát triển, đưa cuộc sống con người ngày càng xứng đáng với nhân phẩm mà Thiên Chúa đã muốn cho họ có được?

5. Giúp người phát triển.
* Con đừng thỏa mãn khi đã giúp người ta. Con đừng làm việc dễ hơn cả: CHO. Chúa đòi con làm việc khó hơn, giúp kẻ khác để họ tự giúp lấy mình và để họ biết sẵn sàng giúp mọi người (ĐHV 583).
* Chúa dạy con, xong công việc, hãy nói: "Tôi là đầy tớ vô dụng..." Thực là sâu xa, giàu ý nghĩa. Vô dụng vì chính ơn Chúa đã làm, con là khí cụ. Vô dụng vì con không cần giữ anh em trong tình trạng thụ ơn, thua kém vĩnh viễn, nhưng con đã làm cho họ không cần đến con nữa (ĐHV 585).

* Hãy làm cho người khác lớn lên và con khuất đi. Hãy cho họ ít thua, đòi hỏi họ nhiều hơn. Hãy biết cứu họ và làm cho họ cứu kẻ khác. Đừng khư khư giữ địa vị ân nhân, viện trợ, nhưng làm anh em của mọi người, phục vụ mọi người (ĐHV 586).
Joseph Frings! Người ấy là ai? Thưa là một nhạc sĩ nổi tiếng, một nhà thần học sâu sắc, đồng thời là một người có bộ óc thực tế và tâm hồn quả cảm.

Mặc dù cơ quan Caritas quốc tế đã được thành lập ở Đức với nhiều kết quả đáng khen ngợi, thế nhưng ngài vẫn chưa thỏa lòng. Con người thực tế và quả cảm ấy còn muốn lập thêm một cơ quan mới với mục đích mới. Đó là cơ quan "Misereor" (Thương xót) với mục đích "giúp người đang gặp khó khăn được phát triển, để rồi họ tự biết cứu lấy bản thân họ, và sau đó chính họ lại giúp người khác cũng được phát triển". Ngài cũng thúc đẩy thành lập một cơ quan tương tự để đặc biệt phục vụ cho người dân ở Châu Mỹ La tinh, lấy tên là "Adveniat" (Tiến lên). Hai cơ quan này đã giúp mở rất nhiều trường học chữ, học nghề, đào tạo chuyên viên kinh tế, tài trợ cho không biết bao nhiêu là tổ hợp, hợp tác xã, chương trình tự túc phát triển tại các nước đang mở mang trên khắp thế giới.
Hồng Y Joseph Frings luôn nhắc nhở nhân dân Đức: "Lúc nước Đức tan nát, thế giới đã giúp ta; nay ta phải giúp cả thế giới lại".

6. Quỹ phát triển thế giới.
* Không phải vũ trụ hết chỗ ở, nhưng lòng người quá chật hẹp! Không phải hết súc vật để ăn, nhưng loài người chực vồ nuốt nhau như thú dữ (ĐHV 596).
* "Phát triển là danh hiệu mới của hòa bình". (Phaolo VI) (ĐHV 600).
* Bao lâu các quốc gia mở mang chưa bỏ một phần trăm lợi tức giúp các dân nghèo phát triển. Bao lâu 20% dân giàu trên thế giới còn chiếm hết 80% tài nguyên của nhân loại, thì hiểm họa thế chiến nguyên tử không thể tránh được. (ĐHV 601).
* Vạch kế hoạch và thực hiện viện trợ bất vụ lợi có triển vọng mang lại hòa bình hơn là các cuộc hội nghị hạn chế vũ khí hạch tâm, thượng đỉnh kinh tế... Phí giờ, phí của, chẳng ai tin ai! (ĐHV 602).
* Con phải là "Tông đồ phát triển" như Đức Phaolô VI đã kêu gọi và chính Ngài đã là vị "Giáo Hoàng lữ hành vì phát triển và hòa bình" (ĐHV 603).

Ai đã tung sáng kiến kỳ diệu ấy ra? - Đức Giáo Hoàng Phao lô VI. Thực vậy, đó là đứa con cưng của ngài, chào đời trong dịp ngài đi Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế ở Bombay (Ấn Độ), bên cạnh những người nghèo khổ của một quốc gia trong số mấy mươi quốc gia đang trên đường phát triển. (Điệp văn thế giới ngày 4.12.1964).
Với một lời lẽ tha thiết và cương quyết, Đức Thánh Cha nhắc lại tổ chức ấy trong Thông điệp "Phát triển các dân tộc" công bố ngày 26.3.1967:

Ngân quỹ Quốc tế:
"Tại Bombay, chúng tôi đã kêu gọi thiết lập một ngân quỹ quốc tế đóng góp bởi một phần binh phí, để đem giúp những nước đói kém nhất.
"Chống nghèo đói cần thiết như thế nào, thì phát triển các dân tộc cũng cần thiết như vậy. Ngân quỹ quốc tế này vừa là hình ảnh vừa là khí cụ của sự hợp tác giữa các dân tộc. Chỉ có sự hợp tác như thế mới có thể giúp vượt qua được những tranh chấp vô ích và khơi nguồn cho một cuộc đối thoại phong phú và thanh bình giữa các dân tộc.

Sự khẩn thiết của ngân quỹ quốc tế:
"Ai mà không thấy rằng ngân quỹ quốc tế như chúng tôi đã đề cập tới, sẽ cho phép trích bớt đi một số chi phiếu mà người ta phải hao tốn vì sợ hãi hay kiêu căng.

"Một khi bao dân tộc còn đói khát, bao gia đình còn đau khổ vì túng quẫn, bao người còn chìm đắm trong dốt nát, bao trường học, bệnh xá, nhà ở hẳn hoi còn chưa được xây cất, thì tất cả những phí phạm, công hay tư, tất cả những chi tiêu huênh hoang của nhà nước hay cá nhân, tất cả đó trở thành một điều ô nhục không tha thứ được.
"Chính tôi có nhiệm vụ nặng nề phải tố cáo điều đó. Xin quý vị hữu trách hãy nghe chúng tôi, trước khi quá trễ". (Thông điệp Phát triển các dân tộc, số 51, 53).
Và Đức Phao lô VI đã làm gương trước hết, ngài đã dạy bán nhiều động sản và bất động sản của Toà Thánh để bỏ vào "Ngân quỹ phát triển".

7. Một thế giới tốt đẹp hơn.
* Phát triển không phải chỉ là cho ăn, cho mặc, cũng không phải chỉ phát cày phát cuốc, đào giếng, đào mương. Phát triển là thăng tiến con người toàn diện, là làm cho họ sống "xứng người hơn." (ĐHV 582).
* Món quà tuyệt hảo mà con có thể tặng người giúp việc con không phải là chiếc áo đẹp, đôi giày tốt, cái đồng hồ quý, nhưng là "TÌNH NGƯỜI", tình anh em mà con âm thầm tặng họ qua các cử chỉ nhỏ nhặt suốt ngày (ĐHV 590).
Trên đây cha đã nhắc tới một số người lữ hành đã có những hành động cụ thể, những sáng kiến độc đáo về lãnh vực phát triển trên con đường họ đã và đang bước đi. Giờ đây cha muốn nhắc đến những người đã vạch ra đường hướng, kế hoạch ấy cho toàn thể Giáo Hội.

Vị phải nhắc đến trước tiên là Đức Thánh Cha Piô XII. Trong một bài diễn văn quan trọng, ngài đã vạch ra đường hướng căn bản bằng một câu nói thật rõ ràng và đầy ý nghĩa: "Xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn". Câu nói ấy đã được ngài giải thích: "Làm cho con người lạc hậu thành con người văn minh, làm cho con người văn minh thành con người của Chúa".
Hưởng ứng lời ngài, linh mục Lombard Dòng Tên đã mở một trung tâm ở ngoại ô thành Roma, kề trại nghỉ hè của Đức Thánh Cha là Castelgandolfo.

Trung tâm ấy mang tên: "Một thế giới tốt đẹp hơn" có mục đích tạo môi trường thuận lợi cho các cá nhân hoặc đoàn thể muốn đến tĩnh tâm, dự khóa huấn luyện để nung nấu tinh thần phát triển; thêm niềm xác tín vào lời kêu gọi của Đức Thánh Cha cũng như để nhận thức cách rõ ràng hơn về sứ mệnh của mình giữa lòng thời đại. Hiện nay trên thế giới, người ta đã mở nhiều trung tâm như thế để đem tia sáng ấy chiếu tỏa ra khắp nơi.

8. Kinh tế phục vụ con người.
* Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẽo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm anh trưởng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ĐHV 592).

* Đại họa không phải chỉ là đói khát, khốn khó của các dân tộc nghèo khó. Đại họa chính là sự vô ý thức của các dân tộc nô lệ và bóc lột (ĐHV 599).
Cha Louis-Joseph Lebret (1897-1966), cựu sĩ quan Hải quân, là một tu sĩ Dòng Đa-minh người Pháp, đã có công khởi xướng và cùng với nhà chuyên môn giàu thiện chí khác (như cha: Th. Suavet, H. Quoist) lập nên một học thuyết, đồng thời cũng là một nhóm mang tên "Kinh tế và nhân bản (Economie et Humanisme) nhằm mục đích phát động một nền kinh tế phục vụ con người!

Sau khi nghiên cứu và đúc kết thành một học thuyết, một hệ thống thực sự, ngài đã cùng với các đồng chí cho xuất bản nhiều sách báo, vạch ra một đường hướng phục vụ thế giới mới mẻ, ai muốn hưởng ứng thì cứ vận dụng cách sáng tạo vào hoàn cảnh của địa phương mình.

Cha Lebret đã được mời du hành khắp thế giới (từ nhiều làng bên nước Pháp tới những xứ kém mở mang, từ trụ sở Liên Hiệp Quốc tới Hội trường Công đồng Vatican II) để trình bày đường lối của ngài về "kinh tế và nhân bản". Ngài nhấn mạnh rằng: "Phải làm sao để vừa phát triển nền kinh tế, vừa phát triển con người toàn diện về mọi mặt, vật chất cũng như tâm linh, và phát triển đồng đều trên mọi miền khắp thế giới".

Ngài đã để lại lời cầu nguyện sau đây thật đáng cho chúng ta suy niệm:
"Lạy Chúa lỗi tại con,
. Tại con không chân thành yêu anh chị em con,
. Tại con không cảm thấy đau khổ trước những sự khốn cùng của anh chị em con,
. Tại con hay thờ ơ lãnh đạm bên cạnh người xấu số,
. Tại con đã khinh dể nhiều người, nhất là những người nghèo hèn, những người có địa vị kiến thức kém hơn con,
. Tại con đã để cho kẻ khác phải chờ đợi con,
. Tại con đã quên hay thất hứa khi con đã hẹn với người ta.
. Tại con không giữ đúng như lời cam kết.
. Tại con không ăn ở dễ dãi với kẻ khác, không sẵn sàng với kẻ khác,
. Tại con không biết tìm hiểu hoàn cảnh của người ta,
. Tại con đã từ chối một sự giúp đỡ, theo tính ích kỷ của con,
. Tại con đã không ra tay xoa dịu một vết thương mà lẽ ra con phải làm,
. Tại con chỉ tới lui kết nghĩa với những người mà con mong sẽ đem lại lợi ích cho con.
. Tại con đã làm tổn thương người ta nhiều vì lời ăn tiếng nói của con,
. Tại con đã hạ bệ những kẻ đối nghịch với con,
. Tại con đã láo xược và ăn ở bất công,
. Tại con đã làm gương xấu quá nhiều...
Nên anh chị em con đã bị tổn thương nhiều vừa hồn vừa xác.
Lạy Chúa, lỗi tại con!!! Xin Chúa tha thứ cho con.
Và con cũng xin Chúa tha thứ cho những anh chị em vì lỗi con mà đã sống bất xứng".






Page generated 20 queries - Generation time: 0.1883 seconds