• Register

GIÁO LÝ TÂN TÒNG VÀ THÊM SỨC
(Gồm cả Tiếng Việt và Tiếng Anh)

PHẦN TIẾNG VIỆT

QUYỂN I: ƠN CỨU ĐỘ TRONG LỊCH SỬ

 

BÀI 1: BIẾT THIÊN CHÚA QUA TẠO THÀNH

Không một ai lại không biết đến sự hiện hữu của Thiên Chúa. Với Khả năng lý luận của lý trí, chúng ta có thể đạt tới sự hiểu biết là có Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng thế giới ký diệu mà chúng ta đang sống trên đó. Nhận xét này cũng đúng cho những ai chưa có ơn đức tin. Thánh Phaolô, vị tông đồ vĩ đại, đã nhắc nhở các Kitô hữu tại Roma về chân lý này rằng: “Từ buổi tạo thành vũ trụ, bản tính vô hình của Thiên Chúa, tức là quyền năng hằng có và thần tính của Người, được trí khôn ta nhìn ngắm qua công việc của Người làm.” (Rm 1:20)

Khắp nơi trong vũ trụ, chúng ta đều thấy có một trật tự và cách sắp xếp nào đó. Trật tự và cách sắp xếp này là những dấu chỉ chắc chắn chứng tỏ có bàn tay Thiên Chúa trong việc tạo thành. Giải thích về trật tự và sự sắp xếp như là những kết quả của ngẫu nhiên thật là một sự điên rồ! Chẳng hạn, bạn thử xem chiếc đồng hồ đeo tay của bạn. Bạn có thật sự nghĩ rằng nó có đó một cách tình cờ không? Hay miếng kim loại để làm thành chiếc đồng hồ, tự nhiên mà nó có cái dạng của chiếc đồng hồ? Hay một chuyện còn đáng làm ngạc nhiên hơn nữa, là các con số trên mặt đồng hồ tình cờ chúng nó đứng đúng ở chỗ chúng nó phải đứng với khoảng cách đều đặng để chỉ giờ một cách rất chính xác như thế sao? Dĩ nhiên là không!

Rồi bạn thử xem xét nhiều vật lạ lùng trong vũ trụ, hằng triệu lần phức tạp hơn một chiếc đồng hồ như: thái dương hệ, một côn trùng, tính cá biệt của mỗi thân thể con người, vv. . . Bạn có nghĩ rằng tất cả những sự ấy ngẫu nhiên mà có và không cần một Đấng nào đó ra lệnh và chỉ huy để chúng được tạo thành chẳng?

Cùng với việc biết có Thiên Chúa, chúng ta còn có thể học biết một chút về Người qua việc học hỏi về sự tạo thành. Khi thấy sức mạnh khủng khiếp của biển cả với nước thuỷ triều lên xuống của nó, chúng ta học biết được Đấng làm ra chúng phải vĩ đại và hùng mạnh hơn nữa. Các hương thơm ngào ngạt và các màu sắc lộng lẫy của bông hoa mùa xuân, nói cho chúng ta biết rằng: Đấng tạo dựng ra chúng cũng tươi mát và xinh đẹp như chúng. Tất cả mọi tạo vật của Thiên Chúa đều nói một cái gì cho chúng ta về Người. Chúng phản ảnh một phần nào sự cao cả, vẻ đẹp và quyền năng của Người.

HỌC BIẾT VỀ TA NHỜ LÝ TRÍ

Như chúng ta có thể hiểi biết về Thiên Chúa bằng sử dụng khả năng lý trí của chúng ta thế nào, thì chúng ta cũng có thể tìm hiểu về con người, về những ham muốn và những hành động của chúng ta như vậy. Một trong những điều trước tiên chúng ta nhận thấy được, chính là chúng ta có một thân xác giống như các loài vật. Chúng ta có chân để đi, có mắt để thấy. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là một thành phần của vũ trụ vật chất do Thiên Chúa tạo dựng nên.

Nhưng khi chúng ta nhìn đến sự khác biệt giữa chúng và loài vật, sẽ thấy ngay rằng chúng ta cao cả hơn chúng... vì chúng ta có lý trí và có tự do. Chúng ta kiểm soát được những hành động của mình, và có thể quyết định chọn lựa những gì mình muốn. Bạn thử xem ví dụ này: Một con chó bị đối cách tàn ác là người ta nhốt nó trong một cái chuồng hai ngày mà không cho nó đồ ăn hay nước uống gì. Một người nào đó đã thấy được con chó đáng thương ấy và đã đem cho nó chút đồ ăn. Khi thức ăn được bày ra trước mặt, nó phải ăn; nó không có sự lựa chọn nào khác. Sự thèm ăn sẽ hối thúc nó nhào tới đồ ăn. Nó không có tự do chọn lựa! Bây giờ chúng ta thử coi cùng một cách cư xử độc ác với con người, chẳng hạn những trường hợp tù binh chiến tranh. Nếu người ta đem thức ăn đến cho một tù nhân để mua chuộc anh ta phản bội quê hương của anh, anh ta có thể chọn nghe theo mà ăn; hoặc có thể từ chối không phản bội quê hương bằng cách nhất định nhịn đói. Anh ta có đặc ân tự do, nhờ đó có thể quyết định về những gì mình sẽ làm.

Sự tự do này chứng minh rằng chúng ta rất khác biệt với cả thế giới loài vật, vì có một phần tinh thần trong chúng ta giúp chúng ta suy nghĩ, lựa chọn và quyết định. Chúng ta gọi phần này là linh hồn. Ví thế chúng ta có thể học biết về con người vừa có thân xác và vừa có linh hồn thiêng liêng (mắt không thấy nhưng có thật).

LÝ TRÍ CON NGƯỜI VÀ ƠN ĐỨC TIN

Trí óc con người thật kỳ diệu là chỉ có nó mới có thể học biết được những gì về Thiên Chúa và mục đích đời sống con người. Muốn biết thêm về những mầu nhiệm này, chúng ta cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa, Đấng sẽ ban cho chúng ta ơn đức tin. Ơn huệ này chính là lòng tin tưởng vững vàng rằng một cái gì đó đã có thật vì Thiên Chúa đã tỏ bày như vậy, và cũng là điều biết chắc chắn vì Thiên Chúa không lừa gạt chúng ta. Đức tin còn có nghĩa là một bộ chân lý chúng ta là những người Công giáo đang tin.

Như đã thấy, lý trí có thể chứng minh rằng có Thiên Chúa, và cho chúng ta biết một vài điều về bản thân mình, nhưng nó không thể cho chúng ta sự tin tưởng vững vàng vào những chân lý của đức tin chúng ta. Nhưng lý trí có thể giúp chúng ta nhận thấy những giáo huấn của Chúa Giêsu là chân thật. Bằng cách nào? Thưa bằng nhìn vào những phép lạ lớn lao Ngài đã thực hiện. Lý trí nói với chúng ta rằng không ai có thể làm được những việc như biến nước thành rượu, cho kẻ mù trông thấy, và nhất là cho kẻ chết sống lại.

MẠC KHẢI HOÀN CHỈNG SỰ HIỂU BIẾT CỦA TA VỀ THIÊN CHÚA

Ở phần trên, chúng ta đã thấy được rằng Thiên Chúa phải toàn năng và tuyệt mỹ vì Người đã dựng nên biết bao điều kỳ diệu trên thế giới này. Chúng ta biết được điều đó bằng sử dụng lý trí của mình khi nghiên cứu việc tạo thành. Nhưng chúng ta có thể học hỏi nhiều hơn nữa về Thiên Chúa bằng việc nghiên cứu Kinh Thánh, vì Kinh Thánh là một trong những phương cách Chúa tự tỏ mình Người cho con người. Mạc khải của Chúa sẽ làm cho sự hiểu biết của chúng ta về Người càng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn. Nhờ mạc khải chúng ta biết rằng Thiên Chúa hiện diện khắp nơi và trong mỗi cá nhân con người. Thiên Chúa là thần linh: nghĩa là Người không có thân xác là cái làm cho Người bị giới hạn ở một thời gian nào hoặc một nơi chốn nào đó. Kinh Thánh nhắc chúng ta về mầu nhiệm này:

            “Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài; lẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan Ngài? Con có lên trời, Chúa đang ngự đó, nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài. Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện, hoặc đến ở nơi chân trời góc biển phương tây, tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn, cánh tay hùng mạnh giữ lấy con. “ (TV. 130:7-10)

Chúng ta cũng học biết được rằng hết mọi người và mọi vật, tất cả những thứ đó, đang có và sẽ có:

            “Người dò thấu vực sâu cũng như lòng dạ; Người thấu hiểu mọi bí mật của chúng. Vì Thượng Đế thấu hiểu mọi sự và nhìn thấy trước các điều sẽ đến. Người loan báo tương lai cũng như quá khứ; Người cho biết những bí ẩn của vực sâu. Không tinh khôn nào khuất được với Người; và không một điều gì có thể thoát khỏi Người.” (Huấn Ca 42: 18-20)

Chúa Giêsu đã mạc khải những điều cao cả nhất về Thiên Chúa khi nói rằng: trong một Thiên Chúa chân thật, có Ba Ngôi Vị. Chúng ta gọi là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong Thiên Chúa Ba Ngôi, có Chúa Cha (ngôi thứ nhất) Chúa Con (ngôi thứ hai - tức Ngôi Hai nhập thể) và Chúa Thánh Thần (ngôi thứ ba).

Nhờ Kinh Thánh, chúng ta nhận được mạc khải tuyệt đẹp này: Thiên Chúa là tình yêu (1Jn 4:6), và chính tình yêu ấy đã thúc đẩy Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và làm nên con người chỉ thua thiên thần một chút ít thôi, và Người cho họ một ân huệ kỳ diệu là lý trí.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT: (Cắt nghĩa và làm bài)

            Lý trí con người - ơn đức tin - đức tin công giáo - Thiên Chúa Ba Ngôi.

*********************************************************

BÀI HAI:   THIÊN CHÚA MẠC KHẢI

Trong chương đầu, chúng ta biết mình có thể sử dụng lý trí của mình để hiểu biết Thiên Chúa hiện hữu. Chúng ta cũng biết rằng chỉ lý trí của mình thôi không thể nào khám phá được tất cả những gì liên quan đến Thiên Chúa. Vì tình thương bao la đối với con người mà Người đã tỏ mình ra cho họ, trước hết qua dân Do Thái trong Cựu Ước, và sau này, trong chính cuộc đời của Đức Giêsu Kitô mà giáo huấn của Giáo Hội đã chuyển đạt đến cho chúng ta. Chúng ta gọi những chân lý Chúa muốn dạy nhân loại là Sự Mạc Khải của Thiên Chúa.

LỊCH SỬ MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA

Thiên Chúa không chỉ mạc khải bản thân Người cho một người ở một thời nào đó; nhưng Người đã mạc khải về Người dần dần. Những người trước tiên được biết Thiên Chúa là Ađam và Evà. Sau đó chính Người đã chọn một dân riêng gọi là dân Israel (tức Do Thái), để cất giữ đặc biệt những lời mạc khải của Người.

Thiên Chúa bắt đầu thành lập cộng đồng này bằng việc tuyển chọn ông Abraham. Abraham sống trong miền Mêxôpôtamia, cách đây khoảng 4000 năm. Người đặt Abraham là làm tổ phụ sáng lập dân tuyển chọn. Những người này đã ghi lại mạc khải mà họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, lập thành một bộ sách chúng ta gọi là Cựu Ước.

Khoảng gần 2000 năm sau đời ông Abraham, thì đến thời điểm Thiên Chúa ban cho chúng ta mạc khải cao cả nhất của Người, một quà tặng là Con độc nhất của Người, Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu đã dạy cho dân tất cả mọi sự về Thiên Chúa, và sửa lại những quan niệm sai lầm mà họ có về Thiên Chúa. Để bảo đảm cho lời giáo huấn của Ngài được người ta hiểu và truyền lại cho người khác một cách đúng đắn, thì Ngài đã thành lập Giáo Hội... Ngài đặt mười hai tông đồ làm thầy dạy chính thức trong Giáo Hội và đặt các ông làm người canh giữ mạc khải của Ngài. Sau khi Chúa Giêsu sống lại, các tông đồ giảng dạy Tin Mừng ấy cho những người khác vừa bằng rao giảng và vừa bằng viết lại (Tân Ước). Một số Kitô hữu thời nay không tin rằng Truyền Thống và Kinh Thánh là cần thiết cho những người tín hữu chân chính để học biết tất cả sự thật về Thiên Chúa. Nhưng Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta rằng:

            Truyền Thống và Kinh Thánh đi đôi với nhau và hướng về cùng một mục đích. Kinh Thánh là sứ điệp của Thiên Chúa được viết thành sách dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Còn Truyền Thống ban lại Lời Chúa đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần trao phó cho các tông đồ và những đấng kế vị các ngài... Do đó, cả Truyền Thống lẫn Kinh Thánh phải được tiếp nhận cùng một cách như nhau. (Dei Verbum (II, 9)

Một điều rất quan trọng phải nhớ là mạc khải của Thiên Chúa đã đạt tới đỉnh cao nhất với cuộc đời của Chúa Kitô và những lời giảng dạy của 12 tông đồ. Những giáo huấn của Chúa đã được các vị ấy rao giảng lại một cách trung thành, và đã được đúc kết lại trong lời tuyên xưng đức tin mà chúng ta gọi là Kinh Tin Kính của các tông đồ.

Kinh Tin Kính này là một lời khẳng định về những tín điều căn bản của chúng ta là những tín hữu công giáo. Kinh ấy tóm tắt tất cả những mầu nhiệm chính của lòng tin chúng ta. Mầu nhiệm là một chân lý (hay sự thật) vượt quá khả năng hiểu biết con người, nhưng chúng ta tin được là vì Chúa đã phán ra như vậy.

Khi vị tông đồ cuối cùng đã chết (tức thánh Gioan, vào khoảng năm 100 Công Nguyên), sự mạc khải công khai của Thiên Chúa về Người cho thế giới đã chấm dứt. Tất cả những gì Thiên Chúa muốn con người biết để được ơn cứu độ đều đã được Chúa Giêsu và 12 tông đồ loan báo hết rồi, và như Công đồng Vatican II quả quyết: “Không còn một sự mạc khải công khai nào cho đến ngày Chúa Kitô sẽ đến lại.” (Dei Verbum I,4)

KINH THÁNH

Kinh thánh còn được gọi là Sách Thánh, là lời Chúa được linh hứng; đó là một trong những quà tặng lớn lao nhất Người đã ban cho chúng ta. Chúng ta thường nghĩ về Kinh Thánh như là một cuốn sách, nhưng thật ra nó là một tập hợp gồm 73 quyển, được nhiều hạng người trong nhiều thời đại khác nhau đã viết ra. Kinh Thánh được chia làm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước.

Cựu Ước:

Phần đầu của Kinh Thánh là Cựu Ước, đã được dân Do Thái sắp chung lại với nhau. Phần này gồm có 46 cuốn sách đầu của Kinh Thánh, và bàn cách riêng về việc chuẩn bị thế giới đón Đấng Messia (Đấng Cứu Thế). Cựu Ước có ba loại thể văn căn bản:

Các Sách Lịch Sử:

Là những truyền thống tôn giáo và lịch sử của người Do Thái. Những sách này gồm có Ngũ Thư (5 cuốn đầu của Kinh Thánh, và người Do Thái gọi là Tora hay là Luật Môsê).

Các Sách Khôn Ngoan:

Là một tuyển tập các kinh nguyện, những lời khôn ngoan, và các lời khuyên răn, thường được viết dưới dạng thi ca.

Các Sách Ngôn Sứ:

Là những lời và sứ điệp của những phát ngôn viên được Thiên Chúa tuyển chọn, là những ngôn sứ. Loại sách này cũng gồm có những sách Ai Ca và sách Baruc.

Tân Ước:

Phần thứ hai của Kinh Thánh, Tân Ước, là phần quan trong nhất của Kinh Thánh, vì phần này thuật lại đời sống và lời giảng dạy của Chúa Giêsu và của 12 tông đồ. Nó cũng bao gồm nhiều loại thể văn khác nhau:

Các Sách Tin Mừng:

Những sách này là 4 trình thuật về đời sống và sứ điệp cứu độ của Chúa Giêsu, do các tông đồ Matthêu và Gioan cùng hai môn đồ là Marcô và Luca soạn. Các ngài đã trung thành chuyển đạt lại cho chúng ta những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm khi Người còn tại thế.

Sách Công Vụ Sứ Đồ:

Đây là một lịch sử tóm tắt về Giáo Hội sơ khai, chủ yếu kể lại sứ vụ của Thánh Phêrô và công cuộc truyền giáo của Thánh Phaolô.

Các Thư của Thánh Phaolô:

Đây là những lời giáo huấn của Chúa Kitô được áp dụng vào những nhu cầu của Giáo hội sơ khai và vào đời sống thường ngày của các Kitô hữu.

Các Thư cho Mọi Kitô Hữu:

Những thư này do các tông đồ khác nhau đã viết, như là những giáo huấn công giáo và đại đồng cho mọi Kitô hữu.

Sách Khải Huyền:

Sách này do Thánh Gioan Tông đồ viết ít lâu trước khi ngài qua đời. Sách Khải Huyền được coi là một nguồn khích lệ cho Giáo hội đang bị thử thách, và nhắc cho các tín hữu nhớ rằng Chúa Giêsu sẽ chiến thắng mọi kẻ thù của Ngài.

TÁC QUYỀN VÀ ƠN LINH HỨNG CỦA KINH THÁNH

Chúng ta gọi Kinh Thánh là Lời Chúa, vì tác giả chính của Sách là Chúa Thánh Thần. Người đã tuyển chọn một vài người để làm tác giả nhân loại; các ông viết ra, thể theo ngôn ngữ và văn phong riêng của họ, và chỉ viết ra những gì Chúa Thánh Thần đã linh hứng cho họ. Linh hứng nghiã là Thiên Chúa thúc đẩy những người ấy viết về Người và Người hướng dẫn lòng trí họ để họ viết ra.

Bởi vì Thiên Chúa đã linh hứng cho những người này viết sách ấy, nên họ không viết một điều gì sai lầm được khi dạy chúng ta những gì về Chúa và những gì cần thiết cho sự cứu độ chúng ta. Phải nhớ điều này là Kinh Thánh được viết ra để dạy chúng ta về những chân lý tôn giáo, chứ không phải về các qui luật khoa học; chẳng hạn, các tác giả xưa nghĩ rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ và mặt trời cùng các tinh tú chuyển vần chung quanh trái đất. Tuy nhiên, cái nhìn sai lạc thiếu khoa học này không ảnh hưởng gì đến những chân lý mà các ông đã viết ra để dạy về Chúa, và về những bổn phận của chúng đối với Chúa và giữa con người với nhau.

ĐẤNG BẢO VỆ VÀ THẦY DẠY CỦA MẠC KHẢI THIÊN CHÚA

Vì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mạc khải của Người ngang qua nhiều người và trong nhiều dạng khác nhau, nên Người chỉ định vài người để nên người bảo vệ và dạy dỗ chân chính về những chân lý này thì cũng là điều hợp lý thôi. Dầu sao, ở đây chúng ta không bàn đến những sự kiện của cuộc sống, nhưng về những chân lý siêu nhiên nhờ đó con người được ơn cứu độ. Ở đầu chương này, Ngài đặt Giáo Hội của Ngài trong tay các tông đồ và những kẻ kết vị của các ông khi Ngài nói:

            “Mọi quyền năng đã được ban cho Thầy... Vậy các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân...dạy họ giữ hết mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và này Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:18-20)

Những người kế vị các tông đồ ngày nay là Đức Giáo Hoàng (cầm giữ quyền hành của Thánh Phêrô) và các giám mục trên khắp thế giới. Quyền giảng dạy của các ngài được gọi là quyền giáo huấn (magisterium) hay là chưc vụ giáo huấn chính thức của Giáo hội. Chỉ có các ngài (hay chính Đức Giáo Hoàng) mới có quyền dạy cho chúng ta biết điều gì là tín điều Kitô giáo đích thực. Quyền giáo huấn hướng dẫn các thành viên của Giáo hội Chúa Kitô về những gì các tín hữu trung thành phải tin và phải làm. Cũng như 12 tông đồ, Đức Giáo Hoàng và các Giám mục hiệp thông với ngài đều được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, được giữ gìn không phạm một sự sai lầm nào về đức tin, và là những người bảo vệ chính thức của mạc khải trên trần gian. Đặc ân này, giảng dạy không sai lầm về những gì thuộc về đức tin và luân lý, gọi là ơn vô ngộ. Với năng quyền và uy tín của Chúa Giêsu, Đức Giáo Hoàng và các giám mục công bố Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu và dạy bảo chúng ta phải sống đời Kitô hữu thế nào trong hành trình của chúng ta về Thiên Đàng, là quê hương vĩnh cửu của mình.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Tân Ước - Cựu Ước - Mầu nhiệm - Truyền Thống - Sách Tin Mừng - Kinh Thánh - Linh hứng - Kinh tin kính - Mạc khải của Thiên Chúa - Ơn vô ngộ - Quyền giáo huấn.

PHẦN SINH HOẠT

I.          Câu hỏi:

     1.   Những chân lý Chúa mạc khải là những chân lý gì?

     Những chân lý Chúa mạc khải là những chân lý được tóm kết cách riêng trong Kinh Tin Kính cuà các tông đồ. Chúng được gọi là những chân lý đức tin, vì chúng ta phải tin những chân lý ấy, với một lòng tin tưởng vững vàng, như là do Chúa phán dạy, Người là Đấng không thể lừa dối mà cũng không thể sai lầm bao giờ.

2.         Kinh Tin Kính của các tông đồ là gì?

Kinh tin kính của các tông đồ là bản tuyên xưng đức tin vào những mầu nhiệm chính yếu và những chân lý khác do Thiên Chúa mạc khải qua Đức Giêsu Kitô và các tông đồ, và được Giáo hội dạy lại.

3.         Mầu nhiệm là gì?

Mầu nhiệm là một chân lý hoàn toàn vượt quá lý trí chúng ta, nhưng không nghịch lại lý trí, và chúng ta tin vì Chúa đã mạc khải ra điều ấy.

4.         Những mầu nhiệm chính yếu mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh tin kính là gì?

Những mầu nhiệm chính yếu được tuyên xưng trong Kinh tin kính gồm hai mầu nhiệm này: Thiên Chúa độc nhất có Ba ngôi và mầu nhiệm Nhập Thể, Thương khó và sự chết của Chúa Giêsu Kitô.

5.         Chúng ta tìm thấy ở đâu những điều Chúa đã mạc khải và đưa ra để chúng ta tin, qua trung gian của Giáo hội?

Những điều Chúa đã mạc khải và được đưa ra để chúng ta tin, qua trung gian của Giáo hội, được bảo tồn trong Kinh Thánh và trong Truyền Thống.

6.         Kinh Thánh là gì?

Kinh Thánh là một tập hợp những sách được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, trong Cựu Ước và Tân Ước, và Giáo Hội tiếp nhận như là công trình của chính Chúa.

7.         Truyền thống là gì?

Truyền thống là giáo huấn sinh động của Đức Giêsu Kitô và của các tông đồ, và được Giáo hội chuyển đạt không suy chuyển từ các ngài đến chúng ta.

8.         Ai có đủ uy tín để giúp chúng ta biết cách đầy đủ và đúng nghĩa những chân lý chứa đựng trong Kinh Thánh và Truyền thống?

Chỉ có Giáo hội mới có đủ uy tín để giúp chúng ta biết những chân lý chứa đựng trong Kinh Thánh và Truyền thống cách đầy đủ và đúng nghĩa của nó, vì Chúa đã trao phó kho tàng đức tin cho Giáo hội, và đã sai Chúa Thánh Thần đến với Giáo Hội. Chúa Thánh Thần trợ giúp Giáo hội liên tục, hầu Giáo hội không phạm một điều sai lầm nào trong khi thi hành bổn phận của mình.

************************************************

 

BÀI 3:     SỰ TẠO DỰNG

            Thiên Chúa thông chia cho chúng ta sự đẹp đẽ, quyền năng và vinh hiển của Người trong thế giới kỳ diệu mà Người đã dựng nên. Kinh Thánh bắt đầu với sách Khởi Nguyên (Genesis), trong đó kể lại chuyện tạo dựng vũ trụ. Để đánh giá đúng hơn quyền năng tối cao của Thiên Chúa, chúng ta nên biết rằng tạo dựng có nghĩa là làm nên một cái gì từ hư vô. Toàn bộ vũ trụ đã ra hiện hữu chỉ vì Thiên Chúa muốn nó hiện hữu! Người không sử dụng bất cứ vật liệu nào để tạo dựng vũ trụ như chúng ta phải làm khi chế tạo một vật gì. Thiên Chúa chỉ nghĩ về vũ trụ, là nó được tạo dựng nên ngay! Chính vì thế mà Sách Khởi Nguyên kể lại rằng Thiên Chúa chỉ nói: “Hãy có ánh sáng, tức thì liền có ánh sáng.” (Gen. 1:3)

Trình thuật được linh hứng về sự tạo dựng, theo nguyên thủy, là một phần của truyền khẩu (những trình thuật có tính cách tôn giáo) của dân Do Thái. Họ đã truyền lại trình thuật này từ thế hệ này qua thế hệ khác để dạy dỗ và nhắc nhở cho dân chúng rằng:

1.         Chỉ có một Thiên Chúa độc nhất và Người là Đấng Tạo Hóa của tất cả những gì hiện hữu - còn người ngoại đạo thường tin rằng mỗi thần của họ đã tạo dựng nên những sự vật khác nhau trên thế giới này.

2.         Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới một cách có thứ tự và là cách thông chia tình thương của Người cho con người - nhiều người ngoại đạo đã tin rằng thế giới này là kết quả của một cuộc chiến giữa các thần của họ, hoặc nó đã có bởi một sự ngẫu nhiên.

3.         Mọi sự do Thiên Chúa tạo dựng nên đều là tốt lành - còn các người ngoại đạo thì tin rằng những sự vật đã được tạo dựng nên là công việc của một thần ác, muốn tạo dựng con người để làm nó khổ.

VIỆC TẠO DỰNG NHÂN LOẠI

Sách Khởi Nguyên cũng kể lại cho chúng ta nghe về việc tạo dựng người nam và người nữ đầu tiên, tổ tông của cả nhân loại.

Và Thiên Chúa đã phán: “Ta hãy làm ra người giống hình ảnh Ta, như họa ảnh của Ta... Và Thiên Chúa đã dựng nên người theo hình ảnh mình; theo hình ảnh của Thiên Chúa, Người đã dựng nên nó. Là nam là nữ, Người đã dựng nên chúng. Và Thiên Chúa đã chúc lành cho chúng vằ nói: Hãy sinh sôi nảy nở và hãy đầy dẫy trên đất, hãy bá chủ nó. Hãy thống trị trên biển cả và chim trời, và mọi thứ sinh vật nhung nhúc trên đất. Thiên Chúa còn phán: Này Ta ban cho các ngươi mọi thứ hoa cỏ sinh hạt giống, có trên cả mặt đất, và mọi thứ cây có quả sinh hạt giống, chúng sẽ làm của ăn cho các ngươi.” (Gen. 1:26-27)

Trình thuật này kể rằng Thiên Chúa đã có một chương trình cho con người lớn hơn là tất cả thế giới thiên nhiên còn lại; Người đã cho con người quyền bính trên các loài thú và loài cây trên mặt đất, là những thứ được dựng nên cho con người sử dụng (để làm của ăn, áo mặc hay hưởng thụ thiên nhiên). Chương thứ hai của Sách Khởi Nguyên kể cho chúng ta một trình thuật khác về việc tạo dựng:

Giavê Thiên Chúa đã phán: “Không tốt cho con người nếu chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó một cái gì trợ giúp đương đối với nó. Và Giavê Thiên Chúa đã giáng xuống trên con người một giấc ngủ tê mê, và khi nó đang thiếp ngủ, Người đã rút ra một xương sườn của nó... và đã làm thành người đàn bà với sườn đã rút tự người. (Gen. 2:18,19,21-22)

Tổ tông của loài người tên là Adam và Eva, vì Ađam có nghĩa là người, và Eva có nghĩa là mẹ các sinh linh.

CON NGƯƠI

Trong Sách Khởi Nguyên, chúng ta thấy Thiên Chúa, sau khi đã dựng nên thể xác con người, Người đã hà hơi sự sống (vào Ađam), và người đã có sự sống. (Gen 2:7) Điều này nói lên rằng mỗi người chúng ta đều được làm thành bởi một thân xác và một linh hồn. Thân xác thì làm bởi vật chất (cũng như tất cả mọi vật có thể thấy, có thể sờ được...) và như thế, điều này làm con người giống các thú vật và những tạo vật khác có thể chất. Nhưng linh hồn thì thiêng liêng, nghĩa là như Thiên Chúa, không thấy được nhưng có thật. Chính vì thế mà Kinh Thánh nói rằng con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa; vì được tham dự với Người vào thế giới thần linh, và khác với tạo vật có thể chất khác, con người sẽ sống mãi mãi vì có linh hồn bất diệt.

Linh hồn có hai khả năng thiêng liêng làm chúng ta rất giống Đấng Tạo Hóa, đó là lý trí và ý muốn. Nhờ lý trí mà chúng ta suy tưởng, lý luận và biết phải trái. Còn ý muốn giúp chúng ta lựa chọn cách tự do những điều mình sẽ làm, sẽ suy tưởng hay sẽ nói... Nó cho khả năng biết yêu, biết giận ghét, làm điều thiện hay ác, tội lỗi. Tất cả chúng ta đều biết: không có tạo vật nào trên trần gian có thể làm được những điều này.

Cả thể xác lẫn linh hồn đều quan trọng đối với con người, nều không, Thiên Chúa đã dựng nên nó. Tuy linh hồn bất diệt và có nhiều khả năng to lớn, nhưng không có xác, thì chúng tasẽ không phải là những con người thật sự và đầy đủ. Chúa truyền cho chúng ta phải tôn trọng và chăm sóc cả hai ân huệ ấy mà Người đã ban cho chúng ta.

THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CHO CON NGƯỜI NHỮNG ÂN HUỆ ĐẶC BIỆT

Khi Thiên Chúa dựng nên Ađam và Eva, Người đã ban cho hai ông bà nhiều thứ hơn là thân xác tự nhiên và linh hồn của họ: Người đã ban cho họ những ân huệ đặc biệt. Những đặc ân này làm cho đời sống của họ được hợp nhau và bình an, giúp họï không cãi vã và hành động ích kỷ.

Thiên Chúa cũng gìn giữ họ khỏi đau khổ, bệnh tật và sự chết. Nhưng nhất là Người đã ban cho họ được thông phần vào sự sống Thiên Chúa của Người với ơn thánh hóa. Ơn này làm cho họ cao trọng hơn là những tạo vật khác của Người: nó làm cho họ trở nên con cái Chúa và là những kẻ thừa tự Nước Trời, nơi họ sẽ sống mãi mãi với Người! Những ân huệ này là của họ và sẽ được truyền lại cho tất cả con cháu của họ. Chúa chỉ đòi hỏi họ một điều là hãy yêu mến và phụng sự Người suốt đời họ.

VIỆC TẠO DỰNG THIÊN THẦN

Trước khi chúng ta bàn đến những biến cố đã dẫn con người đến sự mất mát các ân huệ của Chúa, chúng ta nên biết rằng Thiên Chúa trước tiên đã tạo dựng nên những thần linh đơn thuần từ hư không, gọi là các thiên thần. Họ là những vị có trí thông minh như chúng ta, nhưng không có thể xác. Các thiên thần thông minh và quyền năng hơn loài người, nhưng các ngài cũng được dựng nên để thờ phuợng và phụng sự Thiên Chúa.

Sau khi dựng nên các thiên thần, Người đã thử thách họ xem có tự do yêu mến và tuân giữ các lệnh truyền của Người không. Một số thiên thần do Lucifer cầm đầu đã từ chối phụng sự Thiên Chúa, và đã chống lại Người. Vì thế Người đã làm nên Hỏa ngục, nơi những tạo vật không chịu sống với Người sẽ đi đến đó. Những thiên thần này đều tốt lành khi Chúa dựng nên. Nhưng họ đã trở nên ác do tự do của mình. Chúng ta gọi các thiên thần bất tuân lệnh Chúa là những thiên thần sa đọa hay quỷ dữ. Họ theo Lucifer, còn được gọi là Satan, hay quỷ satan. Họ ra sức dụ dỗ tất cả mọi tạo vật quay lưng lại với Chúa, vì không muốn các tạo vật phụng sự Người.

Những thần linh yêu mến Chúa và tuân phục các lệnh truyền của Người được gọi là các thiên thần trung thành hay các thiên thần tốt. Họ có vị lãnh đạo là Tổng lãnh thiên thần Micae. Những thiên thần này giúp chúng ta sống đời sống tín hữu thánh thiện để phụng sự Thiên Chúa và sẽ được về sống với Người trên Thiên đàng sau khi chết. Chúa đã cắt đặt một thiên thần cho mỗi người chúng ta được gọi là thiên thần hộ thủ (bản mệnh) và nhiệm vụ là giúp chúng ta trên đường về trời.

CON NGƯỜI SA NGÃ

Cũng như các thiên thần, Thiên Chúa đã thử thách ông bà đầu tiên của chúng ta xem họ có yêu mến và phụng sự Người hay không. Người ban cho Ađam và Eva một vườn tuyệt đẹp để sống, Vườn Eđen (còn gọi là Địa Đàng). Và Người dạy họ được phép ăn tất cả những gì trong vườn, trừ trái của một cây nào đó. (thường gọi là cây biết lành biết dữ).

Quỷ thấy đó là dịp để dụ dỗ Ađam và Eva phản bội Chúa. Nó vào vườn và dụ dỗ hai ông bà tổ tông của chúng ta. Nó nói nều ăn trái cây cấm này, các ngài sẽ trở thành những thần linh giống như Thiên Chúa vậy! Tội nghiệp cho ông Ađam và bà Eva! Các ngài tin lời dối trá của Satan và đã ăn trái cấm. Ngay lúc đó, ông bà biết mình đã phạm tội, và lòng đầy xấu hổ. Ông bà cố tránh mặt Chúa, và điều này dĩ nhiên là không thể làm được.

Chúa gọi ông bà ra và phán bảo rằng từ nay họ phải bị đuổi ra khỏi Địa Đàng và phải chịu đau khổ, bệnh tật, và phải chết. Thiệt hại hơn nữa, từ nay họ không còn được sống trong tình trạng ơn thánh đã làm cho họ thành con cái và bạn hữu của Chúa, là những kẻ thừa tự Nước Trời. Từ đó họ đã truyền lại cho con cháu một bản tính nhân loại đã suy yếu vì tội lỗi.

Chúng ta gọi tội này của Ađam và Eva là tội nguyên tổ, vì là tội đầu tiên đã do con người phạm và đã truyền lại từ Ađam là nguyên tổ loài người. Những hậu quả kinh khủng của tội này (bị tách lìa khỏi Chúa, bệnh tật, chết chóc, nô lệ sự tội và ma quỷ) được gọi là những hiệu quả của tội nguyên tổ. Chỉ trừ Chúa Giêsu và Đức Maria là không mắc tội này, còn tất cả nhân loại kể từ thời Ađam và Eva đều mắc tội nguyên tổ và lãnh chịu những hậu quả của nó trong linh hồn của mình và cần được ơn cứu độ.

Chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa không tốt với chúng ta khi Người cất những ân huệ ấy khỏi chúng ta. Những ân huệ này là được ban cho, chứ không do ta đáng được. Với tất cả tình thương yêu của Người, Chúa đã nói rõ cho Ađam vả Eva biết hậu quả của việc bất tuân sẽ như thế nào khi Người phán: “Các ngươi được tự do ăn mọi trái cây trong vườn, ngoại trừ cây biết tốt xấu. Các ngươi không được ăn trái cây đó; vì lúc nào các ngươi ăn trái của nó, chắc chắn các ngươi sẽ phải chết.” (Gen. 2:16-17)

THIÊN CHÚA HỨA BAN ĐẤNG CỨU CHUỘC

Cho dù con người đã phạm tội chống lại Chúa, Chúa vẫn tiếp tục yêu thương Ađam và Eva. Người muốn họ và tất cả loài người phát xuất từ hai ông bà được sống trong tình nghĩa với Người. Cho nên Người đã hứa sẽ sai một Đấng Cứu Chuộc đến, một Đấng có thể giao hòa chúng ta lại với Chúa và phục hồi đời sống ơn thánh lại cho linh hồn chúng ta. Chúa đã phán với quỉ dữ rằng Đấng Cứu Chuộc này sẽ sinh ra từ một người nữ, khi phán rằng: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn ba, giữa dòng giống người và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân bà.” (Gen. 3:15)

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Tạo dựng - Thân Xác - Linh Hồn - Bất diệt - Ơn thánh hóa - Thiên Thần tốt - Thiên thần xấu - Thiên đàng - Hỏa ngục - Tội nguyê tổ - Đấng cứu chuộc.

PHẦN SINH HOẠT - Các Câu hỏi:

1.         Tại sao Thiên Chúa được gọi là Đấng Tạo dựng Trời và đất?

Thiên Chúa được gọi là Đấng tạo dựng trời đất, nghĩa là tất cả vũ trụ, vì Người đã làm ra nó từ hư vô. Làm một vật nào từ hư vô thì gọi là tạo dựng.

2.         Thế giới này có phải là công trình của Thiên Chúa tất cả không?

Phải, thế giới này là công trình của Thiên Chúa tất cả, và sự vĩ đại kỳ diệu của nó, vẻ đẹp, và trật tự của nó phản ảnh quyền năng vô cùng, sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Chúa.

3.         Có phải Thiên Chúa chỉ tạo dựng vật chất có trong vũ trụ không?

Không, Thiên Chúa không chỉ tạo dựng những sự vật chất có trong vũ trụ, nhưng Người còn dựng nên những thần linh đơn thuần, và Người dựng nên linh hồn của mỗi con người.

4.         Thần linh đơn thuần là gì?

Thần linh đơn thuần là những hữu thể thông minh mà không có thân xác.

5.         Làm thế nào mà chúng ta biết được rằng có những tạo vật chỉ là thần linh đơn thuần lại hiện hữu?

Thưa bằng đức tin.

6.         Những tạo vật nào là đơn linh đơn thuần mà chúng ta biết được bằng đức tin?

Bằng đức tin chúng ta biết được có những thần linh đơn thuần là những tạo vật tốt được gọi là các thiên thần, và những thần linh đơn thuần là những tạo vật xấu được gọi là quỉ dữ.

7.         Các thiên thần là gì?

            Thiên thần là những trợ tá vô hình của Chúa, và họ cũng là những kẻ bảo vệ chúng ta, vì Chúa đã giao phó mỗi người chun1g ta cho một trong những thiên thần bảo vệ ấy.

8.         Chúng ta có những bổn phận nào đối với các thiên thần?

Chúng ta phải cung kính và tôn trọng các thiên thần; và đối với thiên thần hộ thủ, còn phải biết ơn, lắng nghe những điều các ngài soi dẫn, và không bao giờ xúc phạm sự hiện diện của ngài bằng phạm tội trọng.

9.         Quỉ là ai?

Quỉ là những thiên thần đã nổi loạn chống lại Chúa vì kiêu ngạo và đã bị ném xuống hỏa ngục; vì ghét Chúa nên chúng cám dỗ loài người làm các điều ác.

10.       Con người là ai?

Con người là vật có lý trí, gồm thể xác và linh hồn.

11.       Linh hồn là gì?

Linh hồn là phần thần linh của con người, nhờ đó mà con người sống, hiểu biết và có tự do; do đó có khả năng biết, yêu mến và phụng sự Chúa.

12.       Linh hồn con người co chết cùng với thể xác không?

Linh hồn sẽ không chết theo thể xác của nó, nhưng sẽ còn sống mãi vì nó là thực tại thiêng liêng.

13.       Chúng ta phải săn sóc linh hồn mình thế nào?

Chúng ta phải quan tâm s8an sóc linh hồn mình, vì nó là phần cao trọng hơn trong chúng ta, nó bất diệt, và chi bằng cách cứu linh hồn mình mới có thể có hạnh phúc muôn đời.

14.       Con người có tự do là thế nào?

Con người có tự do vì có thể làm hay không làm một việc gì gì, hoặc làm việc này hơn là việc khác, như kinh nghiệm cá nhân thường cho ta thấy.

15.       Nếu con người có tự do, nó có thể làm điều ác không?

Vì có tự do, nên con người cũng có thể làm điều ác, nhưng nó không được phép làm điều ác vì là sự dữ. Do đó, tự do của con người chi được dùng để làm điều tốt mà thôi.

16.       Ai là những người đầu tiên?

Đó là ông Ađam và bà Eva đã được Thei6n Chúa dựng nên trực tiếp. Tất cả những người khác đều được sinh ra từ họ. Đo đó họ được gọi là tổ phụ loài người.

17.       Có phải con người đã được dựng nên yếu đuối và tội lỗi như hôm nay không?

Không phải con người đã được dựng nên yếu đuối và tội lỗi như chúng ta bây giờ, nhưng được đặt trong tình trạng hạnh phúc, với số phận và những ân huệ vượt quá khả năng và bản tính nhân loại.

18.       Số phận Thiên Chúa giao phó cho con người là gì?

Chúa giao ph1o cho con người số phận cao cả là được thấy và hưởng mãi mãi dung nhan Người là Đấng tốt lành vô cùng. Nhưng vì điều này vượt quá khả năng và bản tính nhân loại, nên con người cũng lãnh nhận được tù Thiên Chúa một năng lực siêu nhiên để thực hiện số phận này gọi là ơn thánh.

19.       Ngoài ơn thánh, Thiên Chúa còn ban cho con người điều gì nữa không?

Thiên Chúa còn ban cho con người ơn được khỏi phải yếu đuối và đau khổ của cuộc sống, và khỏi phải chết, miễn là đừng phạm tội. Nhưng bất hạnh thay! Ađam và Eva với tư cách là thủ lãnh nhân loại, đã phạm tội mà tham dự vào việc ăn trái cấm.

20.       Tội Ađam là tội gì?

Đó là kiêu ngạo và bất phục tùng Thiên Chúa.

21.       Tội của Ađam gây ra tai họa nào?

Tội ấy tước đoạt khỏi nguyên tổ và mọi nguời ơn thánh và tất cả mọi ơn siêu nhiên khác. Vì thế Ađam và mọi người đều dưới quyền của tội lỗi, ma quỷ và sự chết, của mê muội, của tất cả khuynh hướng xấu, của mọi thứ khốn khổ và sau cùng bị loại khỏi vường Địa Đàng.

22.       Tội Ađam đã làm mọi người phải vướng do lỗi của ông gọi là tội gì?

Tội ấy gọi là tội nguyên tổ, vì nó xẩy ra từ lúc nguyên thuỷ của loài người và đã được truyền lại với bản tính nhân loại cho mỗi người và cho tất cả mọi người sinh ra từ một nguồn gốc của ông ba nguyên tổ.

23.       Tội nguyên tổ gồm có những gì?

Tội nguyên tổ gồm có việc mất ơn thánh nguyên thuỷ mà Thiên Chúa muốn chúng ta có, nhưng chúng ta lại không có, vì tổ tông loài người đã làm mất ơn thánh này nơi ông bà và nơi nơi chúng ta là những kẻ được sinh ra từ họ, vì sự không vâng lời Thiên Chúa.

***************************************************

BÀI 4:   CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA

Trình thuật kỳ diệu kể việc Thiên Chúa chuẩn bị thế gian đón Chúa Giêsu Kitô đến và kể việc Chúa Giêsu thực hiện chương trình này để cứu chuộc, hay là cứu độ loài người được gọi là lịc sừ cứu độ. Chúa Giêsu đến để phục hồi lại những gì đã mất do tội nguyên tổ loài người.

Thiên Chúa đã quyết địnhthành lập một dân cho Người, một dân tuyển chọn. Người sẽ mạc khải chính bản thân Người và chương trình cứu độ của Người. Từ trong lòng cộng đồng thánh này, Người sẽ chọn một người nữ để làm Mẹ của Đấng Cứu Chuộc.

THIÊN CHÚA KÊU GỌI ABRAHAM

Thiên Chúa chọn một người tên Abram sống ở trên vùng đất Mêsôpôtamia cách đấy gần 4000 năm. Người đã kết giao ước (thỏa thuận hay lời hứa) với ông, và hứa sẽ cho ông làm cha nhiều con cháu và họ sẽ trở thành một dân lớn. Thiên Chúa cũng cho ông biết là nước ấy sẽ tồn tại trong một nơi kỳ diệu gọi là Đất hứa.

“Ta sẽ cho ngươi thành một dân tộc lớn, ta sẽ chúc lành ngươi, và ta sẽ cho danh ngươi nên lớn lao, ngươi sẽ được mọi chúc lành. Ta sẽ chúc lành cho những ai chúc lành ngươi. Ai đụng đến ngươi Ta sẽ chúc dữ cho nó. Mọi thí tộc trên trần sẽ lấy ngươi mà cầu phúc cho nhau.” (Gen 12:2-3)

Abram đã bằng lòng lãnh nhận giao ước, và để chứng tỏ sứ mạng mới của ông trong cuộc sống, Thiên Chúa đã ban cho ông một tên mới là Abraham, có nghĩa là Cha của nhiều dân tộc. Khi Abraham bằng lòng nhận giao ước này, ông đã tin hoàn toàn vào Chúa, vì ông và vợ ông đã già lắm mà vẫn tin Thiên Chúa sẽ cho ông bà được nhiều con cái. Ông bà một lòng trông cậy nới Chúa đến nỗi sẵn sàng rời bỏ gia đình và nhà cửa lên đường đi tới Đất hứa. Các Kitô hữu đầu tiên nhìn nhận đức tin lớn lao mà ông Abraham đã đặt nơi Thiên Chúa. Điều này được nói đến trong thư gửi dân Do Thái:

“Bởi tin, Abraham được kêu gọi và đã vâng lời ra đi đến xứ ông sẽ nhận lấy làm cơ nghiệp; ông ra đi mà không biết mình đi đâu.” (Hbr. 11:8)

Cho đến ngày nay, trong phụng vụ của Giáo hội Công giáo, chúng ta tôn kính con người thánh thiện này mà gọi: Abraham, cha của chúng ta trong đức tin. (Kinh Nguyện Thánh Thể I)

ISAAC TIẾP TỤC GIÁO ƯỚC

Sau khi Thiên Chúa hứa ban nhiều con cái, Abraham đã được một người con mà ông đặt tên là Isaac. Không cân phải nói, trẻ nhỏ ấy rất được cha mẹ gia yêu thương thắm thiết. Một hôm, Thiên Chúa muốn thử lòng tin của Abraham. Người ra lệnh cho ông phải tế lễ đứa con độc nhất yêu dấu ấy cho Người như là một việc thờ phượng Người: “Ngươi hãy đem con ngươi, con một ngươi mà ngươi yêu dấu tức là Isaac đi tới đất Moria, và ở đó, hãy dâng nó làm lế tế toàn thiêu.” (Gen. 22:2)

Ông Abraham hiểu rằng con người phải yêu mến và phụng sự Thiên Chúa hơn cả gia đình mình, nên ông đã dẫn Isaac lên núi, và chuẩn bị tế lễ Isaac như Thiên Chúa đã truyền dạy ông làm. Nhưng khi lưỡi dao ssắp đâm vào Isaac, Thì một thiên thần kêu Abraham hãy ngừng lại và cho ông biết đó chỉ là sự thử lòng. Bây giờ Thiên Chúa đã biết Abraham yêu mến Người cách chân thành hơn bất cứ người nào khác. Thiên Chúa đã ân thưởng tình yêu này bằng lời hứa tiếp tục giao ước của Người với Isaac. Sau khi ông qua đời, Isaac đã trở nên tổ phụ thứ nhì, hay là người lãnh đạo của dân được tuyển chọn.

Lễ hy sinh con một nhà Abraham đã sẵn lòng dâng là hình bóng tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Một hình bóng là một người nào hay một biến cố nào xẩy ra trước một biến cố khác mà hai biến cố đều có cái gì giống nhau. Trong trường hợp này, hình bóng báo trước lễ hy sinh mà Thiên Chúa Cha sẽ làm, bằng cách để Chúa Giêsu Con Một của Người, chịu hy sinh trên thập giá vì tội lỗi của chúng ta.

GIAO ƯỚC TIẾP TỤC VỚI GIACOP

Isaac cưới một người con gái tên là Rebecca, và sinh ra hai người con trai là Esau và Giacóp. Thiên Chú ađã chọn Giacóp là người mà Ngài sẽ giữ giao ước đã ký kết với Abraham, khi Ngài nói:

“Ta là Giavê Thiên Chúa của Abraham, cha ngươi, Thiên Chúa của Isaac. Đất người đang nằm, ta sẽ ban cho ngươi và dòng giống ngươi... Mọi dân tộc trên trần sẽ lấy ngươi mà chúc phúc cho nhau. Ta sẽ ở cùng ngươi. Ta sẽ giữ gìn ngươi khắp nơi ngươi đi.”(Gen 28:13-15)

Ít lâu sau biến cố, Thiên Chúa ban cho Giacóp một tên mới, Israel, có nghĩa là “người đã đấu với Thiên Chúa”. Tên mới này rất quan trọng vì dân Chúa đẵ dúng nó như tên cho cộng đồng của họ: người Israel. Giacóp có 12 người con và tất cả đã trở thành cha của 12 chi tộc Israel, là thành phần dân tuyển chọn. Giacóp đã trở thành tổ phụ thứ ba của dân Chúa.

TRÌNH THUẬT VỀ GIUSE

Trong số các con đông đúc của Giacóp, có một người được ông yêu mến cách đặc biết đó là Giuse. Những người khác đã ganh tị với Giuse và tức bực với anh. Họ bàn tính với nhau để thanh toàn Giuse. Một hôm, khi ra đồng chăn chiên, họ đã bán Giuse cho một đoàn người chuyên buôn người nô lệ đang trên đường về Ai Cập. Rồi họ nói với cha là Giacóp đã bị thú rừng ăn thịt. Giacóp đau khổ vô cùng. Ông có ngờ đâu họ đã bán em họ với giá có mấy đồng bạc.

Truyện về Giuse này làm ta nhớ đến Chúa Giêsu là đấng đã bị một trong các bạn hữu của Ngài bán với giá 30 đồng bạc. Giuse cũng là một hình bóng báo trước về Chúa Giêsu vì ông sau này đã trở thành một vị cứu tinh cho các anh em của ông tại Ai Cập. Sự việc ấy xảy ra như sau:

Khi Giuse vừa đến Ai Cập, ông được một gia đìnhquyền thế ở đó mua, vì ông đẹp trai và thông minh. Sau đ1o ít lâu, ông đã trở thành một người hầu cận đáng tin cậy của Vua Pharaon (vua Ai Cập) và được giữ chức vụ quan trọng trong triều đình. Ông còn trở nên nhân vật thứ hai của Nước Ai Cập. Trong thời gian ấy, xứ của dân Chúa tuyển chọn phải trải qua một thời đói kém, cho nên các con của ông Giacóp đi qua Ai Cập để tìm lương thực sinh sống. Họ đã ngạc nhiên biết chừng nào khi gặp lại Giuse là người có quyền thế.

Về điểm này, Giuse cũng là hình bóng của Chúa Giêsu. Giuse đã tha thứ cho những ai đã ăn ở không phải với ông và còn cho họ tất cả những gì họ cần để sống hạnh phúc. Điều này chúng ta nhớ đến Chúa Kitô, là Đấng đã tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta và ban cho chúng ta ân huệ và phúc lành, nên chúng ta cần sống đời sống của người Kitô hữu tốt lành đang trên hành trình tiến về quê trời, là quê hương đích thực của mình.

Dân Do Thái đã sống 400 năm trên đất Ai Cập. Trong suốt thời gian Giuse còn sống, người Ai Cập quí trọng và kính nể người Do Thái ở lại tại Ai Cập nhiều năm, và cuối cùng những người có quyền hành không muốn thấy họ ở đó nữa. Rồi một vua Pharaon đã bắt người Do Thái làm nô lệ cho người Ai Cập. Các cháu chắt của ông Giacóp bị bắt đi làm những việc nặng nhọc từ sáng sớm đến chiều tối. Họ bị đày đọa như các con vật kéo xe, để xây cất những kim tự tháp ở Ai Cập. Dân Chúa mới nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi họ. Họ tự hỏi không biết Thiên Chúa rút lại lời giao ước mà Người đã kết với Abraham, Isaac, và Giacóp không. Chính trong giai đoạn khó khăn đó của lịch sử họ, mà Thiên Chúa đã sai một nhân vật rất đặc biệt đến với dân Người.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Lịch Sử Cứu Độ - Giao Ước - Đất Hứa - Tổ Phụ - Israel - Hình Bóng Báo Trước

*************************************************************

BÀI 5: MÔSÊ - VỊ NGÔN SỨ THÁNH

Trước khi Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc đến, nhân vật quan trọng bậc nhất trong dân Chúa tuyển chọn là ông Môsê, vị ngôn sứ đầu tiên của Thiên Chúa. Ông là người lãnh đạo thứ nhất, và đã làm dân Do Thái trở thành một dân tộc thống nhất.

Môsê được sinh ra tại Ai Cập, con của một người đàn bà Do Thái nghèo. Vào thời ông sinh ra, vua Pharaon đã ban một luật buộc giết hết mọi con trai của người Do Thái. Ông buộc như vậy vì ông thấy dân Do Thái đã trở thành một nhóm dân rất đông đúc; và nếu số dân họ cứ tiếp tục gia tăng, họ sẽ không chịu làm nô lệ một cách dễ dàng. Mẹ ông Môsê hy vọng có thể bảo vệ sự sống của con bà, nên bà đã giấu trẻ Môsê trong một cái thúng và đặt ở bờ sông Nilô.

Một ngày kia, con gái vua Pharaon tìm thấy bé Môsê và đã đem về nuôi như con ruột của bà. Môsê lớn lên trong cung điện nhà vua và được gọi là một người hoàng gia. Môsê biết mình thực sự là gốc Do Thái, nên ông thường viếng thăm những người Do Thái làm nô lệ. Một trong những lần đi thăm như vậy, ông đã thấy một người Ai Cập đánh đập một người Do Thái. Điều này làm ông rất giận dữ, và ông đã giết chết người Ai Cập đó. Sau đó nhận thấy mình sẽ gặp nhiều khó khăn vì vụ giết người này, ông đã trốn khỏi Ai Cập qua đất Mađian. Ở đó, ông làm nghề chăn dê cừu và cưới một người vợ tên là Sipôra, và ông đã có một gia đình.

THIÊN CHÚA KÊU GỌI MÔSÊ

Đã đến thời giờ Thiên Chúa nhớ lại giao ước đã ký với Abraham, Isaac và Giacóp, mà đáp lại lời cầu khẩn của dân Ngài đang bị làm nô lệ. Thiên Chúa đã hiện ra với Môsê trong một bụi gai bốc cháy và truyền ông phải trở về Ai Cập để giải thoát dân Do Thái khỏi ách nô lệ. Thiên Chúa nói với Môsê:

“Ta thấy rõ nỗi khổ của dân Ta ở bên Ai Cập và Ta đã nghe tiếng than chúng kêu lên trước đốc công, quả Ta đã biết nỗi khổ của chúng. Vậy bây giờ ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pharaon. Ngươi hãy đem dân của Ta, con cái Israel, ra khỏi Ai Cập... Ta sẽ ở với ngươi, và này những dấu chứng thực Ta đã sai ngươi. Khi ngươi đã dẫn dân ra khỏi Ai Cập... Các ngươi sẽ thờ Thiên Chúa trên núi này.” (Exodus 3:7,10-12)

Lúc ấy, Thiên Chúa cũng mạc khải danh Ngài cho Môsê. Ngài tự tỏ tên mình là Giavê, nghĩa là “Ta có” (I AM). Điều này nói cho chúng ta biết Thiên Chúa là nguồn gốc mọi vật được hiện hữu (hay được sinh ra trên đời này). Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng làm được mọi sự. Điều này cũng nhắc chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng Hằng Có, nghĩa là sự sống của Người không có bắt đầu và sẽ không bao giờ hết.

MÔSÊ TRỞ VỀ ĐẤT AI CẬP

Vâng lệnh Chúa, Mosê đã trở về Ai Cập, và ông được người Do Thái công nhận là một ngôn sứ do Thiên Chúa gửi đến. Ông chọn anh mình là Aaron làm người cộng tác trong việc phục vụ Thiên Chúa. Cả hai đến gặp vua Pharaon với sứ mạng này: “Hãy tha cho dân ta đi ... ''(Gen. 5:1)

Nhưng vua Pharaon không đếm xỉa gì đến lời đó! Ngược lại, ông tăng thêm công việc cho những người Do Thái và còn đối xử tàn tệ hơn nữa. Để trừng trị sự cứng đầu của Pharaon, Thiên Chúa đã đổ trên dân Ai Cập 10 tai ương:

- Nước đã trở thánh máu

- Ếch nhái tràn ngập cả xứ Ai Cập

- Muỗi, ruồi và một trận bụi dày đặc bao trùm cả nước

- Súc vật ngã ra chết

- Mưa đá

- Châu chấu phá hoại mùa máng

- Cả Ai Cập chìm trong tối tăm suốt ba ngày đêm

Mặc dầu những dấu lạ kinh hoàng này đến, Pharaon vẫn không chịu vâng lới Thiên Chúa để cho dân Do Thái đi!

THIÊN CHÚA VƯỢT QUA

Trước khi gửi đến tai ương thứ mười (vì lần này tất cả con đầu lòng của người Ai Cập, dù là người hay súc vật đều phải chết), Thiên Chúa truyền ông Môsê bảo mọi gia đình Do thái hãy làm một bữa ăn có tính cách tôn giáo để nên dấu hiệu làm họ thành những phần tử của dân thánh. Mỗi gia đình phải giết một con chiên và ăn nó với bánh không men và rau đắng. Họ phải ăn bữa thánh này trong tư thế đứng như thể sẵn sàng để lên đường đi xa. Trước khi kết thúc lễ nghi này, họ phải rảy máu chiên trên thành cửa nhà mình, vì đó sẽ là dấu hiệu làm nhà đó được khỏi hình phạt của tai ương thứ mười! Thiên Chúa sẽ đi vượt qua nhà dân Ngài. Do đó bữa này được gọi là Lễ Vượt Qua. Cho đến ngày nay, mỗi gia đình Do Thái hàng năm tụ họp nhau lại để mừng Lễ Vược Qua. Lễ này thường được cử hành gần Lễ Phục Sinh của Kitô giáo.

Bữa Vượt Qua là sự chuẩn bị đặc biệt của dân Chúa để hiểu sự chết đem ơn cứu độ của Chúa Kitô và Thánh Lễ; Thánh Lễ là bữa tiệc thánh và hy lễ của dân mới của Thiên Chúa, tức Hội Thánh. Ta thử so sánh những biến cố quan trọng này:

1.         Người Do Thái tụ họp lại để mừng Lễ Vượt Qua do lệnh truyền của Thiên Chúa.

- Người Kitô hữu tụ họp nhau lại mỗi Chúa Nhật để dâng Thánh Lễ do lệnh truyền của Chúa Kitô.

2.         Trong lễ nghi Do Thái, người ta tế lễ một con vật được gọi là chiên vượt qua.

- Trong Thánh Lễ Công Giáo, chúng ta dâng lên Chúa Cha hy lễ của Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa.

3.         Trong bữa ăn Vượt Qua, người Do Thái ăn chiên con đã tế lễ.

- Trong Thánh Lễ, chúng ta được mời lên rước Mình và Máu Chúa Kitô.

4.         Người Do Thái rảy máu của chiên bị giết trên thành cửa để thần chết không đến hại họ trong đêm ấy.

- Trong mọi Thánh Lễ, Máu Thánh Chúa Giêsu được đổ ra cách mầu nhiệm trong tích, vì tội chúng ta, để chúng ta được cứu rỗi khỏi chết đời đời.

5.         Và cuối cùng, nhờ nghi lễ Vượt Qua và tai ương thứ mười, người Do Thái được thoát khỏi ách nô lệ.

Nhờ Lễ hy sinh của Chúa Kitô, chúng ta được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và khỏi quỷ dữ.

Vì những nghi lễ thánh này quá giống nhau, nên phụng vụ giáo hội trong tuần thánh và lễ Phục Sinh gọi sự đóng đinh và sống lại của Chúa Giêsu là “Mầu Nhiệm Vượt Qua,” của Chúa Giêsu. Trong ththư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, ngài cũng dùng cùng một so sánh kho nói: “Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta đã được sát tế. Cho nên ta hãy mừng lễ với bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật.” (1Cor 5:7-8)

XUẤT HÀNH KHỎI AI CẬP

Pharaon sợ quyền năng Thiên Chúa của người Israel, nên đã để dân Do Thái rời đất Ai Cập. Chúng ta gọi cuộc hành trình từ Ai Cập đến Đất Hứa này là cuộc xuất hành. Nhưng khi dân Do Thái vừa rời khỏi đô thị của ông, Pharaon liền đổi ý, đã sai quân lính đi đưa người Do Thái trở lại. Lúc đầu dân Do Thái sợ hãi khi thấy quân Ai Cập tràn tới, nhưng Môsê nói với họ hãy trông cậy vào Chúa. Khi dân Do Thái vừa tới Biển Đỏ, Thiên Chúa liền ra tay can thiệp để cứu họ. Ngài cho Môsê giơ gậy lên khiến dòng nước biển rẽ ra làm đôi, và một con đường khô mở ra để họ vượt ngang qua biển. Quân lính Ai Cập rượt theo người Do Thái, nhưng đã muộn qúa rồi. Khi người Do Thái cuối cùng vừa tới bờ biển bên kia, nước đã ập lại chôn vùi toàn quân Ai Cập. Ta có thể mường tượng được nỗi vui mừng khôn tả và lòng tin tưởng vào Chúa tràn ngập lòng dân Ngài thế nào rồi! Tuy nhiên, dù đã chứng kiến sự che chở lạ lùng này, không bao lâu dân đã tỏ ra chán nản vì phải đi trong sa mạc, thiếu thốn lương thực và nước uống. Họ phàn nàn với Môsê: “Phải chi chúng tôi chết bởi ta Giavê trong đất Ai Cập ... Nhưng các ông đã đem chúng tôi ra sa mạc này để làm cả lũ chết đói ở đây!” (Exodus 16:3)

Môsê lên núi để tìm an ủi và sức mạnh nơi Giavê cùng cầu nguyện với Người. Thiên Chúa đã đáp lời và ban cho dân của ăn cách lạ lùng. Người đã ban cho họ một thứ bánh đặc biệt gọi là manna, và nước chảy ra từ một tảng đá. Bánh này do Thiên Chúa ban cách lạ lùng chính là hình bóng báo trước phép Thánh Thể, bánh bởi trời ban sự sống.

THIÊN CHÚA BAN MƯỜI GIỚI RĂN CHO MÔSÊ

Sau khoảng ba tháng đi quanh quẩn trong sa mạc, dân Israel đã tới chân núi Sinai. Môsê leo lên núi này để cầu nguyện một mình. Trong lúc ấy, Thiên Chúa hiện ra cho ông và ban cho ông Mười Giới Răn, cũng còn gọi là Lề Luật. Đang khi đó, dân chúng lại sinh ra chán nản và phàn nàn về tình cảnh của họ. Nhiều người đã quay lưng lại Thiên Chúa mà nói với Aaron rằng: “Đứng dậy đi! Hãy làm cho chúng tôi những thần để đi trước chúng tôi.” (Exodus 32:1)

Họ đem nấu chảy tất cả đồ nữ trang bằng vàng và đúc thành một hình tượng, hay hình một thần giả theo hình con bê. Họ thờ hình tượng này, nên đã phạm tội gọi là thờ quấy. Khi Môsê xuống núi Sinai, ông bừng bừng nổi giận trước tội của dân. Vì tại sao họ dám quay lưng lại với Thiên Chúa chân thật, Đấng đã kết giao ước với cha ông họ và đã giải thoát họ cách lạ lùng khỏi ách nô lệ! Môsê đã tiêu hủy hình tượng đó và trừng phạt những ai đã quỳ thờ nó. Dân Do Thái tỏ lòng thống hối với Thiên Chúa và Môsê, vì họ đã trót hồ nghi. Họ hứa sẽ làm tất cả những gì Chúa đòi hỏi để vẫn còn là dân tuyển chọn của Chúa. Môsê đã trở lên núi để lãnh nhận ý Chúa về việc này.

THIÊN CHÚA TÁI LẬP GIAO ƯỚC VỚI DÂN NGƯỜI

Thiên Chúa truyền dạy Môsê hãy nói với dân điều này: “Này Ta sắp kết một giao ước. Trước mặt toàn dân của Người, Ta sẽ làm những sự lạ chưa hề thấy ở một xứ nào, ở một nước nào... Nhưng phần các ngươi, các ngươi hãy giữ lấy điều Ta truyền cho các ngươi hôm nay.” (Exodus 24:10-11)

Môsê mới công bố Mười Giới Răn cho dân, và tất cả đều đáp lại: “Chúng tôi sẽ thi hành mọi điều Thiên Chúa đã phán.” (Exodus 24:3)

Từ ngày ấy trở đi, việc giữ các Giới Răn của Lề Luật đã trở thành đường lối của dân trong việc chứng tỏ lòng trung thành của họ với Thiên Chúa. Họ tự coi chính mình là những người Do Thái tốt bao lâu họ còn giữ Lề Luật. Họ có lòng cung kính sâu thẳm đối với Các Giới Răn, nên đã làm một Hòm Bia chứa nó, gọi là Hòm Bia Giao Ước. Người ta đặt các tâm bia Lề Luật trong đó, và mang nó theo trong suốt cuộc hành trình đi về Đất Hứa.

THIÊN CHÚA TRUYỀN DÂNG LỄ HY SINH

Một phần khác của giao ước được tái kết này là Thiên Chúa truyền các tư tế của Israel dâng của lễ hy sinh bằng súc vật để thờ phượng Người. Hy lễ là việc dâng lên Thiên Chúa một cái gì ta quý trọng. Các của lễ đó phải được dâng trên một Bàn Thờ đã được hiến thánh chỉ để dành riêng cho việc này mà thôi. Mỗi lần một lễ hy sinh được dâng, thì dân phải nhớ đến giao ước và đến bổn phận phải tuân giữ Lề Luật. Trong khi dâng lễ, các tư tế xin Chúa thứ tha các tội lỗi của dân.

Suốt mấy thế kỷ của lịch sử cứu độ sau đó (cho đến ngày Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá làm lễ Hy sinh), dân Do Thái vẫn tiếp tục dâng hy lễ lên Thiên Chúa. Như thế việc thờ phượng bằng hy tế là một biến cố tôn giáo quan trọng trong đời sống dân Chúa.

DÂN DO THÁI VÀO ĐẤT HỨA

Sau 40 năm hành trình qua sa mạc, cuối cùng dân đã vào được Đất Hứa. Tuy thế, Môsê không được vào vì đã có một lần ông nghi ngờ quyền năng của Thiên Chúa. Tuy là một người thánh thiện và là ngôn sứ, ông cũng phải chịu hình phạt này khi bất tuân lệnh Thiên Chúa. Điều này chứng tỏ chỉ có một tội thì cũng qúa nhiều trước mặt Thiên Chúa. Môsê qua đời ngay khi dân đến Đ6át Hứa. Sau khi chốn cất ông xong, dân Do Thái đã vào đất Thiên Chúa hứa cho họ từ ngàn xưa, đất mà Người đã nói với Abraham, Isaac và Giacóp.

DO DUỆ VÀ CÁC QUAN ÁN ISRAEL

Gio Duệ là người kế vị ông Môsê với tư cách là người lãnh đạo và ngôn sứ của dân. Ông cũng là một chiến sỹ anh dũng đã chỉ huy dân Do Thái trong trận chiến chống các dân ngoại bang đã xâm chiếm đất của họ, khi họ bị làm nô lệ ở Ai Cập. Sách Gio Duệ trong Cựu Ước thuật lại cho ta nghe về con người can đảm này và cách ông đã phục vụ Thiên Chúa. Trước khi ông qua đời, ông đã triệu tập dân Do Thái và làm lại giao ước với Thiên Chúa.

Sau khi Gio Duệ qua đời, việc lãnh đạo dân Do Thái được thực hiện cách khác bằng các quan án. Những vị này không phải là những người ngồi xử án như các thẩm phán thời đại hôm nay, nhưng là những anh hùng đánh giặc đã thắng nhiều trận lớn lao cho dân Chúa. Thời đại các quan án kéo dài cho đến khi Israel cần những nhà quân sự để chiếm lại lãnh thổ của họ. Một khi cộng đồng dân Chúa đã được thiết lập vững chắc như một quốc gia rồi, thì công việc của các quan án chấm dứt. Và một hình thức lãnh đạo khác ra đời: đó là thời các vua.

CÁC VUA CAI TRỊ

Vào thời điểm này của lịch sử cứu độ, có một vị ngôn sứ thánh thiện tên là Samuel. Vì dân Israel muốn có một vua như các quốc gia khác, Giavê mới bảo Samuel xức dầu một vài người trung tín để làm vua dân của Chúa. Ông chọn một người tên là Saolê làm vua đầu tiên của dân Israel. Samuel xức dầu cho Saolê bằng cách đổ dầu lên đầu ông, để tỏ dấu ông được Chúa chọn. Nhưng Saolê đã tỏ ra ông làm một vua bất xứng và không bao lâu đã qua đời.

Người kế vị Saolê là Đavít, một trẻ chăn chiên, đánh thắng một tên lính khổng lồ Philitinh là Gôlêát. Đavít đã trở thành một vua vĩ đại nhất của dân Israel. Ông là một chiến sĩ anh dũng và một nhà cai trị tài ba. Tuy đã phạm vài tội khủng khiếp, nhưng ông đã thành tâm thống hối và Chúa đã tha thứ cho ông. Ông yêu mến Chúa và đặt nhiều bài kinh và thánh ca rất hay. Chúng ta gọi những bài ấy là Thánh Vịnh. Mãi đến bây giờ người ta còn dùng các bài ấy trong việc thờ phượng Chúa. Chính Vua Đavít là người đặt Giêrusalem làm kinh đô nước Do Thái và là trung tâm thờ phượng của họ. Thiên Chúa yêu mến Đavít và đã làm một lời hứa đặc biệt với nông: Người trong dòng dõi của ông sẽ làm vua muôn đời! Đó là lời báo trước về Chúa Giêsu, là miêu duệ của Đavít và là vua thật của dân Do Thái.

Sau khi vua Đavít qua đời, con của ông là Salômon lên thay thế. Salômon là nhà cai trị rất khôn ngoan, đã làm cho nước ông trở thành một nơi lý tưởng để sống. Những lời khuyên của ông được chép lại và có thể tìm thấy trong vài sách của Cựu Ước có tính cách giáo huấn. Salômon đã cho xây một đền thờ lộng lẫy tại Giêrusalem. Đền thờ này được trang hoàng rất xinh đẹp, bên trong lát vàng, vải qúi và các đồ trang trí lộng lậy.

Nhưng ít lâu sau khi Salômon qua đời, vương quốc Israel đã gặp nhiều khó khăn. Những người Do Thái sống ở miền Bắc đánh nhau với miền Nam. Họ đã chia đất hứa yêu qúi thành hai nước riêng biệt. Vương quốc miền Bắc gọi là Israel; còn miền Nam gọi là Giuđa. Chỉ vương quốc Giuđa còn trung thành với Thiên Chúa và chính sách của Đavít. Chính từ dân này mà Đức Kitô đã đến với chúng ta.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Lề Luật - Xuất Hành - Thần tượng - Bàn Thờ - Hiến Thánh - Xức Dầu - Thánh Vịnh - Giavê - Lễ Vượt Qua - Mầu Nhiệm Vượt Qua - Hòm Bia Giao Ước.

Mười Giới Răn của Thiên Chúa

Thứ nhất: Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.

Thứ hai: Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ.

Thứ ba: Giữ ngày Chúa Nhật.

Thứ bốn: Thảo kính cha mẹ.

Thứ năm Chớ giết người.

Thứ sáu: Chớ làm sự dâm dục.

Thứ bảy: Chớ lấy của người.

Thứ tám: Chớ làm chứng dối.

Thứ chính: Chớ muốn vợ chồng người.

Thứ mười: Chớ tham của người.

(Mười điều răn ấy tóm về hai điều sau đây: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự; Sau là yêu người như mình ta vậy. Amen.)

**********************************************************

BÀI 6: NHỮNG PHÁT NGÔN VIÊN ĐẶC BIỆT CỦA THIÊN

                                 CHÚA: CÁC NGÔN SỨ

Khi học về lịch sử cứu độ, chúng ta nhận thấy những người làm ngôn sứ đã đóng góp một vai trò quan trọng trong những quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Nhiều người hiểu sai vai trò của một ngôn sứ. Đa số nghĩ rằng ngôn sứ là một người báo trước những biến cố sắp xảy ra trong tương lai bằng những cách lạ lùng và bí nhiệm. Thật ra cũng đúng một phần, sứ mạng của ngôn sứ có thể báo trước những biến cố tương lai. Nhưng đó không phải mục đích chính của con người thánh thiện này. Ngôn sứ là một người được Chúa chọn để nói lên một sứ điệp lãnh nhận từ Thiên Chúa cho dân, thường thường sứ điệp này liên quan đến những lo âu hiện tại của họ, một cái gì mà họ cần nghe vì ích lợi thiêng liêng. Ngôn sứ nói những lời này dựa vào quyền bính, hay với phép lạ và quyền năng của Thiên Chúa.

SỨ MẠNG CỦA CÁC NGÔN SỨ TRONG ISRAEL

Thiên Chúa sai nhhiều người như thế này đến với dân Ngài. Họ được sai đến để nhắc nhở dân Do Thái về giao ước đã ràng buộc họ với Chúa. Các ngọn sứ nói cho dân biết phải trung thành với lề luật và phải khước từ thờ lạy tà thần như những láng giềng ngoại đạo của họ đã làm. Khi làm những việc này, các ngôn sứ thật sự đang chuẩn bị cho dân Do Thái chờ đón Đấng Messia đến, có nghĩa “Kẻ được xức dầu.” Người được xức dầu tiếng Hy Lạp là Christos, nghĩa là người được Thiên Chúa chọn để đóng một vai trò đặc biệt. Trong trường hợp này, người được xức dầu là Đấng Cứu Chuộc mà Thiên Chúa đã hứa sẽ sai đến cho nhân loại là Đức Giêsu Kitô.

Các ngôn sứ khuyến khích dân trông cậy vào Chúa, đừng trông cậy vào những quốc gia hùng mạnh trên thế giới để được hòa bình và che chở. Họ cảnh cáo dân rằng Chúa sẽ trừng phạt dân nếu không sống như dân thánh của Ngài bằng tuân giữa Lề Luật.

CÁC NGÔN SỨ LOAN BÁO SỨ ĐIỆP CỦA GIAVÊ BằNG NHIỀU CÁCH

Các ngôn sứ loan báo sứ điệp Giavê bằng nhiều cách. Họ nói bằng lời, đặt lời đó thành thơ, và đôi khi bằng những lời trào phúng! Họ nhiệt tình tận tụy với Chúa và với sứ mạng của họ đến nỗi sử dụng mọi cách có thể làm để buộc dân phải nghe lời Chúa và vâng phục lời ấy.

NHỮNG HẠNG NGÔN SỨ KHÁC NHAU

Những ngôn sứ của Thiên Chúa mà chúng ta biết là những vị mà những loan báo và đới sống đạo đức được ghi lại trong sách Cựu Ước. Họ được chia ra làm hai nhóm: Các ngôn sứ lớn và các ngôn sứ nhỏ. Các ngôn sứ lớn là những vị đã viết nhiều. Các vị đó là: Isaia, Giêrêmia, Eâdêkien và Daniel. Các ngôn sứ nhỏ không viết nhiều lắm như Hôsêa, Joel, Amos, Abdia, Jona, Mica, Nahum, Habacuc, Sophonia, Zacaria, và Malakia.

NGÔN SỨ ELIA VÀ ELISHA

Có hai ngôn sứ đại tài không có tên trong danh sách trên, vì các ngài không để lại cho chúng ta một bút tích nào. Nhưng đời sống của các ngài được ghi chép lại trong Kinh Thánh và các ngài là những người quan trọng trong lịch sử cứu rỗi. Tên các ngài là Elia và Elisha. Elia còn là vị ngôn sứ lớn nhất trong các ngôn sứ. Oâng rất tận tình với Chúa. Oâng được nổi tiếng sau vụ tranh tài với các tư tế ngoại đạo trên núi Carmêlô. Oâng muốn chứng tỏ cho dân biết rằng: Thiên Chúa của Israel là Thiên Chúa thật, cho nên ông đã bào các tư tế ngoại đạo dựng tế đàn và cầu khẩn thần linh của họ để lửa xuống trên các bàn thờ. Dĩ nhiên, họ đã cầu nguyện rất nhiều nhưng không có gì đã xảy ra. Còn Elia, khi ông dựng bàn thờ và cầu xin Thiên Chúa cho lửa xuống, thì một ngọn lửa từ trời xuống đốt cháy và thiêu hủy con vật được đặt trên ấy. Sự thánh thiện của Elia đã lôi kéo nhiều người đến với ông. Họ cũng muốn phụng sự Thiên Chúa.

Một trong các ngôn sứ quan trọng khác là Elisah. Oâng đã sống với ngôn sứ Elia và đã thấy Elia được đưa về trời trên một chiếc xe bằng lửa (2Kgs 2:11) . Elisha phụng sự Thiên Chúa với lờng mến và sự tận tụy đã tràn nghập tâm hồn thầy ông là Elia. Elisha đã làm nhiều phép lạ. Một trong những phép lạ đó là hóa bánh ra nhiều cho kẻ nghèo ăn. Như Chúa Giêsu đã làm sau đó mấy thế kỷ.

Elia và Elisha quan trọng cách đặc biệt đối với Giáo Hội Công Giáo, vì một trong những dòng tu lớn nhất, dòng Carmelô, đã được khai sinh nhờ các đệ tử của những vị ngôn sứ này. Các linh mục, tu sĩ, nữ tu và giáo dân thuộc về dòng Carmelô đã dâng hiến đời họ để cầu nguyện và hy sinh cho Thiên Chúa, để cầu cho những nhu cầu của dân, gìống như các vị ngôn sứ thánh thiện đã làm cách đó nhiều thế kỷ.

NGÔN SỨ ISAIA

Một ngôn sứ nữa quan trọng nhất với người Kitô hữu là ngôn sứ Isaia. Ngài đã sống 8 thế kỷ trước khi Chúa Kitô giáng sinh. Hơn các vị ngôn sứ khác, Isaia đã nói về Đấng Cứu Thế sẽ đến. Đây vài lới báo trước về Đấng Cứu Thế:

Ngươì nữ đồng trinh, Mẹ của Đấng Messia: “Một cô nươn gsẽ thụ thai và sinh con, và bà sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel (có nghĩa là Chúa ở cùng chúng tôi). (Is. 7:14)

Đấng Messia là một ánh sáng lớn: “Dân đi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng lớn, trên những kẻ ở xứ âm u, một ánh sáng đã rạng ngời.” (Is 9:1)

Đấng Messia sẽ là Đấng thống trị lớn lao: “Vì một trẻ đã sinh ra cho ta, một con trai được ban xuống cho ta. Vai Ngài đỡ lấy quyền bính, và thiên hạ hô tước hiệu Ngài là cố vấn kỳ lạ, Thần anh dũng, Cha đời đời, Vua bình an. Quyền bính của Ngài bao la và bình an vô tận trên nước của Ngài.” (Is. 9:5-6)

Đấng Messia sáng ngời trên dân Ngài: “Hãy vùng đứng, hãy bừng sáng! Vì đến rồi ánh sáng của Người và trên ngươi, vinh quang Giavê đã rạng... Hướng về ánh sáng ngươi, các dân cất bước, và vua chúa, theo ánh bình minh rạng trên ngươi.” (Is 60: 1,3)

Chúng ta dùng những lời ngôn sứ này về Đấng Messia, lấy từ Isaia trong Phụng Vụ Mùa Vọng và Giáng Sinh của Giáo Hội Công Giáo.

THÁNH GIOAN TẨY GIẢ, VỊ TIỀN HÔ CỦA ĐẤNG MESSIA

Vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước, và độc nhất hiện diện trong Tân Ước là Thánh Gioan Tẩy Giả. Ngài là “chiếc cầu” nối liền hai phần của lịch sử cứu độ, và Ngài có sứ mạng đặc biệt chuẩn bị cho dân Do Thái để đón nhận Đấng Cứu Thế. Gioan sinh ra trước Chúa Giêsu chỉ có sáu tháng. Ông là anh họ của Chúa Giêsu (mẹ ông là người họ hàng của Đức Maria). Thân sinh của ông là ông Zacaria và bà Elizabeth, đều cao tuổi và không có con. Ông bà rất muốn có đứa con! Một hôm khi Zacaria đang làm việc thờ phuợng Chúa trong đền thờ, một thiên thần hiện ra báo tin vui này:

“Đừng sợ! Zacaria, vì lời khẩn nguyện của ngươi đã được nhận. Elizabeth vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một người con và ngươi đặt tên nó là Gioan. Ngươi sẽ vui mừng hoan hỉ, vì nó sẽ nên cao trọng trước mặt Chúa.” (Lc 1:13-14)

Khi Gioan được sinh ra, Chúa Thánh Thần đã khởi hứng người cha với những lời lạ lùng về đứa trẻ. Ngài tỏ cho Zacaria biết Gioan sẽ là người tiền hô và báo trước về Đấng Messia. Người tiền hô là người đi t rước một người khác để chuẩn bị dân chúng đón Đấng Cứu Chuộc đến. Người báo trước sẽ báo một nhân vật quan trọng (trong hoàng gia) sẽ đến. Chúa Thánh Thần đã tỏ cho Zacaria những lời này về Gioan:

“Hài nhi con ơi, con sẽ được gọi là ngôn sứ của Đấng Tối Cao, vì con sẽ đi trước mắt Chúa, dọn lối cho Người, để ban cho dân Người biết ơn cứu độ, bởi ơn tha thứ của tội khiên.” (Lc 1:76-77)

Khi Gioan lớn lên, ông bắt đầu sứ mạng của ông trong vùng gần sông Gioađan, không xa thành Giêrusalem bao nhiêu. Ông dạy dân hãy ăn năn hối cải (từ bỏ những ước muốn và hành động tội lỗi của họ). Ông được gọi là “tẩy giả” vì ông sẽ dội nước trên những người muốn từ bỏ tội lỗi của mình, như một dấu hiệu họ ước ao thống hối. Ông thường nói với đám đông đến với ông: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng có người sẽ đến và quyền thế hơn tôi... Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần.” (Lc 3:16)

Gioan nói về Chúa Giêsu, Đấng sắp xuất hiện giữa dân chúng. Cũng giống như tất cả các ngôn sứ khác được Chúa sai đến, Gioan cũng bị hành hạ. Vua Hêrôđê sống đời sống tội lỗi và dâm dật, không muốn nghe Gioan nói rằng những hành động của ông ta là sai quấy. Hêrôđê đã bỏ Gioan Tẩy Giả vào tù và sau đó ra lệnh chém đầu ngài.

Gioan không bận tâm về việc ông phải chết, vì ông đã làm công việc mà ông phải làm. Ông đã trung thành chuẩn bị dân chúng nghe lời giảng dạy của Chúa Giêsu, nên ông sẵn sàng chết với một tâm hồn trung kiên. Thánh Gioan Tẩy Giả là một trong những vị thánh quan trọng nhất của Hội Thánh, sau Mẹ Maria, Gioan lãnh nhận vinh dự cao cả nhất trong lời kinh và phụng vụ của Hội Thánh.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Ngôn sứ - Messia - Lời tiên báo - Người tiền hô - Thống hối.

*********************************************************

BÀI 7: ĐỨC GIÊSU KITÔ

           LÀ CHÚA VÀ LÀ ĐẤNG CỨU CHUỘC CHÚNG TA

Thiên Chúa Giavê đã hứa với Ađam và Eva sẽ sai một Đấng Cứu Thế, Đấng sẽ hòa giải tội nguyên tổ và sự chia rẽ mà tội đã gây ra giữa con ngưòi và Đấng Tạo Hóa. Chúng ta đã thấy Thiên Chúa khởi sự chương trình cứu chuộc chúng ta bằng cách chọn một cộng đồng dân tộc, dân Do Thái, để Người mạc khải lần lần chương trình ấy. Người đã các ngôn sứ đến với dân tộc này để chuẩn bị họ đón Đấng Messia, “Người được xức dầu” của Thiên Chúa đến.

Nhiều ngôn sứ khác nhau đã báo cho dân Do Thái biết Đ6áng Cứu Thế đến với họ, nhưng các ngôn sứ không bao giờ nói cách chính xác Đấng ấy là ai. Đa số dân chúng mong đợi một vị lãnh tụ quân sự vĩ đại và quyền uy sẽ giải thoát họ khỏi áp bức chính trị. Còn việc nghĩ rằng Đấng Cứu Thế này chính là Thiên Chúa từ trời xuống để giải thoát họ khỏi ác nô lệ thiêng liêng do tội lỗi gây nên, và khỏi ma quỷ, thì điều đó họ không bao giờ mong đợi.

Những ngôn sứ đã cho dân vài chỉ dẫn về Đấng Messia và vài cách thức để nhận ra được Người khi Người đến. Họ nói Người thuộc chi tộc Giuđa (Gen 49:8-10). Người sẽ được một trinh nữ sinh ra (Is 7:14) trong thành Belem (Mica (5:2-4), một ngôi sao chiếu sáng trên trời để báo cho biết Đấng Messia đã sinh ra (Deut. 24:17), và Ngài sẽ ở một thời gian bên Ai Cập (Hosea 11:1-4) Dấng Cứu Chuộc này sẽ rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho dân nghèo và người khiêm cung (Is 5:1-3). Nhưng Người sẽ bị dân Người từ bỏ và điều này sẽ làm cho Người đau khổ rất nhiều. (Is 53:1-12)

Chắc chắn bạn có thể nhận ra đời sống của Chúa Giêsu trong các lời tiên báo nói trên. Một số người Do Thái nhìn nhận Ngài là Đấng Messia do Thiên Chúa gửi đến. Nhưng có nhiều người khác lại không tin.

CHÚA XUỐNG THẾ LÀM NGƯỜI

Trong tất cả mọi người nữ của dân được tuyển chọn, Chúa đã chọn ra một người và qua người ấy Ngài sẽ thực hiện lời hứa cứu độ: Đức trinh nữ Maria thành Nazareth. Một hôm Thiên Chúa sai thiên thứ Gabriel đến nói với bà rằng:

“Vui lên, hỡi bà đầy ơn phúc, Chúa ở cùng Người! Maria, đừng sợ, vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa. Và này, người sẽ thụ thai và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn, và được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngôi báu Đa vít Cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Gia Cóp cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô tận. “ (Lc 1:28,30-33)

Đức Maria là một trinh nữ, như Giáo Hội luôn dạy như thế, và lời Ngài đáp lại thiên sứ chứng tỏ điều này: “Làm sao sự ấy có thể được, vì việc phu thế tôi không nghĩ đến?” (Lc 1:34)

Thiên sứ nói với bà rằng: Quyền năng Đấng tối cao của Thiên Chúa sẽ làm sự lạ cao cả nơi bà. Bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, một trẻ sẽ được cưu mang trong bà. Giuse, người kết hôn với cô Maria, được coi là cha của đứa trẻ, nhưng ông chỉ là cha nuôi và người bảo trợ của Chúa. Dức Maria sẵn sàng tuân theo mọi điều Chúa muốn cô làm, đã trả lời với thiên sứ: “Này tôi là tôi tá Chúa, xin hãy xảy ra cho tôi theo lời ngài.”(Lc 1:38)

Qua những lời này, Đức Maria đã tỏ ra phó thác biết bao vào ý định của Chúa về đời bà và về sự cứu rỗi của chúng ta. Ngài tự coi mình là tôi tớ của Chúa, nói một cách khác, Ngài là người đầy tớ hay là người nô lệ của Chúa, luôn sẵn sàng làm những gì Chúa muốn.

Ngay sau khi Đức Maria tỏ ý ưng thuận theo ý Chúa, Đức Giêsu đã được thụ thai trong lòng bà. Chín tháng sau, Ngài giáng sinh trong một thị trấn nhỏ tên là Belem, và sự ra đời của Ngài được báo cho biết bởi ngôi sao lạ như đã nói trước. Chúng ta gọi biến cố này, tức việc Con Thiên Chúa mặc lấy xác phàm của chúng ta là sự Nhập Thể.

THIÊN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU

Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi từ trời xuống để chia sẻ đời sống con người của chúng ta. Hơn nữa, Ngài đã tự do chọn sống nghèo nàn, để chúng ta có thể hiểu rằng sự giàu có và những thú vui trần tục không làm chúng ta hạnh phúc thật sự. Ngài muốn trở thành một người, để chúng ta được giải thoát khỏi tội nguyên tổ và được kết hiệp lại với Thiên Chúa bằng phép Rửa Tội, và có thể trở nên con cái của Chúa Cha trên trời như Ngài. Thánh Irênê một Giám mục thánh thiện trong thế kỷ thứ II đã nói: “Lời của Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, vì lòng yêu mến ta quá bội, đã trở nên giống như cúng ta, ngõ hầu làm chúng ta giống như chính bản thân Ngài.”

Suốt ba mươi năm trường Chúa Giêsu sống đời sống của một người bình thướng với Đức Maria và Thánh Giuse, làm nghề thợ mộc trong làng Nazareth. Ngài làm như thế để chúng ta hiểu rằng cho dù những sự việc làm tầm thường như công việc và đời sống gia đình đều rất quan trọng đối với Chúa. Phần đầu của đời sống Chúa Kitô được gọi là đời sống ẩn dật, vì suốt thời gian này, không ai biết Ngài thật sự là ai và vì chúng ta không biết nhiều về giai đoạn này.

Khi Chúa Giêsu được chừng 30 tuổi, Ngài bắt đầu giai đoạn sống mà ta gọi là đời sống công khai của Ngài, nghĩa là ba năm Ngài đi rao giảng, dạy dỗ và làm nhiều phép lạ. Những phép lạ này là những dấu chứng về thiên tính của Ngài. Các phép lạ ấy chứng minh rằng Chúa Giêsu thực sự là Con Thiên Chúa. Phép lạ là một biến cố vượt quá khả năng của con người hay của thiên nhiên. Chỉ có Chúa mới làm được phép lạ, vì Ngài là Thiên Chúa và là chủ vạn vật.

Cuộc sống công khai của Chúa Giêsu bắt đầu với việc tẩy rửa của Ngài do thánh Gioan Tẩy Giả làm tại sông Giođan. Khi ấy các thánh sử (sách Tin Mừng) kể lại rằng Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu và có tiếng của Chúa Cha: “Đây là Con chí ái Ta, Đấng Ta sủng mộ”.(Mt 3:17) Đó là lần đầu tiên Đức Giêsu thành Nazareth được công khai mạc khải là Con Thiên Chúa. (Dĩ nhiên Đức Maria và thánh Giuse đã biết Ngài là ai rồi). Và đây cũng là lần đầu tiên mầu nhiệm Ba Ngôi được biểu lộ. Trong suốt thời gian rao giảng, Chúa Giêsu đã nói về mình như là Con Thiên Chúa: “Quả thật, quả thật Ta bảo các ngươi: trước khi có Abragham, Ta đã có” (Jn 8:58). (Hãy nhớ rằng: Ta có là danh Thiên Chúa đã mạc khải cho ông Môsê trong bụi gai cháy).

Qua tất cả những biến cố được ghi lại trong sách Tin Mừng ta thấy rằng: Chúa Giêsu Kitô vừa là Chúa vừa là người. Đây là một mầu nhiệm cao cả của đức tin, ta phải chấp nhận điều này là sự thật, vì Thiên Chúa đã mạc khải cho ta. Chúng ta gọi mầu nhiệm này là sự kết hiệp nhân tính và thần tính (hypotestic union). Thuật ngữ này do chữ Hy Lạp muốn nói rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và con của Đức Maria, trọn vẹn là người như chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi.

NHÂN TÍNH CỦA CHÚA GIÊSU

Chúa Giêsu có tất cả mọi cái của một con người: một thể xác với tất cả quan năng, một linh hồn bất diệt với khả năng của lý trí và ý muốn. Theo điều kiện là một người thì Ngài phải lớn lên hằng ngày trong sự hiểu biết của một con người, và Ngài cũng cảm nghiệm những nỗi vui buồn như tất cả chúng ta. Sách Tin Mừng kể lại rằng Ngài cảm thấy đói và khát ( Lc 4:2); Ngài yêu mến các trẻ con (Mc 10:13-16); Ngài biết đau xót và khóc về sự chết của một người bạn (Jn 11:32-36); Ngài cảm thấy cô đơn (Mt 26:37-46); Ngài vui với tình bạn hữu (Lc 19:1-10); Ngài cảm thấy vui mừng (Lc 10:21); Ngài đã chịu đau khổ và chết (trình thuật Thương Khó trong bốn sách Tin Mừng).

Chúng ta thấy Chúa Giêsu đã giống chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi (Do Thái 4:15). Vì Ngài là Ngôi Hai trong Thiên Chúa Ba Ngôi, nên Ngài là Đấng thánh thiện vô cùng. Những điều này không có nghĩa là Chúa Giêsu không bị cám dỗ phạm tội. Các sách Tin Mừng cho thấy rõ ràng Chúa Giêsu cũng bị cám dỗ như chúng ta (Mt 1:13; Lc 4:2-13). Vì Ngài là người như chúng ta, điều này có nghĩa là chúng ta cũng có thể sống mà không phạm tội, với sự trợ giúp ân huệ của Chúa luôn luôn được ban cho chúng ta, qua các bí tích. Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy một đời sống không phạm tội như Ngài là điều có thể làm được.

NHỮNG SAI LẠC VỀ MẦU NHIỆM NHẬP THỂ

Xuyên qua lịch sử Kitô giáo, có một số người tin Chúa đã dạy những giáo lý sai lầm về mầu nhiệm nhập thể. Những tà thuyết lạc đạo rất nguy hiểm cho đức tin, vì nó làm người ta hiểu sai về sự thật dẫn đến ơn cứu độ.

Tà thuyết lạc đạo đầu tiên tấn công những chân lý Hội Thánh đã có trong những ngày các tông đồ còn sống, tà thuyết đó được gọi là tà thuyết nhân tính giả (Docetism). Tà thuyết ấy chủ trường Chúa Giêsu không phải là người, mà chỉ có dáng một con người. Có một số người đã tin theo, vì họ coi thể xác là một cái gì xấu, cho nên theo suy luận của họ, Chúa không thể mặc lấy một thể xác thật. Giáo hội kết án chủ trương của những người chủ trương thuyết nhân tính giả LÀ MỘT ĐIỀU LẠC ĐẠO; và thánh Gioan đã viết trong sách Tin Mừng của ngài một phần để chứng minh sự sai lầm của họ. Nhưng tà thuyết này còn tồn tại đến ngày nay trong số những kẻ cho rằng thể xác con người là đầy tội lỗi và không phải là cái mà Thiên Chúa đã dựng nên tốt lành. Tà thuyết này cũng ảnh hường đến những Kitô hữu chỉ nhìn nơi Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa mà thôi, chứ không phải là một con người đầy đủ.

Một lạc đạo khác đã mọc lên giữa các Kitô hữu vào đầu thế kỷ thứ IV. Thuyết này do một linh mục chủ trương phủ nhận thiên tính của Chúa Giêsu. Tên ông là Arius, và tà thuyết của ông được gọi là thuyết không thiên tính (Arianism) . Người theo tà thuyết này tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Messia do Thiên Chúa sai đến, là người cao cả nhất trong các bậc thầy và là người thánh thiện nhất giữa loài người, nhưng họ không tin rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa.

Một điều đáng tiếc về tà thuyết này là họ đã lôi cuốn được hàng ngàn Kitô hữu, kể cả một số giám mục. Một bài học cho ta là kể các các linh mục và giám mục cũng có thể đi lạc đường nếu họ không liên kết với Đức Giáo Hoàng, vì hồi ấy chỉ có Đức Giáo Hoàng và một số ít giám mục trung thành còn dạy rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Tà thuyết này có một tầm tác hại quan trọng, nên Công Đồng Chung thứ nhất (hội nghị của tất cả Giám Mục với Giáo hoàng) đã được triệu tập để công khai lên án tà thuyết lạc đạo này. Công Đồng này được gọi là Công Đồng Nicêa (năm 325), và sau khi hội nnghị này, ta có bản tuyên tín (kinh Tin Kính) Nicêa thường đọc vào các ngày Lễ Chúa Nhật hôm nay.

Không may mắn cho chúng ta, tà thuyết này còn tồn tại đến ngày nay, trong số những người này gọi Chúa Kitô là một vĩ nhân và một nhà lãnh đạo tinh thần, nhưng từ chối không nhìn nhận thiên tính của Ngài. Những người này đã đặt Chúa Giêsu ngang hàng với những vị sáng lập các tôn giáo khác (như Đức Phật hay Mahômét) và coi Kitô giáo chỉ là tôn giáo như các tôn giáo khác. Họ không thấy được rằng Thiên Chúa đã làm người vì họ, vì mọi người chúng ta, để chúng ta có thể sống thật sự với Ngài trên trần gian này và mãi mãi trên thiên đàng.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Phép lạ - Giáng Sinh - Sự kết hợp nhân tính và thần tính - Các thánh sử - Nhập thể - Tà thuyết lạc đạo - Thuyết nhân tính giả - Thuyết không Thiên tính - Công Đồng chung - Kinh Tin Kính Nicêa

PHẦN SINH HOẠT

           Câu Hỏi:

1.         Con Thiên Chúa làm người cách nào?

Con Thiên Chúa làm người bằng cách nhận lấy như chúng ta một thân xác và một linh hồn, trong cung lòng Đức trinh nữ Maria bởi tác động của Chúa Thánh Thần.

2.         Con Thiên Chúa có hết làm Thiên Chúa khi xuống thế làm người không?

Khi Thiên Chúa làm người, Ngài không hết làm Thiên Chúa, nhưng vẫn còn là Thiên Chúa thật sự; ngoài ra, Ngài bắt đầu trở nên con người thật sự.

3.         Có mấy bản tính nơi Chúa Giêsu Kitô?

Nơi Chúa Giêsu Kitô có hai bản tính: Bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại.

4.         Khi có hai bản tính, Chúa Giêsu có hai ngôi không?

Khi có hai bản tính, Chúa Giêsu không có hai ngôi, nhưng chỉ có một ngôi của Con Thiên Chúa.

5.         Làm sao người ta biết Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa?

Người ta biết Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa vì Ngài chịu phép rửa và khi Ngài biến hình trên núi Taborê, Đức Chúa Cha đã tuyên bố: “Đây là Con chí ái Ta, Đấng Ta sủng mộ”; và cũng vì Đức Giêsu Kitô đã tự mình tuyên bố khi Ngài còn sống ở dưới thế này rằng Ngài là Con Thiên Chúa. (Mt 3:17; Lc 9:35)

6.         Chúa Giêsu Kitô có hiện hữu luôn luôn không?

Theo tư cách là Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô luôn luôn hiện hữu; nhưng theo tư cách là một người thì Ngài chỉ bắt đầu hiện hữu khi Ngài nhập thể.

7.         Chúa Giêsu Kitô sinh ra bởi ai?

Chúa Giêsu Kitô được sinh ra bởi Đức trinh nữ Maria, nên Đức Maria được gọi là Mẹ Thiên Chúa và thật sự như vậy.

8.         Còn Thánh Giuse có phải là cha thật của Đức Giêsu Kitô không?

Thánh Giuse không phải là cha thật của Chúa Giêsu; nhưng chỉ là cha nuôi. Nghĩa là, với tư cách là chồng của Đức Maria và là người bảo vệ Đức Giêsu, nên người ta nghĩ Ngài là cha của của Chúa Giêsu, nhưng thật sự không phải vậy.

9.         Chúa Giêsu sinh ra ở đâu?

Ngài sinh ra ở Belem, trong một chuồng súc vật và được đặt trong máng cỏ.

10.       Phép lạ là gì?

     Phép lạ là một điều vượt quá tất cả sức mạnh và luật thiên nhiên, cũng như vượt

     quá khả năng con người; và do đó là điều chỉ có Thiên Chúa làm được, vì Ngài

     là Chúa và là Cha thiên nhiên.

11.       Chúa Giêsu đã xác định giáo lý của Ngài và chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa thật bằng những phép lạ nào?

Thưa Ngài đã làm cho người mù thấy lại, người điếc nghe được, người câm nói được, nhiều người mắc đủ mọi thứ bệnh tật được bình phục và nhất là làm cho kẻ chết sống lại. Rồi với tư cách Thiên Chúa và chủ tể vạn vật, Ngài đã khiến quỷ dữ và sức mạnh thiên nhiên vâng phục. Trên tất cả mọi phép lạ, phép lạ vĩ đại nhất là Ngài đã tự mình sống lại.

************************************************************

BÀI 8: CHÚA GIÊSU RAO GIẢNG

Khi Chúa Giêsu được ba mươi tuổi, Ngài bắt đầu sứ mạng của Ngài. Trước tiên, Người đến gặp người anh em họ của Ngài là ông Gioan Tẩy Giả. Lúc ấy Gioan Tẩy Giả là vị ngôn sứ cao cả. Nhiều đám đông dân chúng đến để nghe ngài giảng về sự thông hối và chịu phép rửa như một dấu hiệu ăn năn tội lỗi của mình. Vài người đã tưởng Gioan là Đấng Messia, nhưng ông đã nói ràng mình chỉ là người tiền hô cho Đấng Cứu Thế: “Tôi là tiếng của người hô trong sa mạc... 'hãy dọn đường đi'... Đấng đến sau tôi, mà tôi không xứng đáng cởi quai dép Ngài.”

Cho nên, Gioan phảo ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu lội xuống sông Giođan. Gioan nói: “Chính tôi cần phải được ngài thanh tẩy cho.” Nhưng Chúa Giêsu cứ cố nài, dù ngài không cần phải được thanh tẩy. Ngài muốn chia sẻ mọi sự với dân chúng, kể cả lòng thống hối tội lỗi. Sau khio Chúa Giêsu được thanh tẩy, Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Ngài, và có tiếng Chúa Cha từ trời phán: Ngài là Con chí ái Ta, người Ta sủng mộ.”

Sau đó Chúa Giêsu đi vào hoang địa để cầu nguyện và ăn chay 40 đêm ngày. Ngài biết công việc của Ngài sẽ gặp nhiều khó khăn, nên Ngài cần thời gian này để chuẩn bị. Sau 40 ngày, Satan đến cám dỗ Chúa Giêsu. Satan muốn thuyết phục Chúa Giêsu tìm một cuộc sống dễ chịu cho bản thân với những quyền năng kỳ diệu Ngài có, để tỏ ra là một người lãnh đạo uy hùng trên trần gian này. Nhưng Chúa Giêsu chỉ muốn làm theo ý Chúa Cha. Ngài không muốn và cũng không thể phạm tội. Ngài đã đuổi Satan đi chỗ khác.

Sau khi từ hoang địa trở về, Chúa bắt đầu giảng dạy trong các làng mạc tại Galilê. Ngài rao giảng trong các hội đường, ở ngoài đường, gần bờ biển, và trên các sườn đồi. Chúa Giêsu không muốn mất nhiều thời gian với những người Pharisiêu có kiến thức, hay với các nhà lãnh đạo trong thời Ngài. Ngài chỉ muốn đem Tin Mừng Cứu Độ cho người nghèo, cho kẻ tội lỗi và cho tất cả những ai mà thế gian này coi họ là hạng người thấp cổ bé họng. Các môn đồ của Ngài là những người chài lưới mộc mạc, và có cả một người thâu thuế mà mọi người ghét cay ghét đắng. Các em thiếu nhi thời đó cả trai lẫn gái đều thích gần Chúa Giêsu. Đây thật là một rabbi (thầy tôn giáo) được gọi là bạn thân của chúng.

Chúa Giêsu dạy dân chúng những sự thật về Thiên Chúa, về Thiên Đàng, và con đường dẫn họ đến Thiên Đàng. Ngài nói rằng Thiên Chúa đã yêu thương họ như một người Cha và hằng mong mỏi những người tội lỗi trỉ về với Ngài. Chúa Giêsu dạy họ về nước trời, mà các thành viên trong đó không phải là những đầy tớ, nhưng là con cái Thiên Chúa. Các con cái của nước trời phải có một lối sống phản ảnh tình thương Thiên Chúa. Họ phảo tha thứ và cầu nguyện cho những ai đã xúc phạm đến họ. Chúa Giêsu nói họ sẽ bị xét xử theo cách họ đã đối xử với những người đói khát, bệnh tật, những kẻ tù tội, và tất cả những ai không thể tự lo liệu cho mình.

Để giúp dân chúng hiểu rõ hơn về Nước Trời, Chúa Giêsu đã kể những câu truyện ngắn gọi là dụ ngôn. “Nước Trời giống như hạt cải. Nó là thứ nhỏ nhất trong các hạt. Nhưng khi mọc lên, nó lại lớn hơn các cây khác. Nó trở thành một cây lớn.” (Mt 13:31-32) Điều này giúp chúng ta hiểu công việc của Chúa Giêsu và của giáo hội Ngài khởi sự một cách nhỏ nhoi. Đối với thế gian, Hội Thánh là một cái gì không đáng kể, như một hạt cải. Nhưng Nước Trời lớn lên cho đến khi nó trở thành một Nước thiêng liêng lớn nhất trên thế gian này. Như cây cải, nó sẽ mọc vươn hẳn mọi nước của loài người.

Lúc khác, Chúa Giêsu ví Nước Trời như một lưới lớn đánh cá được ném xuống nước. “Khi lưới đã đầy, người ta kéo nó lên bãi rồi ngồi tại đó, người ta lựa thứ tốt bỏ vào giỏ, còn thứ xấu thì quăng ra ngoài.” (Mt 13:47-51) Thời tận thế, Thiên Chúa sẽ tập hợp mọi người lại và phân tách người lành ra khỏi kẻ dữ. Nhưng trong hiện tại, xét xử người khác không phải là công việc của chúng ta, cũng như cá trong lưới kia không thể tự mình định đoạt con nào tốt và con nào xấu. Xét xử cá là việc của người đánh cá; còn xét xử linh hồn người ta thì tốt hơn dành cho Thiên Chúa.

Một trong những dụ ngôn hay nhất là dụ ngôn về kho tàng trong ruộng. (Mt 13:44) Một người làm ruộng, khi thấy được một kho tàng giấu trong đó. Biết được giá trị của kho tàng ấy, anh đi bán tất cả những gì mình có mà tậu thửa ruộng kia. Khi chúng ta tìm được Nước Trời, là tìm được một kho tàng quí giá hơn mọi kho tàng khác. Chúng ta không ngần ngại dâng cả mạng sống cho Chúa Giêsu, vì Ngài sẽ ban lại cho chúng ta sự sống đời đời trên Thiên Đàng. Những người khác có thể không hiểu tại sao chúng ta theo Chúa Giêsu. Có lẽ người được nói trong dụ ngôn này được nhiều người khác cho là dại dột, đã bán tất cả vốn liếng của mình để tậu một thửa đất vô giá trị. Họ không biết là có một kho tàng cất giấu trong đó. Cũng vậy, niềm vui của Thiên Đàng bị giấu khỏi nhiều người trên đời. Nhưng những ai tìm được Nước Trời mới biết nó đáng giá biết bao.

Chúa Giêsu chọn mười hai người để nên các bạn thân cận nhất của Ngài, nên các môn đệ của Ngài. Họ đã sống với Chúa Giêsu lâu hơn bất cứ người nào khác. Một ngày nào đó họ sẽ thi hành công tác của họ là đi giảng đạo, rửa tội, và dẫn dắt Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã thành lập.

Trong mọi sự, Chúa Giêsu luôn làm theo ý Cha Ngài. Những dặm đường trường từ thành này đến thành nọ làm Ngài mệt nhọc. Rồi một số người từ chối không nghe Tin Mừng Ngài loan báo làm Ngài buồn phiền. Nhưng trên hết mọi sự, Chúa Giêsu vẫn sung sướng biết rằng Ngài đang thi hành chương trình của Cha Ngài là cứu độ thế gian và toàn thắng tội lỗi. “Ta đến để làm theo ý của Đấng đã sai Ta.” Chúa Giêsu tuyên bố như vậy, cho dù ý của Cha Ngài một ngày kia sẽ đưa Ngài đến sự đau khổ và cái chết. Chúa Giêsu biết điều này, nhưng Ngài vẫn can đảm bước tới, vì lòng yêu mến Cha Ngài và yêu mến nhân loại.

Lạy Chúa Giêsu, Thầy chí thánh, xin hãy thiết lập Nước Chúa trong

lòng chúng con: “một nước sự thật và sự sống, một nước thánh thiện và

ân sủng, một nước công chính, yêu thương và an bình” (Kinh Tiền Tụng

Lễ Chúa Kitô Vua).

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT: Dụ Ngôn

*********************************************************

BÀI 9: SỨ VỤ CỨU ĐỘ CỦA CHÚA GIÊSU

Đức Chúa Cha đã sai Con Một của Ngài xuống trần gian cứu độ nhân loại. Thánh Gioan Tông Đồ đã rao giảng sứ vụ cứu độ này của Chúa Giêsu và nhắc cho chúng ta rằng đó là ý định, là kế hoạch của Chúa Cha cho Con của Ngài:

“Phải, Thiên Cbúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin

   vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Vì

   Thiên Chúa sai Con của Người xuống thế gian không phải để lên án thế

   gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”

                                                                                                             (Jn 3:16-17)

ĐỨC GIÊSU VÀ ĐỨC CHÚA CHA

Tâm trí Chúa Giêsu luôn hướng về Cha Ngài, là Đấng mà Ngài đã yêu mến hết lòng. Ngài đã biểu lộ tình thương sâu sắc này bằng việc trung thành làm theo ý của Thiên Chúa, cho dù điều này có nghĩa phải chịu đau khổ và nhục nhằn khi đang hấp hối trogn Vườn cây dầu hay chịu chết trên thánh giá.

Chúa Giêsu thường hay nói đến sự hiệp nhất của Ngài với Đức Chúa Cha. Một hôm, sau khi đã hóa bánh ra nhiều để nuôi những người nghèo đói, Chúa Giêsu nói: “Tôi tự trời xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng là để làm theo ý Đấng đã sai tôi.” (Jn 3:68)

Nhiều lần khác trong đời, Chúa Giêsu đã tỏ bày quan hệ thân thiết mà Ngài thường có với Cha của Ngài:

Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Ngài. (Jn 3:35)

Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, chính vì tôi hy sinh mạng sống để rồi lấy lại ((Jn 10:17)

Nhưng đó là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy. (Jn 14:31)

Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. (Jn 16:32)

Từ những lời ấy, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu đã làm mọi sự vì lòng yêu mến Thiên Chúa và để tuân phục ý của Người. Không một điều gì Chúa Cha đòi hỏi nời Ngài mà Ngài cảm thấy là quá nhiều hay quá khó, vì lòng yêu mến của Chúa Giêsu không biết đến giới hạn.

NGÔN SỨ, TƯ TẾ VÀ VƯƠNG ĐẾ

Chúa Cha sai Đức Giêsu đến để nên vị ngôn sứ vĩ đại nhất, nên vị tôn sư giảng dạy sự thật về Thiên Chúa. Ngài cũng được sai đến để nên vị tư tế, tự hiến mình làm hy lễ dâng lên Chúa Cha, và nên vị vua của chúng ta, đến để khai mạc triều đại của Thiên Chúa trên trần gian. Chúng ta gọi vai trò này là ba chức vụ của Chúa Giêsu.

CHÚA GIÊSU, VỊ TÔN SƯ CỦA CHÚNG TA

Chúa Giêsu ngôn sứ, hay vị tôn sư, giúp chúng ta đạt tới Thiên Đàng bằng cách dạy cho chúng ta biết phải sống thế nào để làm đẹp lòng Chúa. Và chỉ trong lời giáo huấn của Ngài, chúng ta mới tìm ra con đường dẫn ta đạt tới Thiên Đàng. Ngài nói về chính Ngài: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” (Jn 14:6)

Chúa Giêsu kể cho chúng ta nghe về tình thương yêu lớn lao mà Chúa Cha đã yêu thương chúng ta, bằng lời nói và gương lành của Ngài; Ngài đã mạc khải rằng Chúa Cha đã sai Ngài đến như Đấng cứu thế của chúng ta, là Đấng sẽ xóa hết tội trần gian. Chúng ta gọi điều này là Tin Mừng về ơn Cứu Độ nhân loại.

Chúa Giêsu đã thông chia vai trò Thầy của Ngài với các môn đệ của Ngài. Ngày nay Ngài dạy chúng ta qua quyền giáo huấn của Giáo hội Công giáo. Nhiệm vụ chia sẻ niềm tin với những kẻ khác cũng là một thành phần rất quan trọng của đời sống Kitô hữu. Với Bí Tích Rửa tội và Thêm sức, chúng ta được gọi san sẻ niềm tin này với những người khác bằng lời nói, gương lành và các việc tông đồ.

CHÚA GIÊSU, VỊ TƯ TẾ CỦA CHÚNG TA

Chúa Giêsu thật là vị tư tế độc nhất của chúng ta. Với hy lễ Ngài dâng trên thập giá, Ngài đã dành được cho chúng ta ơn thánh hóa. Và như ta đã học trong bài về việc tạo thành con người, ơn thánh hóa này là sự sống của Thiên Chúa trong linh hồn mình. Và về đời sống ơn thánh này có thể đạt tới mọi người ở mọi nơi và trong mọi thời đại, Chúa giêsu đã ban cho chúng ta các Bí tích và dạy các tông đồ của Ngài hãy đem những quà tặng thánh thiện này đến cho cả thế gian. Mỗi Kitô hữu được thông chia chức tư tế của Chúa Giêsu qua việc xức dầu thánh trong Bí tích Rửa tội và Thêm Sức. Nghĩa là chúng ta được tách khỏi những người nam nữ khác, theo tư cách là những kẻ thờ phuợng Thiên Chúa cách đích thực. Thờ phượng là kinh nguyện và việc tôn thờ Chúa, nhất là nhờ Thánh Lễ và việc cử hành các Bí Tích. Chúng ta cũng có thể thờ phượng Chúa nhiều cách thức khác nhau như cầu nguyện bằng các kinh nguyện...

CHÚA GIÊSU, VUA CỦA CHÚNG TA

Ngay cả trước khi sinh sra, Đấng Messia (Chúa Cứu Thế) được gọi là Vua cao cả, là Đấng trị vì dân Chúa. Thiên Thần Gabriel đã tiết lộ cho Đức Maria: “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Vua Đavít... và vương quyền củaNgười sẽ vô cùng tận.” (Lc. 1:32-33)

Người Do Thái cứ nghĩ rằng Đấng Cứu Thế sẽ trị vì một vương quốc phàm trần, nhưng Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế đã điều chỉnh lại cái nhìn sai lầm ấy khi Ngài nói: “Nước của tôi không thuộc về thế gian này.” (Jn 18:36)

Chúa Giêsu muốn nói rằng Nước Thiên Chúa có tính cách thiêng liêng. Mọi người sống mà có ơn thánh hóa trong lòng đều thuộc về nước của Chúa Kitô là Giáo Hội của Ngài. Nước Chúa (cũng gọi là Nước Trời hay Triều Đại Thiên Chúa) là một nơi vĩ đại nhất mà con được sống trong đó. Chúng ta đang sống trong Nước ấy khi còn ở dưới thế này, khi chúng ta là những thành viên trung kiên của Giáo Hội, và sẽ sống trong nước ấy mãi mãi trên Thiên Đàng.

Thật là điều kỳ diệu khi nghe Chúa Giêsu kể một dụ ngôn hay một câu chuyện. Ngài thường so sánh Nước Trời với một kho tàng, một viên ngọc (Mt 13:44-46). Ngài nói rằng người tìm được kho tàng ấy, sẽ hiểu được giá trị của nó và sẽ từ bỏ mọi vật cản trở trên đường đưa tới kho tàng ấy.

“Vật” thường cản trở ta đạt tới kho tàng của Nước Trời. Vì lý do đó mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta Bí Tích Rửa Tội và Thống Hối; nhờ những nghi thức thánh này, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và trở nên những thành viên thánh thiện của Nước Ngài. Thể theo lời của dụ ngôn, nếu chúng ta coi trọng Nước Trời thực sự, chúng ta sẽ từ bỏ tội lỗi để viên ngọc và kho tàng kia sẽ thuộc về chúng ta muôn đời.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Ý Chúa - Ba chức vụ - Tin Mừng - Thờ phượng - Nước Thiên Chúa - Dụ ngôn

SINH HOAT: Câu hỏi:

Chúa Giêsu đã thực hiện được những gì trong suốt đời trần thế của Ngài?

Trong đời trần thế của Ngài, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta sống theo ý Chúa, bằng gương sáng và lời nói của Ngài, và Ngài củng cố đạo lý của Ngài bằng các phép lạ. Cuối cùng, để thanh toàn món nợ của chúng ta do tội gây ra và giao hòa chúng ta với Thiên Chúa, và cũng để mở cửa trời cho chúng ta vào, Ngài đã hy sinh chính mình Ngài chết trên thánh giá. “Ngài là Đấng trung gian độc nhất giữa Thiên Chúa và loài người.” (1Tim. 2:5)

*****************************************************************

BÀI 10:   CHỨC TƯ TẾ CỦA CHÚA GIÊSU

Trong chương vừa rồi, chúng ta được biết rằng một trong những chức vụ của Chúa Kitô theo tư cách là Đấng Cứu Thế chính là vị Tư Tế của Chúng ta. Như thế có nghĩa Chúa Giêsu phải dâng một hy lễ vẹn toàn để đền tội cho chúng ta, nên chúng ta sẽ bàn đến chức vụ tư tế của Chúa Giêsu trong chương này.

DÂNG NHỮNG HY LỄ LÊN THIÊN CHÚA

Chúng ta đã thấy rằng ý niệm dâng những hy lễ lên Thiên Chúa là một phần của lịch sử cứu độ từ ngày Xuất Hành. Nhưng thật sự nó đã có từ lâu trước, từ thời Cain và Abel, các con của Adam và Eva.

Những hy lễ được nhắc đến trong Kinh Thánh là những hy lễ của hai anh em này: “Sau nhiều ngày, Cain dâng trái trăng đồng ruộng làm lễ vật cho Giavê. Còn Abel, phần mình thì dâng chiên cừu đầu lứa cùng với mỡ béo của chúng. Và Giavê đã nhìn đến Abel và lễ vật của nó. Còn Cain và lễ vật của nó Người không nhìn đến.” (KN, 4:3-5)

Trình thuật tiếp tục kể lại ta nghe rằng Thiên Chúa chấp nhận hy lễ của Abel vì ông có một tấm lòng trong sạch, trong khi lòng của Cain đầy ghen tuông đối với em mình.

Kinh Thánh cũng kể rằng Noê đã dâng lên Chúa trên bàn thờ một con vật, để tạ ơn Người đã gìn giữ gia đình ông trong cơn đại hồng thủy, và nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa và là Đấng Tạo Hóa của trái đất.

Sách Lêvi trong Cựu Ước, đã bàn rộng rãi tới sự dâng hiến hy lễ lên Chúa; sách ấy thuật lại rằng những hy lễ này đã được Chúa truyền làm như một cách thức để tỏ lòng thống hối các tội đã phạm. Ngang qua những hy lễ này, dân được tuyển chọn hy vọng lãnh nhận được ơn tha thứ.

Qua Kinh Thánh, chúng ta biết được ba điều rất quan trọng liên quan đến việc dâng hy lễ lên Chúa:

1.         Của hiến dâng phải được dâng với một tấm lòng tinh sạch hay không vướng tội.

2.         Hy lễ là một của lễ tạ ơn Chúa vì được sự chúc lành và che chở của Người.

3.         Việc dâng hy lễ là để tỏ lòng hối tiếc vì tội đã phạm và lòng ao ước được ơn tha thứ.

Những trình thuất của Cựu Ước về hy lễ cũng nhắc cho ta là trong mọi hy lễ phải có ba điều này:

1.         Một vị tư tế, nghĩa là một người để dâng của lễ. Trong dân Do Thái thì chính Thiên Chúa đã chọn lấy một vài người để làm tư tế của Người.

2.         Một vật hy sinh, nghĩa là một cái gì để hiến dâng. Chúa dạy dân Do thái phải dâng một vài thú vật, nhất là Chiên Vướt Qua.

3.         Một bàn thờ, nghĩa là một nơi nào đó để cử hành việc dâng hiến. Đối với dân Do Thái, các bàn thờ dâng hy lễ được đặt trong Đền Thờ.

CHÚA GIÊSU, VỊ THƯỢNG TẾ TINH TUYỀN CỦA CHÚNG TA

Tất cả những hy lễ Do Thái chỉ là một sự chuẩn bị cho một hy lễ vẹn toàn mà Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa. Ngài được gọi là vị Thượng Tế của chúng ta, nghĩa là Ngài là vị tư tế cao cả nhất của Thiên Chúa. Tại sao? Vì Ngài vô tội, là Con Thiên Chúa, từ trời xuống để dâng một việc thờ phượng toàn hảo lên Chúa Cha. Những tư tế khác chỉ là những con người bất toàn, không thể thờ phượng Thiên Chúa với một tấm lòng tinh tuyền được.

CHÚA GIÊSU, LỄ VẬT HY SINH TINH TUYỀN CỦA CHÚNG TA

Cùng với chức vụ là Tư Tế của hy lễ Ngài dâng, Chúa Giêsu cũng là Vật Hy Sinh. Bàn thờ của ngài, hay là nơi Ngài dâng của Lễ, là bàn tiệc ly và thập giá trên đồi Calvariô: hai nơi dâng lễ khác nhau, nhưng chỉ có một Tư Tế, một vật hy sinh và một Hy Lễ.

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu, vị Tư Tế vẹn toàn đã hiến mình cho Chúa Cha dưới hình bánh và rượu. Ngài đã biến đồi những vật này thành chính bản thân Ngài với những lời sau đây: “Này là Mình Thầy... Này là Máu Thầy.” Thế là vật hy sinh vẹn toàn đã được hiến dâng.

Những lời này: “... sẽ bị nộp vì các con... sẽ đổ ra cho các con” (Lc 22:20) nói lên cho chúng ta hai điều: Chúa Giêsu đang dâng hiến một hy lễ lên Chúa vì chúng ta, và Hy lễ Tiệc Ly được gắn liền với Hy Lễ trên thập giá, đã xẩy ra ngày sau đó.

Trên đồi Calvariô, nơi Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, cũng một hy lễ được tiến dâng lên Chúa Cha. Cũng như trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu là vị Tư Tế đã tự hiến mình. Ngài là Vật Hy Sinh, nhưng lần này là một cuộc hiến dâng có đổ máu và đầy đau đớn. Nhờ sự chết của Ngài, mà Chúa Giêsu đã hiến dâng vì chúng ta, cuối cùng của lễ đền tội duy nhất và thật sự đã được dâng lên Chúa. Khác với những vật các Tư Tế Do Thái đã dâng, Hy Lễ này sinh kết quả thật sứ! Vì hy lễ này xóa được mọi tội lỗi và giao hòa chúng ta với Chúa Cha.

Làm sao chúng ta biết chắc được điều này? Vì Chúa đã phục sinh. Biến cố Phục Sinh chứng tỏ rằng Thiên Chúa đã chấp nhận hy lễ mà Con của Người đã dâng. Chúng ta không còn phải thắc mắc về điều này - Chúa Giêsu đã được giải thoát khỏi nanh vuốt của tử thần là một dấu chỉ rằng chúng ta cũng được giải thoát khỏi sự chết và khỏi nguyên nhân của sự chết là tội lỗi. Thánh Phaolô viết về điều này trong thư gửi cho giáo đoàn Colôxê và Corintô:

            “Đức Kitô đã chịu chết để thực hiện cho anh em sự hòa giải trong con người

             bằng xương thịt của Ngài, hầu anh em trở nên thánh thiện, tinh tuyền và không

             có gì đáng trách trước mặt Thiên Chúa .” (Col. 1:22)

            “Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy (từ cõi chết) thì lòng tin của anh em thật hão

             huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” (1Cor 15:17)

CHÚA GIÊSU, VỊ TRUNG GIAN ĐỘC NHẤT CỦA CHÚNG TA

Ngoài việc dâng hiến hy lễ, tư tế xưa còn có nhiệm vụ cầu nguyện cho dân của mình, xin Chúa đoái nhìn đến những của lễ của họ và tha tội lỗi của họ. Việc làm này được gọi là trung gian, làm môi giới, và tư tế là người trung gian.

Vói tư cách là người trần, Chúa Giêsu là vị trung gian độc nhất và vẹn toàn của chúng ta. Những vết thương của Ngài do cuộc đóng đinh không còn nhức nhối và rướm máu nữa, nhưng nó là những kỷ niệm vẻ vang nhắc cho Chúa Cha về sự hy sinh của Ngài. Và cũng với tư cách là người trần, Ngà đã cầu xin Cha cho chúng ta. Ngài đã bày những vết thương do cuộc đóng đinh, nay là những dấu tích vẻ vang, cho Chúa Cha, để Người nhớ lại hy lễ vẹn toàn đã tẩy xóa tội lỗi của chúng ta. Thánh Phaolô tỏ bày chân lý này về Chúa Giêsu là vị trung gian của loài người cho thánh Timôtê, người bạn của ngài và là một đồng nghiệp giám mục như sau: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô.” (1 Tim. 2:5)

MỘT VỊ TƯ TẾ NHƯ MEN-KI-XÊĐÊ

Chức Tư Tế của Đức Kitô được báo trước trogn Cựu Ước: “Chúa đã thề rằng, và sẽ không đổi ý: Người là tư tế đến muôn đời theo phẩm trật Menkixêđê.” (Tv. 110:4)

Memkixêđê là ai và ông có liên quan gì đến chưc tư tế của Chúa Giêsu thế nào? Menkixêđê là vua thành Salem (sau gọi là Giêrusalem) và là một tư tế đã dâng tiến bánh và rượu cho Thiên Chúa làm hy lễ. Cho nên Thánh Phaolô nói lý do tại sao ông được so sánh với Chúa Giêsu. Trước Đức Kitô, không một ai đã dâng bánh và rượu. Ngay cả ngày nay, trong nghi thức phong chức của linh mục công giáo, câu lầ từ thánh vịnh 110 đã được dùnh như một trong những lời kinh của Thánh Lễ.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT:   Tư Tế - Vật Hy Sinh - Bàn Thờ - Người Trung Gian

******************************************************************

BÀI 11:   CHÚA KITÔ, NGUỒN MỌI ƠN THÁNH

Con Thiên Chúa làm người để chúng ta có thể lãnh nhận ân huệcủa Thiên Chúa đã bị nguyện tổ làm mất. Chúng ta gọi Người là nguồn mọi ơn thánh, vì nhờ Người chúng ta lãnh nhận món quà kỳ diệu là sự sống Thiên Chúa trong linh hồn mình.

Thánh Gioan tông đồ nhắc lại chân lý này: “Ngôi Lời đã làm người, và ở giữa chúng ta, đầy tràn ân sủng và chân lý... Và từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác.” (Jn 1:14:16)

Ơn thánh hóa là món quà vĩ đại nhất Thiên Chúa ban cho nhân loại. Ơn ấy làm cho họ trở nên con cái Chúa, thành anh chị em của Chúa Kitô, và trở nên đềnthờ của Chúa Thánh Thần. Những ai chết trong sự sống của Thiên Chúa trong linh hồn mình thì được lên Thiên Đàng hưởng hạnh phúc vô tận với Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ và toàn thể thiên thần và các thánh. Không có gì trong toàn vũ trụ này có thể thấy tại sao Chúa Giêsu đã xem ơn thánh là một caí gì quan trọng đến nỗi Người phải chết vì nó.

SỨ VỤ BAN ƠN THAN1H CỦA CHÚA GIÊSU

Mỗi khi Thiên Chúa ban cho ai một sứ vụ, thì Người cũng ban cho họ mọi sự họ cần có để thực hiện sứ vụ ấy. Người không bao giờ đòi bất cứ ai làm một cái gì không thể làm được. Sự Nhập Thể đã ban cho Đức Giêsu Nazareth tất cả những gì Người cần để thực hiện sứ vụ của Người. Vì vừa là Thiên Chúa vừa là Người, nên Chúa Giêsu được tràn đầy ơn thánh. Mọi hành động của Người đều hoàn hảo và thánh thiên, vì đó là những hành động của Con Thiên Chúa, chứ không chỉ là những hành động của một người tốt.

Vì vừa là Thiên Chúa vừa là người, Chúa Giêsu có những quyền năng siêu nhiên làm cho Người có thể cứu chuộc chúng ta, nghĩa là giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma quỷ. Bốn sách Tin Mừng đầy dẫy những chuyện có thật biểu lộ quyền năng của Chúa Giêsu trên tội lỗi và Satan:

Người có thể xua đuổi những thần linh ô uế hay ma quỷ ra khỏi những người chúng ám:

       “Đúng lúc đó, trong Hội Đướng, có một người bị quỷ ám la lên: Này ông Giêsu Nazareth, chúng tôi có can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa! Nhưng Chúa Giêsu quát mắng nó: Câm đi, hãy xuất khỏi người này! Quỷ lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta.” (Mk 1: 23-26)

Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ và giảng dạy một cách có quyền uy, làm mọi người kinh ngạc:

       “Mọi người đều kinh ngạc bàn tán với nhau: Thế nghĩa là gì? Giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có thẩm quyền! Ông ấy ra lệnh cho quỷ, quỷ cũng phải vâng theo. Tức khắc danh tiếng Người đồn ra khắp cả miện Galilê.” (Mk 1:27-28)

Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người có thể tha tội:

       “Đang khi Người giảng lời Thiên Chúa cho họ nghe, bấy giờ người ta đem đến cho Đức Giêsu một kẻ tê liệt... Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người tê liệt: Này con, con đã được tha tội rồi... Vậy để các ông biết ở dưới đất này Con Người có quyền tha tội, Tôi truyền cho anh: hãy đứng dậy, vác chõng đi về nhà! Người tê liệt đứng dây, và lập tức vác chõng đi ra... Ai nấy đều sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ bảo nhau: Chúng ta chưa thấy vậy bao giờ! “ (Mk 2:3-12)

CHÚA GIÊSU BAN ƠN THÁNH CHO MỌI NGƯỜI

Chúa Giêsu đã chu toàn sứ vụ của Người. Người đã đem về cho ta ơn cứu chuộc, ơn ấy làm cho bất cứ ai tin vào Người thì có thể sống đời sống mới, đời sống được chúc phúc vì được làm bạn hữu với Thiên Chúa, và đời sống ấy còn tồn tại mãi mãi. Chúng ta lãnh nhận lần đầu tiên sự sống mới này qua Bí Tích Rửa Tội, và chúng ta lớn lên trong đời sống ấy nhờ cầu nguyện và lãnh nhận các Bí Tích khác.

Chúa Giêsu gia phó những Bí Tích này cho Giáo Hội của Người, là Nước Thiên Chúa trên trần gian. Qua lời cầu nguyện và giảng dạy vủa các linh mục của Ngươì, Chúa Giêsu tiếp tục đánh bại Satan và chiến thắng tội lỗi. Qua các linh mục của Chúa, Người tiếp tục ban ơn thánh cho tất cả những kẻ tin.

Ơn thánh tức sự sống mới được ban cho chúng ta nhờ vào sự sống, chết và phục sinh của Đức Kitô, là Nguồn Mọi Ơn Thánh: “Nhờ Người mọi ơn lành được ban cho thế gian.” (Kinh Nguyện Thánh Thể III)

Vì không có Chúa Giêsu, chúng ta không có ơn thánh, và vì Chúa Giêsu được thụ thai và sinh ra bởi đức tring nữ Maria, nên Đức Maria cũng thường được gọi là vị Trung Gian chuyển thông ơn thánh.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Nguồn mọi ơn thánh - Cứu chuộc - Đấng Trung gian.

************************************************************

BÀI 12: BỮA TIỆC LY

Để bắt đầu, ta hãy đọc chuơng 6 của Tin Mừng Thánh Gioan.

Chúa Giêsu đã làm những kẻ theo Ngài phải khó chịu khi Ngài nói sẽ cho họ ăn chính Thịt và uống máu Ngài, và họ sẽ không có có sự sống trong họ nếu không chấp nhận điều này. Sau lời đó, nhiều kẻ đã bỏ Ngài. Phêrô đã trả lời thay cho những người trung thành còn ở lại. Khi Chúa Giêsu hỏi: “Còn các anh nữa, các anh có muốn bỏ Ta mà đi không?” Phêrô thưa: “Lạy Chúa, chúng con sẽ đi theo ai? Ngài mới có những lời đem đến sự sống đời đời.” (Jn 6:68-69)

Phêrô và những môn đệ trung thành không thấy trước được việc Chúa Giêsu sẽ làm khi Ngài nói như vậy. Họ không có chút quan niệm nào về việc sẽ xẩy ra. Nhưng rồi họ đã biết và yêu mến Chúa Giêsu; họ đã khao khát lời hằng sống phát xuất từ Ngài; và họ đã tin.

Ngày trước khi Chúa Giêsu nói với họ điều này, Ngài đã chứng tỏ quyền năng của Ngài bằng nuôi đám đông dân chúng khoảng 5000 người với vài mẩu bánh và vài con cá; và Ngài đã báo trước về những sự cả thể hơn nữa sẽ xẩy đến. Nhưng Ngài không giải thích gì thêm. Khi đến giờ Chúa Giêsu phải rời các môn đệ của Ngài, Ngài đã ban cho họ một kho tàng vô giá - là chính Thịt và Máu Ngài trong Phép Thánh Thể. Ngài đã tìm ra một phương thức rất đơn giản để ban cho họ Thịt Ngài để ăn và Màu Ngài để uống: Chúa đã biến bánh thành Thịt Mình Ngài và rượu thành Máu Ngài.

Biến cố kỳ diệu này đã xẩy ra trong Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu với các tông đồ của Ngài trước khi Ngài chịu chết. Họ đang cử hành một trong những lễ trọng đại nhất của dân Do Thái: Lễ Vượt Qua. Khi Chúa Giêsu làm việc này, Ngài đã chấm dứt hy lễ của Giao Ước cũ và thiết lập Giao Ước Mới.

LỄ VƯỢT QUA

Lễ Vượt Qua kỷ niệm việc Thiên Chúa giải cứu dân tuyển chọn của Ngài khỏi ách nô lệ Ai Cập, khi Người làm những dấu cả thể và những việc lạ lùng qua trung gian tôi tớ Người là ông Môsê, để gieo sự sợ hãi Thiên Chúa trong lòng dân Ai Cập, nên Pharaon phải trả người Do Thái và cho phép họ ra đi.

Thật ra vua Pharaon đã tỏ ra rất ngang bướng cho đến khi thiên thần gieo sự chết trong một đêm, đã đi ngang qua Nước Ai Cập đánh chết mọi con trai đầu lòng của họ.

Người Do Thái, qua trung gian của Môsê, đã được Thiên Chúa truyền dạy dâng một hy lễ đặc biệt trong đêm ấy: một con chiên vô tì tích. Mỗi gia đình một con. Sau biến cố này, người Ai Cập cuối cùng phải để cho người Do Thái ra đi, vì sự sợ hãi Thiên Chúa đã giáng xuống trên họ.

Tất cả những sự viêc này đầu quan trọng nếu chúng ta muốn hiểu những gì Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly. Ta có thể thấy tình trạng nô lệ của người Do Thái là hình ảnh tình trạng nô lệ của mọi dân tộc đối với tội lỗi. Và Chúa đã giải phóng dân Do Thái thế nào, thì Người cũng giải phóng chúng ta như thế. Lễ hy sinh giải phóng con người khỏi tội lỗi là sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài là chiên Vượt Qua.

Hàng năm, người Do Thái ăn mừng kỷ niệm Vượt Qua - và những biến cố uy quyền đã dẫn đưa họ tới đất tự do - bằng một bữa ăn đặc biệt. Một gia đình sẽ dâng một chiên Vượt Qua làm lễ hy sinh và sẽ ăn nó với bánh không men và rau đắng. Đó là những chi tiết nhắc nhớ Lễ Vượt Qua tiên khởi.

Chúa Giêsu và các tông đồ của Ngài cử hành bữa ăn này khi Chúa Giêsu cầm lấy bánh, chúc lành, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Hãy cấm lấy mà ăn, này là Mình Thầy.” Rồi Ngài cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống, vì này là máu Thầy, máu giáo ước mới, sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội.” (Mt 26:26-28)

VẬT HY SINH HOÀN HẢO

Từ sau khi Adam sa ngã, loài người luôn cảm thấy có nhu cầu dâng lên Thiên Chúa một Lễ Vật công cộng để đền tội mình và xin ơn tha thứ. Hoa quả đầu mùa, chiên con hay dê - một vật gì cần có sự sống - tất cả những lễ vật sẽ do một tư tế thiêu hủy trên bàn thờ để chứng tỏ rằng những vật ấy thuộc về Thiên Chúa - cũng như tất cả mọi vật đang hiện hữu. Con người mong muốn được phục hồi trong tình bằng hữu với Thiên Chúa, mà tội lỗi đã làm tan vỡ. Những hy lễ của họ là một cố gắng để thực hiện điều này.

Dâng hy lễ có bốn mục đích riêng biệt: để thờ phượng Chúa, tạ ơn Người đền tội và xin ơn phù giúp. Trước khi Chúa Kitô đến, đã có nhiều của hy lễ được dâng lên Thiên Chúa, nhưng không một hy lễ nào có thể đền được tội của loài người. Một mình con người không thể dâng lên Chúa một vật gì xứng hợp và quí báu để có thể đền bù một sư ïxúc phạm đến Chúa nặng nề ngần ấy. Nhưng Thiên Chúa đã thương yêu ta vô cùng và muốn giao hòa chúng ta lại với Người đến nỗi Người đã cho chúng ta một hy lễ rất đáng chấp nhận để đền trả nợ của chúng ta.

Đức Giêsu mà Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta là hy lễ chấp nhận ấy. Hy lễ Thiên quốc này đã được tế lễ trên Thập giá để giao hóa giữatrời và đất một lần thay cho tất cả.

Chữ dâng hiến để chỉ sự dâng hiến để chỉ sự dâng hiến toàn bộ vật hy sinh hoặc một món quà trong một lễ hiến tế. Trong việc dâng hiến của Chúa Giêsu Kitô, Ngài vừa là Tư Tế, vừa là vật hy sinh. Bởi chưng Ngài chịu đóng đinh trên Thập Giá chỉ vì lòng yêu thương của Ngài; Ngài có thể xuống khỏi thập giá bất cứ lúc nào, nhưng Ngài không muốn. Ngài đã tự hiến thân mình. Tất cả những gì xẩy ra cho ngài trong hình một tội nhân, nhưng không giống với bất cứ tội nhân nào bị đóng đinh, chính Ngài đã tự hiến thân mình.

VỪA LÀ CHÚA VỪA LÀ NGƯỜI

Sau khi các tông đồ rước lễ, Chúa Giêsu nói với họ rằng: Các con hãy làm việc này để nhớ đến Thầy (Lc 22:19) Khi Ngài nói lời này, Ngài đã phong chức linh mục cho các ông; vì khi bảo họ hãy làm những gì Ngài đã làm - tức biến bánh và rượu thành mình và máu Ngài - Ngài đã ban cho họ quyền năng để làm việc ấy.

Năng quyền cao cả nhất của chức linh mục là quyền dâng hy lễ Mình và Máu Chúa Giêsu. Lễ này cũng là một lễ Chúa Giêsu đã dâng trong Bữa Tiệc Ly và ngày hôm sau trên Thánh Gía. Nhờ năng quyền này, Mình và Máu Chúa Giêsu còn tiếp tục dâng lên Thiên Chúa dưới hình bánh và rượu mỗi khi cử hành Thánh Lễ.

Như thế, Chúa đã để lại cho chúng ta một hy lễ vĩnh cửu phong phú và quyền năng không có gì trên đời này có thể sánh được.

Các tông đồ sử dụng quyền năng của các ngài để nuôi dưỡng giáo hội mới của Chúa Kitô bằng Bánh Bởi Trời; và các ngài chia sẻ quyền năng này với các anh em khác, những cộng sự viên và những người kế vị các ngài, để Giáo Hội có thể tiếp tụctư 2thế hệ này qua thế hệ khác dâng lễ tế cao cả và làm tái diễn mầu nhiệm này.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

            Vượt qua - Tiệc ly - Biến đổi bản thể - Mầu nhiệm - Thánh Thể - Dâng hiến -

             Hy lễ.

****************************************************************

BÀI 13: CHÚA CHỊU CHẾT VÀ SỐNG LẠI

Sau Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đến vườn Cây Dầu để cầu nguyện. Ngài dặn các môn đệ hãy thức với Ngài, nhưng họ đều thiếp ngủ cả. Chúa Giêsu thức một mình trong cơn hấp hối của Ngài.

Đêm ấy, Chúa Giêsu thấy hết cả tội lỗi nhân loại và điều ấy làm Ngài buồn sâù. Ngài nghĩ đến tất cả những đau khổ Ngài sẽ chịu để đền tội cho chúng ta. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người. Với tư cách là người, Ngài cũng có những cảm xúc sâu xa. Đêm ấy, Ngài cảm thấy buồn bã và sợ hãi. Ngài cầu xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, nếu có thể được thì xin cất khỏi con sự đau khổ này.” Nhưng rồi Ngài nói tiếp: “Song không phải ý con mà là ý Cha được thành sự.” Chúa Cha đã sai một thiên thần đến an ủi Ngài.

Theo luật định, các đầu mục Do Thái không thể đụng tới Chúa Giêsu cho tới khi họ có phép của tổng trấn Roma tại Giuđê là ông Pontiô Philatô. Ông này có quyền thả Chúa Giêsu. Ông biết Chúa Giêsu vô tội. Nhưng Philatô rất sợ làm mất lòng dân. Khi đám đông dân chúng cứ tiếp tục la ó rằng: Hãy đóng đinh nó, Philatô đã nhượng bộ. Ông không bảo vệ Chúa Giêsu. Ông đã kết án tử hình Ngài như các kẻ thù của Ngài yêu cầu. Các tên lính túm lấy Chúa Giêsu và xử tệ với Ngài như với một tên gian ác. Họ đánh đòn Ngài. Họ đặt một vòng gai nhọn trên đầu Ngài. Họ nhạo báng Ngài và nói những lời vô lễ: Chào Vua dân Do Thái!

Lúc ấy Chúa Giêsu đã yếu nhược lắm rồi, nhưng những tên lính càng làm Ngài đau đớn hơn. Họ bắt Ngài vác một cây thập giá nặng. Họ không cho Ngài một chút nghỉ ngơi hay miếng nước nào. Chúa Giêsu đã té ngã ba lần, nhưng họ cứ bắt Ngài phải bước đi. Khi Chúa Giêsu đã lên tới đỉnh núi Calvariô, họ đóng chân tay Ngài vào thập giá, rồi dựng nó lên, và để Ngài chết trong đau đớn.

Dầu đang ở trong đau khổ cùng độ, Chúa Giêsu vẫn đầy lòng thương yêu. Ngài xin Chúa Cha tha tội cho các tên lính hung dữ ấy. Ngài ban cho người trộm cướp cùng bị đóng đinh bên cạnh Ngài lòng hy vọng và ơn tha thứ. Ngài xin Đức Mẹ Maria nhận làm mẹ của môn đồ Ngài yêu mến là Gioan, và làm mẹ cho cả loài người.

Vài người lúc đó đã chê cười Chúa Giêsu và nói: Ông ấy đã cứu chữa người khác nhưng lại không cứu được mình! Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và Ngài có đủ quyền năng để thoát khỏi cựu hình thập giá. Nhưng Ngài đã ở trên thập giá. Ngài đã chọn lấy sự đau khổ và cái chết tự do vì yêu thương nhân loại. Ngài muốn đền tội thay cho họ, muốn cứu chuộc họ để họ được hưởng phúc Thiên Đàng.

Cuộc thắng trận vĩ đại của Chúa Giêsu dạy chúng ta hiểu giá trị của sự hy sinh. Cuộc chịu nạn và chịu chết của Ngài đã cứu thoát nhân loại. Khi chúng ta dâng lên những việc làm của mình vì lòng yêu mến, là chúng ta đang tham dự vào sự hy sinh cao cả của Chúa Giêsu. Chúng ta đền tội cho mình và cho người khác. Một cách nào đó, chúng ta giúp Chúa Giêsu cứu độ thế gian. Những việc từ bỏ mình có thể đơn giản như cho đi một cục kẹo mà mình muốn giữ lấy, hoặc giúp đỡ cha mẹ khi các ngài mệt mỏi... Những việc yêu mến này trở thành một phần của sự hy sinh của Chúa Giêsu để đem lại ơn thánh cho gian trần.

Lần sau bạn đi lễ, bạn hãy tìm xem các chặng Đàng Thánh Giá trong Nhà Thờ. Hãy nhớ là Chúa Giêsu đã yêu thương bạn đến nỗi chịu mọi khổ hình và đã chết vì bạn. Bạn rất quý đối với Ngài. Hãy nói với Ngài là bạn sẽ yêu mến Ngài mãi mãi.

Không có lòng mến nào lơn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu.

Các Chặng Đàng Thánh Giá:

1.         Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

2.         Chúa Giêsu vác thánh giá.

3.         Chúa Giêsu ngã lần thứ nhất.

4.         Chúa Giêsu gặp Mẹ Ngài.

5.         Ông Simon giúp Chúa Giêsu vác thánh giá.

6.         Bà Veronica lấy khăn lau mặt Chúa Giêsu.

7.         Chúa Giêsu ngã lần thứ hai.

8.         Chúa Giêsu nói với các người phụ nữ Giêrusalem.

9.         Chúa Giêsu ngã lần thứ ba.

10.       Chúa Giêsu bị quân dữ lột hết áo quần.

11.       Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá.

12.       Chúa Giêsu chết trên cây thánh giá.

13.       Các môn đệ hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi thánh giá.

14.       Chúa Giêsu được táng trong mồ.

CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI

Sáng sớm này Chúa Nhật sau khi Chúa Giêsu chết, Maria Mađalêna và vài người phụ nữ khác lên đường dẫn đến mộ. Các bà muốn bổ túc nghi thức an táng theo phong tục Do Thái và ướp xác Chúa Giêsu với hương liệu. Các bà không có đủ thời gian để làm việc này mấy ngày hôm trước. Luật cấm đụng đến xác người chết trong ngày Sabath.

Dù hôm ấy là một buổi sáng mùa xuân đẹp trời, nhưng tâm hồn các bà không được thanh thản nhẹ nhàng. Thầy mà họ yêu và tôn kính như Đấng Messia đã chết. Các môn đệ thì còn trốn trong nhà, lòng đau buồn rười rượi vì các chết của Thầy mình, và lo âu vì sợ hãi cho mạng sống bấp bênh của mình nữa. Điều làm các bà lo lắng hơn cả là sẽ không thể chu toàn việc yêu mến lần cuối cùng, là ướp hương thi hài của Thầy mình.

Ngôi mộ bị đóng kín bằng một tảng đá lớn mà các bà không thể di chuyển được. Và các bà không chắc rằng các lính canh Roma được sai đến đó để giữ ngôi mộ khỏi tay các môn đệ của Chúa Giêsu sẽ sẵn lòng giúp các bà. Có lẽ các bà tự nghĩ rằng quyền lực sự dữ đã thắng trận một cách tàn bạo.

Khi đến cửa mồ, các bà ngạc nhiên thấy tảng đá đã lăn ra ngoài. Một thiên thần ngồi trên tảng đá nói: “Đừng sợ, tôi biết các bà đang tìm Đức Giêsu, Đấng đã bị đóng đinh. Ngài không còn ở đây, vì Ngài đã sống lại như Ngài đã nói. Hãy đến mà xem nơi người ta đặt Ngài nằm. Rồi hãy đi loan tin cho các môn đệ của Ngài rằng Ngài đã sống lại.” (Mt 28:5-7)

Các bà vội chạy về nhà các môn đệ ở. Các ông không biết nghĩ sao về câu chuyện các bà vừa kể, nhưng Phêrô và Gioan liền chạy vội đến mộ. Maria Mađalêna cũng chạy theo các ông. Các ông nhhìn vào trong mộ. Tấm khăn liệm của Chúa Giêsu đưọc cuộn lại gọn gàng và để qua một bên. Gioan hiểu rằng các tên trôm thường trộm cắp các mồ mả không thể làm như vậy được. Ông nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói về việc sống lại. Phải! Chính thế! Bây giờ đã xẩy ra thật sự như vậy. Ngay khi đó, Gioan đã trở nên người thứ nhất tin vào sự phục sinh. Phêrô và Gioan chạy trở về nhà để báo cho các môn đồ khác về điều các ông đã thấy.

Nhưng Maria Mađalêna còn ở lại nơi mộ. Mệt mỏi và lo âu bởi những gì đã xẩy ra, bà không thể suy nghĩ minh bạch được. Bà chỉ biết một điều là xác của Chúa Giêsu đã biến mất, có thể do những tay ác ôn đánh cắp. Bà bắt đầu khóc thì nghe thấy tiếng động sau lưng bà: Này bà, tại sao bà khóc? Bà tìm ai? Mắt đã bị lòa vì nước mắt, Maria tưởng đó là người làm vườn. Nhưng khi người ấy nói lần thứ hai, thì không thể lầm được nữa. “Maria”, Ngài nói. Maria nhìn lên và thấy ngay Chúa Giêsu đứng đó. Bà thưa Ngài: Lạy Thầy! Hầu như đớ lưỡi không nói được gì vui mừng. Chúa Giêsu mới sai bà đi loan báo cho các môn đồ.

Chúa Giêsu đã thực hiện một chiến thắng trọng đại hơn cả. Ngài đã đánh bại tội lỗi và toàn thắng sự chết là hình phạt của tội lỗi. Sự Phục Sinh của Ngài cho các môn đệ của Ngài thấy rằng Ngài là Con Thiên Chúa thật sự, là Vua trên các Vua, là Chúa trên các Chúa. Sự phục sinh là dấu hiệu Thiên Chúa đã chấp nhận lễ hy sinh mà Chúa Giêsu đã dâng lên để cứu chuộc nhân loại.

Sau khi sống lại, thân xác của Chúa Giêsu đã biến đổi, hay nói khác là được vinh hiển. Bây giờ Ngài không còn bị giới hạn trong thân xác của Ngài như tất cả chúng ta đều bị. Ngài có thể hiện ra hay biến đi bất cứ nơi nào Ngài muốn. Ngài có thể đi xuyên qua tường và cửa khóa kín. Ngài không còn đau khổ hay cảm thấy khó chịu, như đói hay khát. Đồng thời, Chúa Giêsu vẫn còn một thân thể thực sự. Ngài không phải là ma, và khi Ngài hiện đến với các môn đồ, Ngài chứng tỏ bằng việc ăn uống và cho các môn đồ sờ vào các vết thương của Ngài.

Sự Phục sinh của Chúa Giêsu là một trong những chân lý trọng yếu nhất của đức tin chúng ta. Thánh Phaolô nói: “Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì đức tin của chúng ta hóa ra vô ích”. Vì Chúa Giêsu đã sống lại, linh hồn chúng ta đã chết vì tội lỗi, được sống lại trong ơn thánh hóa nhờ Bí Tích Rửa Tội. Vì Chúa Giêsu sống lại mãi mãi, chúng ta cũng có thể hy vọng sẽ sống mãi mãi trên Thiên Đàng.

“Ngài đã xuống ngục tổ tông: ngày thứ ba Ngàu sống lại từ kẻ chết...”

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

            Calvariô - Lễ hy sinh - Cuộc chịu nạn - Cứu chuộc.

PHẦN SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Tại sao Con Thiên Chúa làm người?

Con Thiên Chúa làm người để cứu độ chúng ta, nghĩa là để cứu chuộc chúng ta khỏi tội và đem lại cho chúng ta Nước Thiên Đàng.

2.         Chúa Giêsu Kitô đã làm gì để cứu độ chúng ta?

Để cứu độ chúng ta, Chúa Giêsu đã đền tội cho chúng ta bằng cách chịu đau khổ và hy sinh chết trên thập giá, và Ngài cũng dạy chúng ta phải sống thế nào cho đúng ý Chúa.

3.         Chúa Giêsu Kitô đã chết theo tư cách là Chúa hay là người?

Chúa Giêsu đã chết theo tư cách là người, vì với tư cách là Chúa, Ngài không thể chịu đau khổ hay chết được.

4.         Hy lễ là gì?

Hy lễ là dâng hiến cách công cộng lên Thiên Chúa một sự vất có thể thiêu hủy được, để tuyên xưng rằng Chúa là Đấng Tạo Hóa chủ tể muôn loài thuộc về Ngài.

5.         Sau khi chết, Chúa Giêsu đã làm gì?

Sau khi chết, Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông bằng linh hồn Ngài, để viếng linh hồn các người công chính đã chết từ trưóc đến lúc ấy, và đem họ về Thiên Đàng với Ngài. Rồi Ngài sống lại từ kẻ chết, lấy lại thân xác đã được an táng trong mồ.

6.         Xác Chúa Giêsu Kitô đã ở lại trong mồ bao lâu?

Xác Chúa Giêsu ở lại trong mồ ba ngày, tuy không phải là ba ngày tròn; từ chiều thứ sáu cho đến sáng ngày mà bây giờ gọi là Chúa Nhật Phục Sinh.

****************************************************

 

BÀI 14: CHÚA GIÊSU NGỰ VỀ TRỜI

Trong những ngày trong tuần sau ngày Chúa Nhật thứ nhất Phục Sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần với các môn đệ của Người. Người dùng những lần viếng thăm này để dạy dỗ các ông trong công việc truyền bá Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội trên trần gian. Người bắt đầu công cuộc giáo huấn này ngay lần đầu Người hiện ra cho các ông. “Như Cha đã sai Thấy, thì bây giờ Thầy cũng sai anh em.” Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Jn 20:21-23) Và như thế, Chúa Giêsu đã ban cho các tông đồ một năng quyền đặc biệt mà các ông cần có như là những linh mục và giám mục đầu tiên của Hội Thánh: Quyền Tha Tội. Với năng quyền này, các tông đồ có thể đem đến cho các Kitô hữu lòng thương xót và ơn tha thứ của Thiên Chúa. Sau đó, các ông sẽ truyền lại năng quyền này cho các người khác sẽ kế vị các ông.

Một trong mười một tông đồ, tên là Tôma, không có mắt trong buổi họp mắt ấy. Oâng chưa thấy Chúa Giêsu phục sinh và cũng không chịu tin điều này. Ông nói: Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra. Lần này có cả Tôma nữa. Chúa Giêsu mới nói: “Tôma, lại đây, đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin.” Oâng Tôma thưa Người: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!” (Jn 20:24-29)

Chúng ta phải vui mừng với lời Chúa Giêsu nói với Tôma, vì Người cũng nói với chúng ta. Người nói: “Vì thấy Thầy nên anh đã tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” Chúng ta tin Chúa Giêsu dù chúng ta không thấy Người. Đức tin của chúng ta sẽ được ân thưởng.

Sau đó ít lâu, các tông đồ quyết định đi thả lưới ở biển hồ Tibêriát, cũng như trước kia các ông thường làm, khi chưa biết Chúa Giêsu. Các ông đã thả lưới trọn đêm nhưng không bắt được con cá nào. Khi các ông đang chèo vào bờ lúc trời tảng sáng, một người đứng trên bờ đã la to hỏi các ông: Các anh có bắt được gì không? Các ông đã trả lời: Không được gì! Người ấy bảo: Cứ thả lưới xuống bên phải mạng thuyền đi, anh em sẽ ba71t được cá.” Họ vâng theo lời khuyên dạy và kéo lên môt5 mẻ cá kinh hoàng. Oâng Gioan mới la to lên: Chúa đó! Oâng Phêrô vui mừng nhớ lại việc Chúa Giêsu đã cho ông lần đầu tiên một mẻ cá kỳ diệu như vậ. Ngày ấy là ngày Người đã kêu gọi các ông đi theo Người. Bấy giờ, ông Phêrô liền nhảy xuống hồ và lội vào bờ, trong khi các môn đệ khác chèo thuyền và kéo lưới đầy cá lên. Chúa Giêsu nhen lửa lên và Người đã dọn cho họ một bữa điểm tâm.

Khi các ông ăn xong, Chúa Giêsu đứng dậy và nói với Phêrô. Người hỏi ông: “Phêrô, anh có mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thấy có!” và Chúa Giêsu nói tiếp: “Hãy chăn dắt đoàn chiên con của Thầy.” Chúa Giêsu lại hỏi lại xem Phêrô có yêu mến Người không. Ông Phêrô lại thưa có, và Chúa Giêsu nói: “Hãy chăn dắt đoàn chiên của Thầy.” Khi Chúa Giêsu hỏi Phêrô lần thứ ba, “Này anh Simon, anh có mến Thầy không?”   Phêrô buồn, phải chăng Thầy nghi ngờ mình sao? Ông đã thưa lại: Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con mến Thầ.” Một lần nữa Chúa Giêsu bảo: Hãy chăn dắt đoàn chiên của Thầy.”

Với những lời trên đây, Chúa Giêsu đã chọn riêng ông Phêrô để đặt ông làm thủ lãnh Giáo Hội của Người. Người đặt ông Phêrô làm kẻ chăn của cả đoàn chiên - kể cả những tông đồ khác. Chính vì lý do đó, mà Phêrô đã trở nên vị thủ lãnh của Hội Thánh trên trần gian - là vị Giáo Hoàng tiên khởi.

Khi bốn mươi ngày đã trôi qua, đã đến giờ Chúa Giêsu trở về cùng Cha Người trên Thiên Đàng. Các môn đệ đã học được nhiều điều nơi Chúa Giêsu trong thời gin này, nhưng Chúa Giêsu biết các ông cần những gì nữa trước khi các ông có thể đi rao giảng Tin Mừng một cách can đảm và trung thành. Người đã hứa ban cho các ông Chúa Thánh Thần, là Đấng ban cho các ông sự thông hiểu, đức tin và quyền năng cấn thiết.

Chúa Giêsu dẫn nhóm mười một và nhiều người đã theo Người lên núi Cây Dầu. Người ban cho họ lời giáo huấn cuối cùng:

           “Thầy đã được toàn quyền trên trời dưới đất. Vật anh em hãy đi đến muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:18-20)

Nói xóng, Người lên trời. “Người lên trời trước mắt các ông, và có đám mây đến rước Người lên, khiến các ông không còn thấy Người nữa.” (CVSĐ 1:10) Và đang lúc các ông đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai thiên thần hiện ra nói, “Này các bạn miền Galilê, sao còn đứng nhìn trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các bạn và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các bạn đã thấy Người lên trời.”

NHẬN RA CHÚA GIÊSU NƠI THA NHÂN

Các môn đệ không nhận ra Chúa trên đường Emmau. Chúng ta cũng vậy, nhiều khi chúng ta đang có Chúa Giêsu với mình, nhưng vẫn không nhận ra điều ấy.

Làm sao có thể nhận ra Người? Ta hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu trong sách Tin Mừng: “MỖi khi anh em làm điều này cho một người nhỏ mọn nhất trong những người anh chị em của anh em. Là anh em đã làm cho Thầy.” Chúa Giêsu hiện diện trong những kẻ nghèo khó, đới khát, bệnh tật, cô đơn và tất cả những ai đang cần đến tình yêu của chúng ta.

Khi chúng ta nghĩ đến giúp người thiếu thốn, chúng ta hay nghĩ rằng mình cho tiền, thức ăn hay quần áo cho những người mình sẽ không thấy bao giờ. Nhưng thực ra Chúa Giêsu luôn hiện diện trong mọi người sống chung quanh chúng ta. Người em trai đang sống cô đơn và cần đến tình bạn của bạn; người mẹ và ngươì cha cần đến sự giúp đỡ công việc lặt vặt trong nhà; người bạn cùng lớp không người nào ưa thích: trong mỗi người ấy, chúng ta hãy nhận ra Chúa Giêsu.

Trong một đêm giá buốt cách đây nhiều thế kỷ, một người lính tên là Martinô đã gặp một người ăn xin hầu như không có quần áo trên tấm thân,. Martinô không có gì khác để cho ngoài chiếc áo choàng. Thế là ông đã chắt đôi chiếc áo choàng và tặng cho người ăn xin một nửa, nửa còn lại ông quấn quanh mình. Đêm ấy, Martinô nằm mơ thấy Chúa Giêsu hiện ra mặc nửa chiếc áo choàng kia. Ngài nói: “Chính Martinô đã cho Ta phần áo ấy.” Ít lâu sau, Martinô đã thành một Kitô hữu và tiến tiển trong sự đại độ và thánh thiện. Ngày nay chúng ta biết người lính ấy chính là Thánh Martinô thành Tours.

CHỮ NÊN BIẾT :   Thăng thiên

PHẦN SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã làm gì?

Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu còn ở lại bốn mươi ngày với các môn đệ. Rồi Người lên trời ngự bên hữu Chúa Cha toàn năng.

2.         Tại sao Chúa Giêsu ở lại dưới đất 40 ngày sau khi sống lại?

Chúa ở lại dưới đất 40 ngày sau khi sống lại là để chứng tỏ Người đã thật sự chỗi dậy từ kẻ chết, để củng cố lòng tin của các môn đệ tin vào Người, và để dạy họ hiểu cách sâu sắc hơn giáo huấn của Người.

*************************************************************************

 

 

QUYỂN THỨ I

PHẦN TIẾNG ANH

 

VOLUME I

CHAPTER 1: KNOWING GOD THROUGH CREATION

            No person should ever be ignorant of God's existence. By using the reasoning powers of our minds we can come to know that there is a God, who created the wonderful world in which we live. This is true even for those who do not have the girl of faith. The great apostle Saint Paul reminded the Christians of Rome about the truth:

            Ever since the creation of the world [God's] invisible nature, namely, his eternal power and deity, has bean clearly perceived in the things that have bean made. (Rom 1:20)

            Everywhere in the universe we find order and design. Order and design are sure signs of God's hand in creation. To explain order and design as the results of “chance” is really quite foolish. For example, consider an ordinary wrist watch. Do you really that it really just happened to come into existence? That the metal out of which it is made happened to form itself into the shape of a watch? Even more astonishing, could the numbers on its face “just happen” to arrange themselves in the proper order and with just the right amount of space so as to keep the perfect time? Of course not! Then consider the many wondrous things in the universe, a million times more complex than a watch: the solar system, an insect, the individuality of each human body, etc. Do you think that these all just happened without anyone commanding and directing their creation

Along with knowing that God exists, we are able to learn a little about him through the study of creation. By seeing the great power of the ocean with its waves and tides, we learn that its Maker must be great and powerful as well. The beautiful aromas and colors of spring flowers tell us that their Creator must be pleasing and beautiful too. All of God's creatures tell us something about him; they all reflect a bit of greatness, beauty, and powers.

Learning About Ourselves Through Reason

            Just as we can come to know about God by the use of our reasoning power, so we are able to learn about ourselves by examining our own selves, our desires, and our actions. One of the first things we notice is that we have a body much like some animals. We have legs in order to walk and eyes with which we see. This reminds us that we are a part of God's physical creation.

            When we look at the differences between us and the animals however, we soon see that we are greater…for we are intelligent and free. We have control over our actions and are able to decide or choose what we well do. Consider this example: there is a dog who has been cruelly treated by being locked in a cage without food or water for two days. Someone discovers this poor dog and brings him some food. When this nourishment is placed in front of him, the dog must eat it; he has no choice. The urge for nourishment will force him to jump at the bowl and chomp at the food until it's gone. A dog acts on instinct alone. It had no free will. Now consider this same cruel treatment being done to a man, as was the case with many prisoners of war. If nourishment is brought to the prisoner as a bribe to get him to betray his country, he may freely chose to give in and eat. Or he can refuse to betray his homeland and remain without food. He has the gift of free well by which he is able to decide for himself what he will do.

            This freedom shows us that we are very different from the rest of the animal world; we have a spiritual part of us that can think, choose, and decide. We call this spiritual part of the soul. Thus we can learn that human beings has a physical body and a spiritual (invisible but real) soul.

Revelation Perfects Our Knowledge Of God

Earlier in this chapter we saw that God must be powerful and beautiful because he has created such wondrous things in our world. We learned this from using our minds in the study of creation. But we can learn so much more about God by studying the Bible, which is one of the ways he reveals himself to us. Revelation (God making himself known to mankind) makes our knowledge of him more perfect and complete.

            From revelation we learned that God is present everywhere and to every person. God is a spirit: this means that he has no physical body which limits him to any one time or place. The bible reminds us of this mystery.

Where can I go from your spirit? From your presence where I can flee? If I go up to the heavens you are there; if I sink to the nether world, you are present there. If I take the wings of the dawn; if I settle at the farthest limits of the sea, even there your hand shall guide me, and your right hand hold me fast. (Ps 139: 7-10 )

            We also learn that God knows everyone and everything; all that ever was, all that is, and all that ever will be;

            He plumbs the depths and penetrates the heart; their innermost being he understands. The Most High possesses all knowledge and seas from of old things that are to come; he makes known the past and the future and reveals the deepest secrets. No understanding does he lack; no single thing escapes him. (Sir 42:18-20)

            Jesus revealed the greatest truth about God that there are three Persons in the one true God. We call this the mystery of the Trinity. In the Trinity there is God the Father (first Person), God the son (second Person - he became man as Jesus Christ), and God the Holy Spirit (third Person).

            From the Scripture we receive the beautiful revelation that God is love (1 Jn 4:6), and we know that is was this love that moved him to create our universe, making man only a little less than the angels and giving us the wonderful gift to reason.

Words To Know:

            Human Reason     Gift of Faith     Catholic Faith     Trinity

Exercise

I.          In your own words define the following terms:

Human reason: __________________________________________________________

_______________________________________________________________________

            Gift of faith: ____________________________________________________________

            ________________________________________________________________________

            Catholic faith:____________________________________________________________

            _______________________________________________________________________

            Trinity:_________________________________________________________________

            _______________________________________________________________________

II.        Write down three things that we can know about God from reason alone.

1.______________________________________________________________________

            2.______________________________________________________________________

            3.______________________________________________________________________

III.       Circle the numbers of those actions that show free will. Put an X over those numbers that illustrate actions done by instinct. Underline the sentence if it shows both free will and instinct.

1.         Mary decides to help her mother clean the house.

2.         Jim's dog, Spit, chases a cat into the street.

3.         Michelle is thirsty so she takes a drink of water.

4.         Vicki's cat, Felicia, meows because she is hungry.

5.         Paul is a good student because he spends extra time studying for his classes.

***************************************************************

CHAPTER 2:   DIVINE REVELATION

In the first chapter we learned that by using our reasoning powers we are able to know that God exists. We also saw that human reason alone cannot discover all that there is to know about our Creator. Moved by his great love for us, God has revealed himself to us first through the Jewish people of the Old Testament, and later in the life of Jesus handed on to us in the teaching of the Church. We call these truths which God has made known to us divine revelation.

History Of Divine Revelation

God did not simply reveal himself to one person at one point of time; he made himself known bit by bit. The firs people to know him were Adam and Eve. Later God formed a chosen people, called the Israelites or Jews, to be the special keepers of his revelation.

            He began forming this community by choosing a man named Abraham, who lived almost four thousand years ago in the land of Mesopotamia. God made him the father, or founder, of the chosen people. These people eventually wrote down the revelation they had received from God. Writing a collection of books which we call the Old Testament.

            Almost two thousand years after Abraham the time came for God to give us his greatest revelation, the gift of his only Son, Jesus Christ. Our Lord taught the people all about God and corrected some wrong idea they had about him. In order to make sure that his teachings would be correctly understood and passed on to others. He founded the Church. Jesus made his Twelve apostles the official teachers in the Church and placed his revelation (gospel) in their safekeeping. After the Resurrection, the apostles taught the gospel to others both by preaching and by writing (the New Testament). Some Christians today do not believe that Tradition and Scripture are both necessary for true believers to learn the whole truth about God. But the Second Vatican Council reminded us that

Tradition and the Bible…join together and aim at the same goal. The Bible is the message of God put in writing under the inspiration of the Holy Spirit. Tradition delivers the Word of God which was entrusted by Christ and the Holy spirit. Tradition delivers the Word of God which was entrusted by Christ and the Holy spirit to the apostles and their successors… So both Tradition and the bible are to be accepted in the same way. (Del verbum. II, 9)

            It is very important to remember that divine revelation reached its greatest point with the life of Christ and the preaching of his Twelve Apostles. The Lord's teachings, faithfully preached by these holy men, are summed up in a profession of faith that we call the Apostles' Creed.

            This Creed is a statement of our basic beliefs as Catholic Christians; in it are found the main mysteries of our faith. A mystery is a truth that is above our power to understand, but which we believe because God has said that it is so.

            When the last surviving apostle died (Saint John, c. 100 A.D.) god's public revelation of himself to the world came to and end. All that God wanted man to know for salvation had been made known by Jesus and his Twelve Apostles, and, as Vatican II stated, “There is to be no further public revelation until Christ comes again” (Del verbum, I. 4)

The Holy Bible

            The Holy Bible, also called Sacred Scripture, is the inspired Word of God; it is one of his greatest gifts to us. We usually think of the Bible as one book, but it is really a collection of seventy-three books, written by various men in different centuries. It is divided into two sections: the Old Testament and the New Testament.

The Old Testament

            The first section of the Bible, the Old Testament, was put together by the Jewish people. It consists of the first forty-six books of the Bible which are chiefly concerned with preparing the world for the Messiah. There are three basic categories of Old Testament writings:

            THE HISTORICAL BOOKS:

The religious and historical traditions of the Jews, These books include the Pentateuch (the first five books of the bible, called by the Jews the torah or Law of Moses).

            THE WISDOM BOOKS:

A collection of prayers, wise sayings, and advice, often written in poetic forms.

            THE PROPHETIC BOOKS:

The words and messages of God's chosen spokesmen, the prophets. This category also includes the books lamentations and Baruch.

The New Testament

            The second section of the Bible, the New Testament, is the most important part of the Scriptures, for it contains the live and teaching of Jesus and his Twelve Apostles. It too has different kinds of writings:

            THE GOSPELS:

These are the four accounts of Christ's life and message of salvation, written by the apostles Matthew and John, and the disciples Mark and Luke. They faithfully hand on to us what Jesus said and did when he lived on earth.

THE ACTS OF THE APOSTLES:

This is a brief history of the early Church, primarily covering the ministry of Saint Peter and the missionary work of Saint Paul.

THE LETTERS OF SAINT PAUL:

These are the teaching of Christ applied to particular needs of the early Church and to the daily life of the Christians.

THE LETTERS TO ALL CHRISTIANS:

                        These we written by various apostles as catholic, or universal, teachings to all the believers.

THE BOOK OF REVELATIONS:

Also called the Apocalypse, this book was written by the Apostle John shortly before his death. It was meant to be a source pf encouragement to the persecuted Church, reminding the believers that Jesus is victorious over all his enemies.

Authorship And Inspiration Of The Bible

We call the scriptures the Word of God because their primary author was God the Holy Spirit. He chose certain men to be the human authors; they put down, in their own language and style, only what the Spirit inspired them to write. Inspiration means that God moved these men to write about him and he guided their minds as to what to put down.

Because God inspired men to write these books, they are free from all error in teaching us about God and what is necessary for out salvation. It is important to remember that the Bible is meant to teach us religious truths, not necessarily the laws of science. For example, the ancient writers thought that the earth was at the center of the universe and that the sun and stars revolved around the earth. This mistaken view of science, however, has no effect on the truths which they wrote down about God and out responsibilities toward him and to each other.

The Protector And Teacher Of Devine Revelation

Since God has given us his revelation through various people and in various forms, it makes sense that he would appoint someone to be the one true protector and teacher of these truths. After all, we are not dealing here with ordinary facts of life, but with supernatural truths by which people are saved! We saw earlier in this chapter that Jesus established his Church for this very purpose. He placed the Church in the hands of the apostles of their successors, saying:

Full authority has been given to me… Go, therefore, and make disciples of all nations… teach them to carry out all that I have commanded you. and know that I am with you always, even until the end of the world. (Mt 28:18-20)

The successors of the apostles today are the Pope (who takes Saint Peter's place of authority) and the Catholic bishops of the world. Their teaching authority is called the magisterium or official teaching office of the Church. It belongs to them alone (or to the Pope himself) to tell us what is true Christian belief. The magisterium guides the members of the Church or Our Lord in what must be believed and done by his faithful followers. Like the Twelve, the Pope and the Bishops in union with him are guided by the Holy Spirit, are kept free from any errors in passing on the faith, and are the only official protectors of revelation of the world. This special gift of being able to teach without error on matters of faith and moral, is called infallibility. With Jesus' authority and power of the Pope and bishops proclaim his Good News of salvation and show us how to live good Christian lives as we journey to Heaven, our eternal home.

Words to Know:

            New Testament           Old Testament                        mystery           Tradition         Gospels

            Holy Bible                   Inspiration                   Creed              divine revelation

            Infallibility                  magisterial

Exercise:

I.          Questions:

1.         What are the truths revealed by God?

The truths revealed by God are chiefly those summarized in the Apostles' Creed. They are called truths of faith because we must believe them, with full faith, as taught by God who can neither deceive nor be deceived.

2.         What is the Apostles' Creed?

The Apostles' Creed is a profession of faith in the chief mysteries and the other truths revealed by God through Jesus Christ and his apostles and taught by the Church.

3.         What is a mystery?

A mystery is a truth entirely above our reason, but not contrary to it, which we believe because God has revealed it.

4.         What are the chief mysteries of faith that we profess in the Creed?

The chief mysteries professed in the Creed are two: the Unity and Trinity of God; and the Incarnation, Passion, and death of our Lord Jesus Christ.

5.         Where do we find preserved what God has revealed and proposes for our belief by means of the Church?

That which God has revealed and proposes to us for belief by means of the Church is preserved in Sacred Scripture and in Tradition.

6.         What is Sacred Scripture?

Sacred Scripture is the collection of the books written under the inspiration of God, in the Old and New Testament, and received by the Church as the work of God himself.

7.         What is Tradition?

Tradition is the teaching of Jesus Christ and of the apostles, done by their living voices, and transmitted from them to us by the Church without alteration.

8.         Who can bring us with authority to know, completely and in their true sense, the truths contained in Scripture and Tradition?

The Church alone can bring us with authority to know the truths contained in Scripture and Tradition, completely and in their true sense, because God has entrusted the deposit of faith to the Church, and has sent the Holy Spirit upon the Church. The Holy Spirit continually assists the Church so that it makes no error in carrying out this assignment.

****************************************************************8

CHAPTER 3:     CREATION

God shares with us his beauty, his power, and his glory in the wonderful world which he created. The Holy Bible begins with the book of Genesis, in which we find the story of the world's creation. In order better to appreciate the almighty power of God we must know that to create means to make something out of nothing. The entire universe came into existence simply because God wanted it to exist! He did not use any materials to create the world as we must when we make something. Rather he has only to think of the universe and it was created! This is why the book of Genesis tells us that God has only to say, “Let there be light”, and there was light. (Gen 1:3)

The inspired story of creation was originally part of the oral tradition (religious stories) of the Jewish people. They passed this story on to each generation in order to teach and remind the people that:

1.         There is only one God and he is the Creator of all that exists - - the pagans often believed that each of their gods created different things in the world.

2.         God created the world in an orderly way and as a way of sharing his love with man - - many pagans believed that the world was the result of a was between their gods or that it happened by accident.

3.         Everything created by God is good - - the pagans believed many created things to be the work of an evil god who liked to make mankind suffer.

The Creation Of Mankind

The book of Genesis also tells us about the creation of the first man and the first woman, the parents of the entire human race:

The God said: “Let us make man un our own image, after our likeness…” God created man in his image; in the divine image he created him; male and female he created them. God blessed them saying: “Be fertile and multiply; fill the earth and subdue it. Have dominion over the fish of the sea, the birds of the air, and all the living things that move on the earth”. God also said: “See, I give you every seed-bearing plant all over the earth and every tree that has see-bearing fruit on it to be your food.”. (Gen 1:26-27)

            This account tells is that God had a greater plan for man than he had for the rest of the world of nature; he gave man authority over the beasts and plants of the earth, which we created for man's right to use (such as food, clothing, or enjoyment of nature). The second chapter of Genesis gives us another account of creation.

The Lord God said: “It is not good for the man to be alone. I will make a suitable partner for him”…So the Lord God cast a deep sleep on the man, and while he as asleep, he took out one of his ribs…and built up into a woman the rib he had taken from the man. (Gen 2:18, 19, 21-22)

The parents of the human race were called Adam and Eve, because Adam means “man”, and Eve mean “mother of the living”.

The Human Person

In Genesis we see that after God made the human Body, he “blew the breath of life [into Adam] and so man became a living being” (Gen 2:7). This tells us that we are each composed of both a physical body and a spiritual soul. The body is made of matter (as are all things that can be touched, seem, etc.) and so this makes us like the beasts and other physical creatures. But the soul is spiritual; that is, like God it is invisible but real. This is why Scripture tells us that we are made of the spirit and, unlike the other physical creatures, we will live forever since we have souls that are immortal.

The soul has two spiritual powers that make us very much like our Creator: the intellect and the will. By the power of the intellect we are able to think, reason and know right from wrong. The will allows us to choose freely what we shall do or say or think; it gives us the ability to love or to hate, to do good or to sin. We all know that no other earthly can do these things.

Both the body and the soul are important to man, otherwise God would not have created them. Even though the soul is immortal and has great powers, without the body we would not be true and complete human beings. God commands that we respect and take care of both these gifts which he has given us.

God Gave Man Special Gifts

When God created Adam and Eve he gave them more than their natural bodies and souls; he gave them special gifts. They has complete harmony and peace in their lives; they never argued or acted selfishly toward each other.

Also, God kept them free from suffering, sickness, and deaths. But most of all he gave them a share in his own divine life with the gift of sanctifying grace. This grace made them more than his creatures: it made them his children and heirs to Heaven, where they would live with him for ever! These gifts would be theirs and would be passed on to all of their descendents…All that was required of them was that they love and serve him all their lives.

The Creation Of The Angels

Before we look at the events that led to man's loss of these gifts, we must know that God first created, from nothing, pure spirits whom we call angels. They are intelligent persons like us but they do not have physical bodies as we do. Angels possess greater intelligence and power than human beings, but they too were created to worship and serve God. After God had created the angels he put them to a test to see if they would freely love him and obey his commands. Some of them, les by Lucifer, refused to serve the Lord; they rebelled against him. So God created Hell, where those who do not want to be with him are sent. These angels were good when they were created by God, but they became evil by their own free choice. We call these disobedient spirits fallen angels or demons. They are still led by Lucifer, who is also known as Satan of the devil. They try to turn all creation away from God, for they do not want God's creatures to serve him.

The spirits who loved and obeyed his commands are called faithful or good angels; they were led by Michael the Archangel. These angels assist us in living holy Christian lives so that we will serve God on earth and come to live with him in Heaven when we die. God has assigned a good angel to each one of is; this angel is called our guardian angel to each one of us; this angel is called our guardian angel and his mission is to help us on our way to Heaven.

The Fall Of Man

Like the angels, God put our first parents to a test to see if they would truly love and serve him. He gave Adam and Eve a beautiful garden in which to live, the Garden of Eden (also called the Paradise), and he told them that they could eat anything in that garden except the fruit of a certain tree.

Well, the devil saw this as an opportunity to lead Adam and Eve away from God. He entered the garden and tempted our first parents to sin. He said that if they ate the fruit of the forbidden tree they would become gods, just like their Creator!

Poor Adam and Eve! They believed the lies of Satan and ate the forbidden fruit. At that moment they knew that they had sinned, and they were filled with shame. They tried to hide from God, which is, of course, an impossible thing to do.

The Lord called to them and told Adam and Eve that they must now be banished from Paradise and be subject to suffering, sickness, and death. Much worse, now they no longer lived in the state of sanctifying grace which had made them the children and friends of God, theirs to the happiness of Heaven. Now they passed on to heir descendants a human nature that was weakened because of their sin.

We call this sin of Adam original sin because it was the first sin ever to be committed by man and because it is passed on from Adam, the origin of the human race. The terrible results of this sin (separation from God, sickness, death, slavery to sin and the devil) are called the effects of original sin. Except for Jesus and Mary, all human beings since the time of Adam and Eve have been conceived with original sin and its effects on their souls and stand in need of salvation.

We must not think that God was unfair in taking away these gifts; they were gifts freely given and not deserved. In his love he clearly told Adam and Eve what the result of their disobedience would be when he said:

You are free to eat from any of the trees in the garden except the tree of knowledge of good and bad. From that tree you shall not eat; and the moment you eat from it you are surely doomed to due. (Gen 2:16-17)

God's Promise Of A Redeemer

Even thought they had sinned against him, God continued to love Adam and Eve. He wanted them, and all the human race who would descend from them, to live in his friendship. So he promised to send us a Redeemer, someone who would be able to reconcile us to God and restore to our souls the life of grace. God told the devil that this Redeemer would come from a woman saying:

I will put enmity [mutual hatred] between you and the woman, and between your offspring and hers; He will strike at your head, while you strike at his heel. (Gen 3:15)

Words To Know:

create               body                soul                  immortal                      sanctifying grace                    

good angels                 bad angels                   Heaven                 Hell                        original sin                  

Redeemer

Exercise

I.          Questions:

1.         Why is God called “the Creator of Heaven and earth”?

God is called the Creator of Heaven and earth, that is, of the whole world, because he made it out of nothing. Making something out of nothing is to create.

2.         Is the world entirely the work of God?

Yes, the world is entirely the work of God; and in its wonderful greatness, beauty, and order it reflects to us the infinite power, wisdom, and goodness of God.

3.         Did God create only the matter that is in the world?

No, God did not create only the material things that are in the world, but he also created the pure spirits, and he creates the soul of each human being.

4.         What are the pure spirits?

The pure spirits are intelligent beings that do not have a body.

5.         How do we know that creatures which are pure spirits exist?

That there are creatures which are pure spirits is known to us by faith.

6.         What creatures that are pure spirits do we know through faith?

Through faith we know that there are pure spirits which are good, namely, the angels, and pure spirits which are wicked, the demons.

7.         What are the angels?

The angels are invisible ministers of God, and also they are our guardians, for God has entrusted each man to one of these guardian angels.

8.         Do we have duties toward the angels?

WE have the duty of reverence and respect toward the angels; and toward our guardian angel we also have the duty of gratitude, of giving ear to his inspirations, and of never offending his presence by sin.

9.         What are the demons?

The demons are angels who rebelled against God by pride and were cast into Hell; through hatred of God, they tempt man to do evil.

10.       What is man?

Man is a reasoning being, composed of body and soul.

11.       What is the soul?

The soul is the spiritual part of man, by which he lives, understands, and is free; hence he is able to know, love, and serve God.

12.       Does man's sould die with his body?

Man's soul does not die with his body, but it lives for ever because it is a spiritual reality.

13.       What care must we take of our soul?

We must take the greatest care of our soul because it is our better part, because it is immortal, and because only by saving our soul can we be happy for ever.

14.       How is man free?

Man is free because he is able to do a thing or not to do it, or to do one thing rather than another, as is evident by personal experience.

15.       If man is free, can he also do evil?

Man can do evil, having the capacity to do so, but he must not do it, precisely because it is evil. Human freedom must be used only for what is good.

16.       Who were the first men?

The first men were Adam and Eve, who were created immediately by God. All other men descend from them. Hence they are called our first parents.

17.       Was man created weak and sinful as we are now?

Man was not created weak and sinful as we are now, but in a state of happiness, with a destiny and with gifts that were above the capacity of human nature.

18. What destiny did God assign to man?

God assigned to man the supreme destiny of seeing and enjoying him, the Infinite Good, for ever. And because this is entirely above and beyond the capacity of human nature, man also received from God a supernatural power to achieve this destiny. This power is called grace.

19.       In addition to grace, what else did God give to man?

In addition to grace, God gave man the gift of freedom from all the weaknesses and sufferings of life, and from the necessity of dying, provided that he not sin. Unfortunately Adam, as the head of mankind, did sin by partaking of the forbidden fruit.

20.       What was Adam's sin?

          Adam's sin was a grave sin of pride and disobedience.

21.       What damage did the sin of Adam cause?

     The sin of Adam despoiled him and all men of grace and of every other supernatural

     gift. Thus Adam and all men were made subject to sin, to the demon, to death, to

     ignorance, to all evil inclinations, and to every other sort of misery, and finally to

   exclusion from Heaven.

 

22.       What is the sin called to which Adam subject the rest of men by his fault?

The sin to which Adam subjected all men with his gualt is called the original sin because it was committed at the origin of mankind and is transmitted with human nature to each and every man in his own origin.

23.       In what does original sin consist?

Original sin consists in the privation of the original grace, which God intended us to have, but which we do not have because the head of mankind with his disobedience deprived himself and all of us who descend from him of this grace.

****************************************************************

CHAPTER 4: GOD’S PLAN OF SALVATION

            The beautiful story of his God prepared the world for the coming of Jesus Christ and of how Jesus accomplishes this plan for the redemption, or salvation, of the human race is called Salvation History. Jesus was to restore what had been lost through original sin.

            God decided to form for himself a people, the chosen people, to whom he would reveal himself and his plan of salvation. From among this sacred community, he would choose the woman who would be the mother of the Redeemer.

God Calls Abraham

            God chose a man named Abram, who lived in Mesopotamia almost four thousand years ago. He a covenant (agreement or promise) with him, promising to make Abram the father of many descendants, who would become a great nation. God also told him that this nation would live in a wonderful place called the Promised Land:

            I will make you a great nation, and I will bless you; I will make your name great, so that you will be a blessing. I will bless those who bless you and curse those who curse you. All the communities of the earth shall find blessing in you.

            Abram agreed to the covenant, and to show his new mission in life, God gave him the new name of Abraham, which means “Father of many people”. When he agreed to the covenant, Abraham showed great faith in God because he and his wife were very old and yet they believed that the Lord would give them many children. They trusted God so much that they were willing to leave family and home in order to set out for the Promised Land. The early Christians recognized the great faith that Abraham had in God; it is mentioned in the letter to Hebrews:

            By faith Abraham obeyed when he was called and went forth to the place he was to receive as a heritage; he went forth, moreover, not knowing where he was going. (Heb 11:8)

            Even today in the liturgy of the Catholic Church we honor this holy man as, “Abraham, our father in faith”. (Eucharistic Prayer I)

Isaac Continues the Covenant

            After God's promised of descendants, Abraham had a son named Isaac. Needless to say, the boy was loved dearly by his elderly parent. One day God wanted to test Abraham's faith. He commanded this father to sacrifice he beloved only son as an act of worship: “Take your son, Isaac, your only one, whom you love, and go to the land of Moriah. There you shall offer him up as a holocaust”. (Gen 22:2)

            Knowing that man must love and serve God more than his family, Abraham took Isaac up a mountain and prepared to sacrifice him as God had commanded. Just as the knife was about to plunge into Isaac and angel stopped Abraham and revealed to him that it was a test. Now God knew that Abraham truly loved him more than anyone else, and he rewarded this love by promising to continue his covenant through Isaac. After his father's death Isaac became the second Patriarch, or leader, of God's chosen people.

            The sacrifice of his only son that Abraham was willing to make was a prefigurement of God's love for mankind. A prefigurement is some person or event that happens before another event to which it is similar in some way. In this case, the prefigurement was of the sacrifice that God the Father was to make of allowing Jesus, his only Son, to be sacrificed on the Cross for our sins.

The Covenant Continues with Jacob

            Isaac married a girl name Rebekah, and they had twin boys, Esau and Jacob. God chose Jacob as the one with whom he would keep the covenant he had mad with Abraham, saying:

            “I, the Lord, am the God of your forefather Abraham and the God of Isaac; the land on which you are lying I will give to you and your descendants…In you and your descendants all the nations of the earth shall find blessing. Know that I am with you; I will protect you wherever you go…”. (Gen 28:13-15)

            Soon after this event God gave Jacob a new name, Israel, which means “The man who strives with God”. This new name is very important because God's people used it as the name for their community: the Israelites. Jacob had twelve sons who became the fathers of the twelve tribes, or families, that made up the chosen people. Thus Jacob became the third patriarch of God's people.

The Story of Joseph

            Among the many sons of Jacob, there was one who was especially dear to him - Joseph. The other sons were envious at this, and they grew angry with their brother. They began to plan among themselves how they could get rid of Joseph one and for all. One day, when they were out in the fields watching their sheep, they sold poor Joseph to a band of wandering slave traders who were on their way to Egypt. Then they told Jacob that they had sold their brother for some pieces of silver!

            In this, Joseph reminds us of Jesus who was sold by one of his friends for thirty pieces of silver. Joseph also prefigures Jesus because he was to become a kind of savior in Egypt for his brother. This is how it happened.

            When he arrived in Egypt, Joseph was bought by an important ruling family because he was handsome and very intelligent. Soon he became a trusted servant of the Pharaoh(the Egyptian king) and was given important positions in the royal court - he even became second in command in all of Egypt. In the meantime, the land of the chosen people was in a time of famine so the sons of Jacob traveled to Egypt in search of food. Imagine their surprise to find Joseph in command:

            Instead of having them killed or thrown into prison because of what they had done to him, Joseph embraced each one and gave them all the food they needed. He invited his family to move to Egypt, which they did. Joseph gave them all nice homes and loved them with all of his heart.

            In this Joseph again prefigures Jesus. Joseph forgave those who had wronged him and gave them everything they needed for a happy life. This reminds us of Christ, who forgives all of our sins and gives us every grace and blessing we need to live good Christian lives while we journey to Heaven, our true home.

            For four hundred years the Israelites live in the land of Egypt. While Joseph was alive they were treated with honor and respect. The Israelites stayed in Egypt for many years and the rulers were no longer happy to have them. One particular Pharaoh made the Israelites the slaves of the Egyptian people. The descendants of Jacob were forced to do “beasts of burden” to build many of the pyramids in Egypt. God's people soon began to think that the Lord had abandoned them; they wondered if he had taken back the wonderful covenant of blessing that he had made with Abraham, Isaac, and Jacob. It was at this difficult point in their history that God sent a very special man to his people.

Words to Know:

            salvation history                      Covenant                     Promised Land

                        Patriarch                                  Israel prefigurement

Exercise

I.          In your won words define the following terms:

Salvation history:____________________________________________________________

__________________________________________________________________________

Covenant:__________________________________________________________________

__________________________________________________________________________

Promised Land:______________________________________________________________

___________________________________________________________________________

Patriarch:___________________________________________________________________

___________________________________________________________________________

Israel:____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Prifigurement:_____________________________________________________________________________________________________________________________________________

II.        Write “True” if a statement is true; write “False” if it is false.

______1. Abraham was promised a great nation of descendants

______ 2. We call these descendants the Greek people.

______ 3. Isaac was Jacob's son and the third patriarch of the chosen people.

______ 4. Joseph was sold by his brothers and later had them killed for this terrible deed.

______ 5. The Jews became slaves in Egypt and were treated terribly by the Pharaoh.

**************************************************************

CHAPTER 5: THE HOLY PROPHET MOSES

            Before the coming of Jesus, the Redeem, the most important person among God's chosen people was Moses, the first of God's prophets. He was their first leader, and he helped tomade the Israelites a united people.

            Moses was born in Egypt to a poor Israelite woman. At the time of his birth the Pharaoh had made a law that required the death of every newborn Israelite boy. He did this because the Jewish people were becoming a very large group, and if their numbers continued to increase they would not as easily be kept in slavery. Hoping to save the life of her son, Moses's mother hid him in a basket by the Nile River.

            One day, the Pharaoh's daughter found little Moses, and she adopted him as her own son. He grew up in the royal palace and was treated as one of the family. Moses knew that he was really a Israelite by birth, and he would visit the Jewish slaves often. During one of these visits he saw an Egyptian hit one of the slaves, this filled him with so much anger that he killed the Egyptian. Realizing that he was in great trouble for having killed the Egyptian, Moses fled Egypt and went to the land of Midian. Here he became a herdsman, married a woman named Zipporah, and raised a family.

God Call Moses

            The time soon arrived when God, because of the covenant he had made with Abraham, Isaac, and Jacob answered the prayers of his enslaved people. He appeared to Moses in burning bush and told him to return to Egypt in order to deliver the Jews from their slavery. The Lord said to Moses:

            “I have witnessed the affiction of my people in Egypt and have heard their cry of complaint against their slave drivers, so I know well that they are suffering… Come now! I will send you to Pharaoh to lead my people, the Israelites, out of Egypt… I will be with you, and this shall be your proof that it is I who sent you, when you bring my people out of Egypt, you will worship God on this very mountain”.

(Ex 3:7, 10-12)

            At this time God also revealed his name to Moses. He called himself Yahweh which translated means, “I AM”. This tells us that God is the source of all that exists, it is he alone who has the power to do all things. It also reminds us that God is Eternal, that is, his existence had no beginning and will have no end.

Moses Returns To The Land Of Egypt

            Obeying the will of God, Moses travelled to Egypt where he was accepted by the Israelites as a prophet sent from the Lord. He chose his brother, Aaron, to be his companion in God's service and they both went to Pharaoh with this message: “Thus says the Lord, the God of Israel: Let my people go…”. (Ex 5:1)

            But the Pharaoh would not think of it! Instead he increased the labor of the Jews and treated them even more harshly. In order to punish his stubbornness God sent ten plagues upon the land: water turned into blood; frogs overran the countryside; gnats, flies, and tick dust filled the air, animals died, hailstorms descended upon the land; locusts destroyed their crops; and for three days all of Egypt was plunged into darkness. Even after all of these terrible signs, Pharaoh refused to obey the will of God in letting the Jewish people go!

The Passover Of the Lord

            Before sending the tenth and final plague (which was to be the death of every firs-born Egyptian son and animal), God told Moses to have each Israelite family hold a special religious meal which would be a sign that they were members of his sacred people. Every family was to kill a lamb and eat it with unleavened bread and better hers. They were to eat this holy meal standing, ready to leave on a journey. Before finishing this ceremony, they were to sprinkle the lamb's blood on their wooden doorpost, for this would be a signal that the home was to be spared from the tenth plague. When the angel of death went throughout the land carrying out this plague, he would Pass over the homes of God's people. Thus the meal became known as the Passover. Even today, Jewish families gather together to celebrate the feast of the Passover, it always celebrated near our Christian feast of Easter.

            The Passover meal was a special preparation of God's People for Christ's saving death and for the Mass, which is the sacred sacrifice-meal of the new chosen people, the Church. Let us pause to compare these important events.

1.         The Israelites gathered together for the Passover by the command of God.

·           We Catholics come together every Sunday for Mass as Christ commands us.

2.         During their ceremony the Israelites sacrifice an animal known as the Paschal lamb.

·           We offer the father the Eucharistic sacrifice of Jesus, who is the “Lamb of God”.

3.         At the Passover meal the Israelites ate the sacrificed lamb.

·           At every Eucharist we are invited to partake of the Body and Blood of Jesus in Holy Communion.

4.         The Israelites sprinkled the blood of the sacrificed lamb upon the wood of their doorpost so that death would not come to them that night.

·           At every Holy Mass the precious blood of Jesus is Sacramentally shed for our sins so that we might be saved form eternal death (hell)

5.         Finally, because of the Passover ceremony and the tenth plague, the Israelites were freed from their slavery.

·           Because of Christ's sacrifice we are freed from slavery to sin and the devil.

Because there sacred ceremonies are so similar the liturgy of the Church for Holy Week and Easter calls the Crucifixion and the Resurrection the “Paschal Mystery” (Passover) of the Lord Jesus. Saint Paul, in his first letter to the Corinthians, used this same comparison saying: “Christ, our Passover has been sacrificed. Let us celebrate this feast… with the unleavened bread of sincerity and truth”. (Paul 5:7-8)

The Exodus from Egypt

            Afraid of the power of the Israelites' God, Pharaoh let the Jews leave Egypt. We call this journey from Egypt to the Promised Land is the Exodus. Soon after they had left the Pharaoh's city, the Egyptian ruler changed his mind and sent some of his troops to bring the Israelites back. At first God's people were terrified at seeing the soldiers coming toward them, but Moses told them to trust in the Lord. As the Israelites approached to Red Sea, God intervened to save them, the mighty waters parted and there was a clear path for them to travel through! The soldiers came galloping after the Israelites, but they were too late, as soon as the last of God' people reached the other side of the sea, the waves came crashing down upon the Egyptians. You can imagine the great joy and confidence in God that filled the hearts of His people! Even with this sign of God's protection, the people soon grew weary of traveling in the desert where food and water were scarce. They complained to Moses: “Would that we had died by the hand of the Lord in the land of Egypt … But you had to lead us into this desert to make the whole community die of famine!”. (Ex 16:3)

            Seeking God's comfort and strength, Moses went up a mountain where he prayed to the Lord. In reply, God sent nourishment to his people in miraculous ways: he gave them a special bread called manna and water gushed forth from a rock! These bread, wondrously sent from God, prefigures the Holy Eucharist, which is the heavenly Bread of Life.

God Gives Moses the Ten Commandments

            After about three months of wandering in the desert the Israelites found themselves at Mount Sinai. Moses climbed up this mountain in order to be alone for prayer. At this time God appeared to him and gave him the Ten Commandments, also called the Law. In the meantime the people grew weary again and complained about their situation. Many of them actually turned their backs on God saying to Aaron: “Come, make use a god who will be our leader”. (Ex 32:1)

            They melted down all their gold jewelry and formed and Idol, or image of a false god, in the shape of a calf. They worshipped this image, committing the sin known as Idolatry. When Moses came down from Sinai he grew furious at this sin of the people. How dare they turn their backs on the one true God, the God who had made a covenant with their ancestors and who had so miraculously freed them from slavery. Moses destroyed the idol and those who had worshipped it were punished. The Israelites told God and Moses that they were sorry for having doubted. They promised to do whatever was asked of them in order to remain seek God's wisdom in this matter.

God commands Sacrifices

            As another part of the renewed covenant, God commanded that the priests of Israel offer animal sacrifices to him in worship. A Sacrifices is the act of offering to God something that is precious to us. These gifts were to be offered on an altar that was Consecrated, set apart solely for this purpose. Each time a sacrifice was offered the people would be reminded of the covenant and of their duty to obey the Law. During each sacrifice the priests would beg God to forgive the sins of all the people.

            For the next few centuries of salvation history (until the perfect sacrificial death of Jesus on the Cross), these sacrifices were offered to God by the Jews. Thus sacrificial worship became an important religious event in the lives of the People of God.

The Israelites Enter The Promised Land

            After forty years of traveling through the desert the people finally arrived in the Promised Land. However, Moses was forbidden by the Lord to enter this land because he had once doubted God's command. Even though he was a holy man and a prophet, he had to endure this punishment because he disobeyed God's command. This shows that even one sin is “one too many” in God's eyes. Moses died just as the people were nearing the land.

            After burying him, the Israelites entered into the land promised them from of God, the land God said He would give to Abraham, Isaac, and Jacob.

Joshua And The Judges Of Israel

            Joshua was Moses's successor as prophet of God and leader of the people. He was also a great warrior who led the Jews in battle against the foreigners who had taken over their land while they had been enslaved in Egypt. The book of Joshua in the Old Testament tells us about this brave man and the way he served God. Before his death, Joshua gathered the Israelites together and renewed the covenant with the Lord.

            After Joshua's death there was a new kind of leadership for Israel: the judges. These were not men who presided over courts of law as our judges do, they were military heroes who won great victories for God's people. The era of the judges lasted only as long as Israel needed military men to reconquer their land. Once the community was firmly established as a nation, work of the judges ended, and yet another new form of leadership arose: the kings.

The Rule Of The Kings

            At this time in salvation history there lived a holy prophet named Samuel. Since the Israelites wanted a king like all the other nations, God to Samuel to anoint certain men as the kings of God's people. He chose a man named Saul king by pouring oil over his head as a sign that he had been chosen by God. Saul proved to be an unworthy king and he soon died.

            His successor was David, a shepherd boy who won a mighty battle with the Philistine soldier Goliath. David became the greatest king Israel ever had, he was a strong warrior and a good government leader. Even though he committed some terrible sins he was truly sorry for them, and God forgave him. He loved God and wrote some beautiful prayers and hymns to Him. We call these the Psalms, and even today they are used in worship. It was king David who made Jerusalem the capital of the Jewish nation and the center of their worship. God loved David and made a special to him: one of his descendants would reign as king for ever! This was a prophecy about Jesus, who was a descendant of David and the true king of the Jews.

            After David's death, his son Solomon became king. He was a very wise ruler who made the kingdom a good place in which to live. His words of advice were written down and can be found in some of the wisdom books of the Old Testament. Solomon had a magnificent temple built in Jerusalem, it was beautifully decorated inside with gold, fine cloth, and donate furnishings.

            Soon after Solomon's death, however, the kingdom experienced many difficulties. The Jews who lived in the northern part fought with those of the south, they eventually divided the cherished promised Land into two separate nations. The northern kingdom was called Israel, while the southern kingdom was named Judah. It was the kingdom of Judah that remained faithful to God and to king David's policies. And it was from the people of this nation that Jesus Christ would come to us.

Words to Know:

            Law                 Exodus            idol                  altar                 Consecrated                anoint

            Psalms             Yahweh           Passover          Paschal Mystery          Ark of the Covenant

The ten Commandment Of God

1.         I, the Lord, am your God. You shall not have other gods besides me.

2.         You shall not take the name of the Lord, your God, in vain.

3.         Remember to keep holy the Sabbath day.

4.         Honor your father and mother.

5.         You shall not kill

6.         You shall not commit adultery

7.         You shall not steal.

8.         You shall not bear false witness against your neighbor

9.         You shall not covet your neighbor's wife.

10.       You shall not covet anything that belongs to your neighbor.

Exercise

I.          In your own words define the following terms:

Yahweh:___________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Passover:____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Paschal Mystery:______________________________________________________________________________________________________________________________________________

Exodus:_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Law:______________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Idol:_______________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Ark of the Covenant:__________________________________________________________________________________________________________________________________________

Sacrifice:___________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Altar:______________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Consecrated:_________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Anoint:_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Psalms:_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

**********************************************************

CHAPTER 6: GOD'S SPECIAL SPOKESMEN: THE PROPHETS

            In our study of salvation history we have seen that men called prophets have played an important role in the dealings which God had with the Jews. Many people misunderstand what a prophet is. Most think that it means a person who foretells future events in strange and mysterious ways. While it is true that part of a prophet's mission may be to predict future events, this is not the main purpose of these holy men. A prophet is someone chosen by God to speak form Him to the people. Usually this message is about their present concerns, something that they need to hear for their present concerns, something that they need to hear for their spiritual well-being. The prophet speaks these words with the authority, or permission and power, of the Lord.

The Mission Of The Prophets In Israel

            God sent many such men to his people. They were sent to remind the Jews about the covenant by which they were bound to God. The prophets told the people to be faithful to the Law and to refuse to worship false gods as their pagan neighbors did. By doing these things the prophets were really preparing the Jews for the coming of the Messiah, a name which means “the Anointed One”. In Greek the word for “Anointed One” is christos, form which we get “Christ”. As we learned in the previous chapter, “anointed” means someone chosen by God for a special role, in this case, the Anointed One is the Redeemer whom God promised to send to the human race, Jesus Christ.

            The prophets encouraged the people to trust in God, not in the powerful nations of the earth, for peace and protection. They warned them that God would punish them if they did not live as his holy people, observing the Commandments of the Law.

The Prophets Proclaimed God's Message In Many Ways

            The prophets delivered the Lord's messages in many ways. They spoke the words, put them into poetry, and sometimes even acted them out in little skits! They were so devoted to God and to their mission that they used any methods they could to get the people to hear God's Word and obey it.

The Different Kinds Of Prophets

            The spokesmen of God whom we know most about are those whose prophecies (messages from God) and lives are recorded in the Old Testament. They are divided into two groups: The major and the minor prophets.

            The major prophets are those who wrote a lot; their names are Isaiah, Jeremiah, Ezekiel, and Daniel. The minor prophets, whose writings are not as abundant, are Hosea, Joel, Amos, Obadiah, Jonah, Micah, Nanhum, Habakku, Zephaniah, Haggai, Zephaniah, and Malachi.

 

The Prophets Elijah and Elisha

            There are two very great prophets who are not included in the above lists because they did not leave us any of their writings. But their lives are recorded in the Bible and they are very important in salvation history. Their names are Elijah and Elisha. Elijah, who was always considered the greatest prophet of them all, was very devoted to God. He is most famous for a contest he held with some pagan priests on Mount Carmel. He wanted to prove to the people that the God of the Israelites was the one true God, so he told the pagan priests to set up altars of sacrifice and ask their gods to set these altars on fire. Of course no matter how long they prayed nothing happened. However, when Elijah set up his altar and asked God to set it on fire, behold! A blaze came down form Heaven and consumed the animal that was on it! Elijah's holiness drew many men to him. They wanted to serve God too.

            The most important of these men was Elisha. He lived with the holy prophet Elijah and sae him taken up into Heaven in a fiery chariot (2 king 2:11). Elisha continued serving God with the same love and devotion that had filled the heart of his master, Elijah. He worked many miracles, one of which was multiplying bread for the hungry, just as Our lord did centuries later.

            Elijah and Elisha are especially important to the Catholic Church because one of its greatest religious order, the Carmelites, owes its existence to the disciples of these prophets. The priests, brothers, nuns, and lay people who belong to the Carmelite Order dedicate their lives to offering prayers and sacrifices to God prophets had done centuries ago.

The Prophet Isaiah

            A most important prophet for Christians is Isaiah, who lived with hundred years before the birth of Christ. More then the other, Isaiah spoke about the coming Messiah. Here are some of his prophecies about the Redeemer.

            The Mesiad's virgin mother: The virgin shall be with child and bear a son, and his name shall be Immanuel (which means, God-with-us)”. (Is 7:14)

            The Messiah will be a great light: “The people who walked in darkness have seen a great light; upon those who dwelt in the land of gloom, a light has shone”. (Is 9:1)

            The Messiah will be a great ruler: “For a child is born to us, a son is given us; upon his shoulder dominion rests, they name him Wonder-Counselor, Go-Hero, Father-Forever, Princes of peace. His dominion is vast and forever peaceful”. (Is 9:5-56)

            The Messiah shines in glory upon the people: “Rise up in splendor! Your light has some, the glory of the Lord shines upon you…Nations shall walk by your light, and kings by your shining radiance”. (Is 60:1,3)

            We use these and other prophecies about the Messiah from Isaiah in our Advent and Christmas liturgies in the Catholic Church.

Saint John The Baptist, Herald Of the Messiah

            The last of the Old Testament prophets and the only one who is present in the New Testament, is Saint John the Baptist. He was a “bridge” between these two parts of salvation history, and it was his privileged mission to prepare the Jews for the public ministry of Our Lord. John was born only six months before Jesus, and he was Our Lord's cousin (his mother was Mary's relative). His parents, Zechariah and Elizabeth, were elderly and had no children. They wanted a baby so badly! One day, when Zechariah was in the Temple worshipping God, an Angel appeared to him with this happy message:

            “Do not frightened. Zechariah, your prayer has been heard. Your wife, Elizabeth, shall bear a son, whon you are to name John. Joy and gladness will be yours at his birth; for he wil be great in the eyes of Lord”. (Lk 1:13-14)

            At John's birth the Holy Spirit inspired his father with wonderful words about the little boy. He revealed to Zechariah that John was to be the forerunner and herald of the Messiah. A forerunner is someone who goes before another person to prepare the people for His coming; a herald is someone who announces the coming of a royal person. The Holy Spirit gave Zechariah these words about John:

            “You, my child, shall be called the prophet of the Most High; for you will go before the Lord to prepare his way, to give his people knowledges of salvation by the forgiveness of their sins”. (Lk 1:76-77)

            When John grew up he began his mission in the area around the Jordan River, not far from the city of Jerusalem. He would tell the people to repent (to give up their sinful desires and actions). John is called the “Baptist” (or the Baptizer) because he would pour water upon those people who wanted to give up sin, as a sign of their desire to repent, he would often say to the crowds that came to him: “I am baptize you with water, but there is one to come who is mightier than I… He will baptize you in the Holy Spirit” (Lk 3:16).

            John was speaking of Jesus, who was soon to make his appearance among the people. Like all of the other prophets sent by God, John was a victim of persecution. King Herod, who was living a sinful and impure life, did not like to hear John say that his actions were wrong. He had the Baptist thrown into prison and later sentenced him to be beheaded. John didn't care that he was to die, for he had finished the work that was his to do. He had faithfully prepared the people for Jesus'preaching, and he was ready to meet death with a loyal heart. Saint John the Baptist is one of the most important saints of the Church, and after Our Lady, he receives the most honor in the Church' prayers and liturgy.

Words to know:

            Prophet            Messiah           prophecies          forerunner               herald              repent

Exercise

I.          In your own words define the following terms:

Prophet:_______________________________________________________________________

______________________________________________________________________________

Messiah:______________________________________________________________________

______________________________________________________________________________

Prophecies:____________________________________________________________________

______________________________________________________________________________

Forerunner:____________________________________________________________________

______________________________________________________________________________

Repent: _______________________________________________________________________

______________________________________________________________________________

*************************************************************

CHAPTER 7

OUR LORD AND SAVIOR, JESUS CHRIST

 

            You will remember that God promised Adam and Eve that he would send a Redeemer, someone who would make up for original sin and the separation it caused between man and the Creator. We have seen how God began his plan for our salvation by choosing a community of people, the Jews or Israelites, to whom he gradually revealed his plan. He sent prophets to these people to prepare them for the coming of the Messiah, the “Anointed One” of God.

            The various prophets had told the Jewish people that the Messiah would indeed come to them, but they never said exactly who he would be. Most of the people expected a great and powerful military leader who free them from political oppression. That this Savior would be God himself, come down to liberate them form their spiritual slavery to sin and the devil was not what they expected.

            But the prophets did give the people some clues about the Messiah, ways to recognize him once he came. They said that he would be a member of the tribe of Judah (Gen 49:8-10). He would be born of a virgin (Is 7:14) in the town of Bethelehem (Micah 5:2-4). A great star would shine in the sky to announce the Messiah's birth (Num 24:17), and he would live for a time in Egypt (Hos 11:1-4). This Redeemer would preach God's Good News to the poor and the lowly (Is 61:1-3), but he would be rejected by the people who would cause him much suffering (Is 53:1-12).

            You probably recognize the life of the Lord Jesus in the above prophesies. Many of the Jews did, and they accepted him as the Messiah sent form God. But many others did not.

The Incarnation Of Our Lord

            From among all the women of the chosen people, God selected one through whom he would fulfill his promise of salvation: the Virgin Mary of Nazareth. One day, he sent the angel Gabriel to her, saying:

            “Hail, full of grace, the Lord is with you, Do not be afraid, Mary, for you have found favor with God. And behold, you will conceive in your womb and bear a son, and will be called his name Jesus. He will be great, and wil be called the Son of the most High, and the Lord God will give Him the throne of His Father 9ancestor0 David, and He will reign over the house of Jacob for ever; and of His Kingdom there will be no end”. (Lk 1:28,30-33)

            Now Mary, as the Church has always taught, was a virgin, as her response to this angelic messenger reveals: “how can this be since I have no husband?”. (Lk 1:34)

            The angel told her that God, in his almighty power, would work this great wonder within her. By the power of the Holy Spirit the child would be conceived in her womb. Loseph, the man whom she was to marry, would seem to be the baby's father but he was actually the Lord's foster father and protector. Mary, ready to do whatever God asked of her, replied to the angel: “Behold, I am the handmaid of the Lord, let it be done to me according to your word”. (Lk 1:38)

            With these words Mary showed how dedicated she was to God's plan for her life and for our salvation. She called herself the “handmaid” of the Lord, which is another way of saying that she was God's servant of slave, ever ready to do whatever he asked of her.

            As soon as Many expressed her consent to God's will, Jesus was conceived in her womb. Nine months later He was born in the little town of Bethlehem, and His nativity (birth) was announced by the appearance of the miraculous star, just as had been foretold. We call this event, by which the Son of God took on our human nature, the Incarnation.

The Divinity Of Jesus

            The second Person of the Blessed Trinity came down from Heaven in order to share our human life. Even more, He freely choose to be born in poverty and to live a poor life, so that we could learn that wealth and worldly pleasures do not give us true happiness. He became man so that we, by being greed from original sin and reunited with God by Baptism, could become like Him, the children of the Father. Saint Irenaeus, a holy bishop of the second century, once said: “The Word of God, Jesus Christ, on account of His great love for mankind, became what we are in order to make us what He is Himself”.

            For thirty years Jesus lived a normal human life with Mary and Joseph, working as a carpenter in the village of Nazareth. He did this in order to teach us that even such ordinary things as work and family life are very important to God. This first part of Christ's life is called His “hidden life”, because during this time the people did not know who He really was and because we do not know very much about it.

            When Our Lord was about thirty years old He began what is known as His “public life”, that is, the three years He spent preaching, teaching, and working miracles    . These miracles were signs and proofs of His divinity. They show that He is truly the Son of God. A miracle is some event or happening that is beyond the power of man or of nature. It can only be work by God, who is the Lord and Master of all creation.

            The public life of Jesus began with His baptism in the Jordan river by Saint John the Baptist. At this time, the evangelist (writes of the Gospels) tells us that the Holy Spirit came down on Jesus and the Father's voice was heard to say: “This is my beloved Son with whom I am well pleased”. (Mt 3:17) This was the first time that Jesus of Nazareth was publicity revealed as the Son of God. (Of course, Mary and Joseph knew who He was.) It was also the first time that the mystery of the Blessed Trinity was revealed. During His ministry our Lord spoke as Himself as the Son of God, saying: “I solemnly declared it: before Abraham came to be, I Am” (Jn 8:58). (Remember that “I Am” is the name God revealed to Moses in the burning bushes.)

            So we see from all of these events recorded for us in the Gospels that Jesus Christ is both God and man at the same time. This is a great mystery of faith, but we accept it as true because God has revealed to be so. We call this mystery the hypostatic union. This phrase comes from a Greek word which tell us that our Lord is the Son of God and the Son of Mary, fully God with all the divine powers, and fully man like us in everything except sin.

The Humanity Of Jesus

            Jesus had everything that makes someone a human being: a physical body with all of its various functions, an immortal soul with its power to intellect and will. As a man He had to grow daily in acquiring human knowledge, and He experienced the joys and sorrows of life just as we do. The Gospels remind us that He felt hunger and thirst (Lk 4:2); He loved children (Mk 10:13-16); He knew sorrow and cried over the death of a friend (Jn 11:32-36); He experiences loneliness (Mt 26:37-46); He enjoyed friendship (Lk 19:1-10); He felt joy and gladness (Lk 10:21); He went suffering and death (the account of the Passion in all four Gospels).

            We note that Jesus was like us in all things except sin (Heb 4:150). This is because, as the second person of the Blessed Trinity, he is all-holy. But this does not mean that Jesus was free from temptations to sin. The Gospels make it very clear that he was tempted just as we are (Mt 4:1, Mk 1:13, Lk 4:2-13). Since he was a human being like us, this means that we too can live free from our sin, with the help of his grace which is always available to us through the sacraments. Jesus has made it possible for us to live a sinless life just as he did.

Errors About The Incarnation

            Throughout the history of Christianity heresies, or errors, about the mystery of the Incarnation have been taught by various mistaken followers of the Lord. Heresies are very dangerous to the faith because they corrupt or destroy man's understanding of the truth which leads to salvation.

            The first heresy to attack the truths taught by the Church happened in the days of the apostles of the Lord, it was called Docetism. It corrupted the truth that Jesus is human. This heresy said that Christ only seemed to be a man. Some people believed this because they viewed the human body as evil, so naturally, according to their way of thinking, God would not take on a real human body. The magisterium of the Church condemned these teachings of the Docetists as heresy, and Saint John wrote his Gospel partly to show that the Diocetists were wrong. But this heresy lives on in our own day among those who think that the human body is sinful and not something which God created as good. It also affects that Christians who see Christ only as the Son of God, and not as a true, full human being.

            Another terrible heresy sprang up among Christians in the beginning of the fourth century. It was started by a priest who denied the truth about Christ's divinity. The priest's name was Arius, and so his false teaching was called Arianism. Arians believed that Our Lord was the Messiah sent from God, and that he was the greatest of teachers and holiest of men, but they would not believe that he was divine.

            An unfortunate thing about his heresy is that it attracted thousands of Christians, including many bishops. We can learn from this that even priests and bishops can be led astray from the Gospel if they do not remain united to the Pope, for at the time the Holy Father and a few faithful bishops were the only ones teaching the truth about Jesus's divinity. As you can well imagine, things got so out of hand that the first Ecumenical Council (meeting of all the bishops of the Church with the Pope) was held in order to condemn this false teaching officially. It was called the Council of Nicea (325 A.D.), and from this meeting we received the Nicene Creed, which we recite every Sunday at Holy Mass.

            Unfortunately, Arianism can still be found today among those who call Christ a “great man” and “moral leader” but who refuse to acknowledge his full divinity. These people place Jesus on the same level as the founders of other religions (such as Buddha or Mohammed), and consider Christianity to be simply one relion among all the others. They fail to see that God has become man for them, for all of us, so that we can truly live with him on this earth and forever in Heaven.

Words To Know:

            miracles           nativity            hypostatic union

            evangelists       Incarnation      heresies            Docetism

            Arianism          Ecumenical Council    Nicene Creed

Exercise

I.          Questions:

1.         How was the Son of God made man?

·           The Son of God was made man by taking a body and a soul, like we have, in the pure womb of the Virgin Mary, by the work of the Holy Spirit.

2.         Did the Son of God cease being God when he was made man?

·           When the son of God was made man he did not cease being God but, remaining true God, began to be also true man.

3.         Are there two natures in Jesus Christ?

·           In Jesus Christ there are two natures: the divine nature and the human nature.

4.         With the two natures in Jesus Christ there are also two persons?

·           With the two natures in Jesus Christ there are not two person but only one, the divine person of the Son of God.

5.         How was Jesus Christ known to be the Son of God?

·           Jesus Christ was known to be the Son of God because God the Father proclaimed Him as such at His baptism and His transfiguaration on the mountain when He said: “This is my beloved Son, in whom I am well pleased”. And also because Jesus Christ Himself declared Himself to the Son of God during his earthly life. (Mt 3:17, Lk 9:35)

6.         Did Jesus Christ has always existed?

·           As God, Jesus Christ has always existed, as man, he began to exist from the moment of the Incarnation.

7.         From whom was Jesus Christ born?

·           Jesus Christ was born of Mary ever-virgin, who therefore is called and truly is the Mother of God.

8.         Was Saint Joseph the father of Jesus Christ?

·           Saint Joseph was not the true father of Jesus Christ, but the putative father, that is, as the spouse of Mary and guardian of Jesus, he was believed to be his true father, although actually he was not.

9.         Where was Jesus Christ born?

·           Jesus Christ was born at Bethlehem, in a stable, and was placed in a manger.

10.       What is a miracle?

·           A miracle is something beyond all the forces and laws of nature, and therefore something which can be worked only by God, who is the Lord and Master of Nature.

11.       With what miracles in particular did Jesus Christ confirm his doctrine and demonstrate that He is true God?

·           Jesus Christ confirmed His teaching and demonstrated that He is true God by instantly restoring vision to blind, hearing to deaf, speech to the dumb, health to sick persons of every type, and life to the dead. And also, as their Lord and Master by commanding the demons and the forces of nature. Above all, he did so with his own Resurrection from the dead.

********************************************************************

CHAPTER 8:   JESUS' MINISTRY

            When Jesus was thirty years old, the time had come for him to begin his mission. First, he went to see his cousin, John the Baptist. John was now a great prophet. Crowds of people came to hear him preach repentance and to be baptized as a sign of sorrow for their sins. Some people thought John was the Messiah, but John made it clear that he was only the Savior's herald: “I am the voice of one crying in the wilderness . . . “prepare the way of the Lord” . . . One is coming who is greater than I, whose sandal I am not worthy to untie”.

            So naturally, John was started to see Jesus wading into the Jordan River. “It is I who ought to be baptized by you”, he said. Jesus insisted, even though he did not need to be baptized. He wanted to share everything with the people, including their sorrow for sin. After Jesus was baptized the Holy Spirit came down upon him, and the voice of God the Father was heard to say: “This is my beloved Son in whom I am well pleased.”

            Jesus then went into the desert mountains to pray and to fast for forty days. He knew his work would be difficult, and he needed this time to prepare himself for it. At the end of the forty days, Satan came to tempt Jesus. He tried to persuade Jesus to make life easy for himself with his miraculous powers, to be a mighty earthly ruler, accepted by all. But Jesus wanted only the will of his Father. He would not and could not sin. He sent Satan away.

            After coming back from the desert, Our Lord began preaching in the villages of Galilee. He spoke in synagogues, on the streets, by the lake shores, and on the hillsides. Jesus did not spend much time with the educated Pharisees or the religious leaders of his day. He wanted to bring the Good News of salvation to the poor, to sinners, and to all whom the world considered unimportant. Among his disciples were simple fishermen and even a tax collector whom everyone had hated. The boys and girls of Galilee loved to be near Jesus. Here was a rabbi (religious teacher) who was a real friend to them!

            Jesus taught the people truths about God, about Heaven, and about the way to get to Heaven. He said that God loved them like a Father and was longing for sinners to come back to him. Jesus spoke of the Kingdom of Heaven, whose members would be not merely servants, but children of God. Children of the Kingdom were to have a way of life that would reflect God's love. They were to love all men, even their enemies. They were to forgive and pray for those who sinned against them. Jesus said they would be judged by how they treated the hungry, the sick, the imprisoned, and all who could not help themselves.

            To help people understand better what the Kingdom of Heaven was, Jesus told hort stories called parables. “The Kingdom of Heaven is like a mustard seed”, said Jesus in one of his parables. “It is the smallest of seeds. But when it grows, it is greater of other plants. It becomes a tree” (Mt 13:31-32). This helps us see that the work of Christ and his Church began in a small, hidden way. It seemed unimportant to the world, like the mustard seed. But the Kingdom would grow until it became the greatest spiritual kingdom in the world. Like the mustard tree, it would tower over the kingdoms of men.

            At another time, Jesus said the Kingdom of Heaven was like a giant fishnet let down into the water. “And when it was full the men pulled it out and, sitting by the shore, they gathered the good fish into containers and the bad they threw away” (Mt 13:47-51). At the end of the world, God will gather all men together and separate the good from the bad. In the meantime, it is not our job to judge each other, just as the fish could not decide by themselves who was good and who was bad. Judging fish is the job of the fisherman; judging souls is best left to God.

            On of the most beautiful parables is about a treasure in a field (Mt 13:44). A man was digging in the ground when he discovered a buried treasure. Knowing the value of the treasure, he sold all that he owned, and with that money bought the land where the treasure was hidden. When we discover the Kingdom of Heaven, we have found the greatest treasure of all. We do not mind giving our lives to Jesus, because in exchange he will give us eternal life in Heaven. Other people may not understand why we follow Christ. Perhaps the man in the parable looked stupid to others, giving his life savings for a plot worthless land. They did not know about the hidden treasure. In the same way, the joy of Heaven are hidden from many people today. But those who have found the Kingdom of Heaven know it is worth any price.

            Jesus chose twelve men to be his closest friends, his apostles. They were to spend more time with Jesus than anyone else. Someday they would carry on his work by preaching, baptizing, and leading the Church he founded.

            In all things, Jesus chose to do the will of his Father. The long miles from town to town tired him. The refusal of some to listen to the Good News saddened him. But through it all, Jesus was happy knowing that he was carrying out his Father's plan to save the world and conquer sin. “I have come to do the will of Him who sent me”, said Jesus, even though the Father's will would one day lead him to pain and death. Jesus knew this, but he went ahead bravely, out of love for his Father and love for us.

O Jesus, Master, establish your Kingdom in us: “a Kingdom of truth and life, of holiness and grace, a Kingdom of justice, love, and peace” (Preface, Mass of Christ the King).

Words To Know:

parable

Exercise:

I.          Jesus left John the Baptism and went into the desert to fast and pray for forty days. At the end of the forty days Satan came to tempt Jesus. Satan tempted Jesus three times. Draw lines to match Satan's temptation with Jesus's refusal and his response.

Satan tempting:   “If you are the Son of God command these stones to become loaves of bread”. “If you are the Son of God throw yourself down; for it is written, 'He will give his angels charge of you'”. “All these (kingdoms of the world) I will give you if you will fall down and worship me”.               Jesus' response: “You shall not tempt the lord your God”.   You shall worship the Lord your God and Him only shall you serve”.   “Man does not live by bread alone but by every word that proceeds from the mouth of God”.      

***********************************************************

Chapter 9:   THE SAVING MISSION OF JESUS

            The Father sent his only Son into our world for the salvation of the human race. Saint John the Apostle proclaimed this saving mission of Jesus and reminds us that it was the Father's will, his plan for his Son:

Yes, God so loved the world that he gave his only Son, that whoever believes in him may not die but may have eternal life. God did not send the Son into the world to condemn the world, but that the world might be saved through him. (Jn 3:16-17)

Jesus and the Father

            Jesus always had his mind set on the Father, whom he loved with all his heart. He showed this deep love by faithfully doing the will of God, even if this meant suffering and hardship as in his Agony in the Garden or his death upon the Cross.

            Our Lord often spoke of his oneness with the Father. One day, after having multiplied bread for the hungry, Jesus said: “It is not to do my own will that I have come down from Heaven, but do the will of him who sent me”. (Jn 6:38)

            At many other times during his life Christ revealed the intimate relationship which he enjoyed with his Father:

            The Father loves the Son and has given everything over to him. (Jn 3:35)

            The Father loves me for this: that I lay down my life to take it up again. (Jn 10:17)

The world must know that I love the Father and do as the Father has commanded me.

(Jn 14:31)

            I can never be alone; the Father is with me. (Jn 16:32)

            We see from these words that Jesus did everything out of love for God and in obedience to his will. Nothing which the Father asked of him was too much or too difficult, for Jesus' love knew no limits.

Prophet, Priest, and King

            The Father sent Jesus to be his greatest Prophet, the teacher of God's truth. He was also sent to be our Priest, who offered himself in sacrifice to the Father, and our King, who came to start the Kingdom of God upon earth. We call these three roles of Christ his triple office.

Jesus Our Teacher

            Jesus the Prophet, or Teacher, helps us to reach Heaven by telling us how to live lives that are pleasing in God's sight. Only in Jesus' teaching do we find the way that leads to Heaven. Jesus said of himself: “I am the way, and the truth, and the live; no one comes to the Father but through me”. (Jn 14:6)

            By this words and example Jesus told us about the Father's great love for us; he revealed that the Father had sent him as our Savior, the One who would take away our sins. We call this the Good News of our salvation.

            Jesus shared his role as Teacher with his followers. He teaches us today through the magisterium (teaching office) of the Catholic church. This duty to share the faith with others is also a very important part of every Christian's live. By Baptism and Confirmation we are called to spread the faith to others by our words, good example, and apostolic effort.

Jesus Our Priest

            Jesus is our one true Priest whose sacrifice on the Cross won for us the gift of sanctifying grace, which, as we learned in our study of man's creation, is the life of God in our souls. In order to make this live of grace available to all men of every time and place, Jesus gave us the sacraments and told his apostles to bring these holy gifts to all the world. Every Christian shares in the priesthood of Jesus through the anointing received at Baptism and Confirmation. This means that we are set apart from other men and women as the true worshippers of God. Worship is the prayer and adoration which we offer to God, especially through the Mass and sacraments. We can also worship God privately in many ways, for example, by reciting acts of faith, hope, and love.

Jesus Our King

            Even before his birth the Messiah was called the great king or ruler of God's people. The Angel Gabriel had revealed to Mary: “The Lord God will give him the throne of David. . . . and of his kingdom there shall be no end”. (Lk 1:32-33)

            The Jews thought that the Messiah would be the ruler of an earthly kingdom, but Jesus corrected this mistaken view, saying: “My Kingdom does not belong to this world”. (Jn 18:36)

            Our Lord meant that this Kingdom was spiritual. Everyone who lives in the state of sanctifying grace belongs to the Kingdom of Christ, which is the Church. The Kingdom of God (also called the Kingdom of Heaven or the Reign of God) is the greatest place for a person to live. We live in it on earth by faithful membership in the Church, and we will live in it in Heaven forever.

            It is so wonderful that Jesus used to tell a parable, or story, in which his Kingdom is compared to a treasure and to a pearl. (Mt 13:44-46) He said that the person who discovers this treasure will see its value and give up anything that stands in the way of obtaining it.

            The “thing” that usually stands in our way of having the treasure of God's Kingdom is sin. For this reason Jesus gave us the sacraments of Baptism and Penance; through these sacred ceremonies we are freed from sin and made holy members of his Kingdom. According to the parable, if we really value the Kingdom we will give up sin so that this pearl and treasure willb e ours forever.

Words To Know

            will of God     triple office     Good News     worship     Kingdom of God parable

Exercise:

I.          Question:

What did Jesus Christ accomplish during his earthly life?

·           During his earthly life Jesus Christ taught us by his example and his word to live according to God, and he confirmed his doctrine by his miracles. Finally, to cancel our debt of sin, to reconcile us with God, and tto reopen Heaven to us, he sacrificed himself on on the Cross, “the only mediator between God and me”. (1 Tim 2:50

**************************************************************

CHAPTER 10:   THE PRIESTHOOD OF JESUS

            In the last chapter we learned that one of Jesus' roles as the Savior was to be our Priest. This meant that he was to offer the Father a perfect sacrifice for our sins. Because this is a most important part of our salvation we will look more closely at the priesthood of Jesus in this chapter.

Offering Sacrifices to God

            We have seen that the idea of offering sacrifices to God has been part of salvation history since the days of the Exodus. But it really goes all the way back to Cain and Abel, the sons of Adam and Eve.

            The first sacrifices mentioned in the Bible were those of these two brothers:

In the course of time Cain brought an offering to the Lord from the fruit of the soil, while Abel, for his part, brought one of the best firstlings of his flock. The Lord looked with favor on Abel and his offering, but on Cain and his offering he did not. (Gen 4:3-5)

            This story goes on to tell us that God had accepted Abel's offering because he had a pure heart, while Cain's heart was full of jealousy toward his brother.

            The Bible also tells us that Noah offered an animal on an altar to God, thanking him for having spared his family during the great flood and acknowledging God to be Lord and Creator of the earth.

            The book of Leviticus, in the Old Testament, has to do with the offering of sacrifices to God; it tells us that these sacrifices were commanded by God as a way of showing sorrow for sin. Through these offerings the chosen people hoped to obtain forgiveness.

            We learn from the Bible three very important things about offering sacrifices to God:

1.         The gift must be offered with a pure or sinless heart.

2.         The offering is a thanksgiving to God for his blessing and protection.

3.         The offering of sacrifices shows sorrow for sin and a desire for forgiveness.

The Old Testament accounts of sacrifice also remind us that three things are required for every offering:

1.         a priest, that is, someone to do the offering. In the Jewish nation God himself selected certain men to be his priests.

2.         a victim, that is, something to be offered. God told the Jews to offer certain animals, especially the Passover lamb.

3.         an altar, that is, somewhere for this offering to take place. For the Jewish priests the altars of sacrifice were located in the Temple.

Jesus Our Sinless High Priest

            All of the Jewish sacrifices were but a preparation for the one perfect sacrifice that Jesus was to offer to God. He is called our High Priest, which means that he is the greatest priest of God. Why? Because he was sinless. The Son of God, who came down from Heaven in order to give perfect worship to the Father. The other priests were but imperfect men who could not worship God with sinless hearts.

Jesus Our Sinless Victim

            Along with being the Priest of his sacrifice, Jesus was also the Victim. His altar, or place of offering, was the table of the Last Supper and the Cross of Calvary: two different places but only one Priest, one Victim and one Sacrifice.

            At the Last Supper Jesus the perfect Priest offered himself to the Father under the appearances of bread and wine. He had changed these into himself with the words, “This is my Body . . . This is my Blood”. Thus the perfect victim was being offered.

            The words, “ . . . to be given for you” and “ . . . will be shed for you”, (Lk 22:20) tell us two things: that Jesus is offering a sacrifice to God for our sakes and that this Sacrifice of the Eucharist is connected to that of his Crucifixion, which happened the next day.

            On Mount Calvary, the place where Jesus was crucified, the same sacrifice-offering to the Father was made. As with the Last Supper, Jesus was the Priest who offered himself. He was the Victim, but this time it was a bloody, painful offering. By his heath, which the Lord offered for us, the one true sacrifice for sin was finally given to God. Unlike the animals offered by the Jewish priest, this sacrifice worked! It indeed made up for every sin and reconciles us to the Father!

            How can we be sure? Because the Resurrection took place. This showed that God had accepted the sacrifice of his Son. We no longer need to wonder about it - Jesus was freed from the grip of death as the sign that we, too, are freed from death and its cause: sin. The great Saint Paul wrote about this in his letters to the Colossians and the Corinthians:

Christ has achieved reconciliation for you in his mortal body by dying, so as to present you to God holy, free of reproach and blame. (Col 1:22)

If Christ was not raised [from the dead], your faith is worthless. You are still in your sins. (1 Cor 15:17)

Jesus Our One Mediator

            Besides the offering of sacrifice the priest had the duty for praying for his people, asking God to look upon their offering and to forgive their sins. This is called mediation, and the priest is a “go-between”, or mediator.

            As man Jesus is our one, perfect mediator, his wounds from the Crucifixion are no longer painful and bloody; but they are glorious reminders to the Father of his sacrifice. Also as man, he prays to the Father for us. He shows the wounds of the Crucifixion, now glorious, to the Father to remind him of his one perfect sacrifice that took away our sins. Saint Paul revealed this truth of Jesus as our mediator to his friend and fellow bishop, Saint Timothy: “God is one. One also is the mediator between God and men, the man Jesus Christ.” (1 Tim 2:5)

A Priest Like Melchizedek

            Christ's priesthood is foretold in the Old Testament: “The Lord has sworn, and he will not change his mind: 'You are a priest forever after the order of Melchizedek'.” (Ps 110:4)

            Who was Melchizedek and how is he connected to Jesus' priesthood? He was a king of Salem (later called Jerusalem) and a priest who offered bread and wine to God in sacrifice. Saint Paul tells us that this is why he is compared to Jesus. No one else had offered the gifts of bread and wine, before Christ. Even today, at the ordination ceremonies of Catholic priests, the verse from Psalm 110 is used as one of the prayers for the Mass.

Words To Know:     Priest     victim  altar     mediator

Exercise:

I.          In your own words define the following terms:

Priest:______________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Victim:_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Altar:______________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Mediator:____________________________________________________________________________________________________________________________________________________

**************************************************

CHAPTER 11:   CHRIST, SOURCE OF ALL GRACE

            The Son of God became man so that we might receive the gift of God's grace that our first parents had lost for us. We call him the Source of All Grace, the One from whom we receive this wonderful gift of God's life in our souls.

            Saint John the Apostle reminds us of this truth: “And the word became flesh and dwelt among us, full of grace and truth . . . And from his fullness have we all received grace upon grace.” (Jn 1:14, 16)

            Sanctifying grace is God's greatest gift to us. It makes us the children of the Father, brothers and sisters of Jesus Christ, and temples of the Holy Spirit. Those who die with this life of God in their souls go to Heaven, where they enjoy never-ending happiness with the Blessed Trinity, Mary, and all the angels and saints. Nothing else in the entire universe can do this for us. Now you can see why Jesus would consider grace to be something important enough to die for.

Jesus' Mission of Grace

            Whenever God gives a mission to someone he also gives him everything he will need to carry it out. He never asks the impossible of anyone. The Incarnation (God the Son becoming man) gave Jesus of Nazareth all that he needed to carry out his mission. By being both God and man, Our Lord was totally filled with grace. All of his actions were perfect and holy because they were the actions of God the Son and not simply those of a good human being.

            Because he was God as well as man, Jesus had supernatural powers which made it possible for him to redeem us, that is, to free us from our slavery to sin and the devil. The four Gospels are full of true stories that reveal Christ's power over sin and Satan:

            He could expel evil spirits or devils from possessed people:

There appeared in the synagogue a man with an unclean spirit that shrieked: “What do you want of us, Jesus of Nazareth? Have you come to destroy us? I know who you are - the holy One of God!” Jesus rebuked him sharply: “Be quiet! Come out of the man!” At that the unclean spirit convulsed the man violently and with a lout shriek came out of him. (Mk 1:23-26)

            He worked miracles and taught with an authority that amazed the people:

            All who looked on [at Jesus] were amazed. They began to ask one another: “What does this mean? A completely new teaching in a spirit of authority! He gives orders to unclean spirits and they obey!” From that point on his reputation spread throughout the surrounding region of Galilee. (Mk 1:27-28)

            He gave proof that he could forgive sins:

While he was delivering God's word to them, some people arrived bringing a paralyzed man to him . . . When Jesus saw their faith, he said to the paralyzed man: “My son, your sins are forgiven . . . that you many know that the son of Man has authority on earth to forgive sins, I command you: Stand up! Pick up your mat and go home.” The man stood and picked up his mat . . . All gave praise to God saying, “We have never seen anything like this!” (Mk 2:3-12)

Jesus Gives Grace to All Men

            Jesus fulfilled his mission. He won for us the grace of redemption, which means that whoever believed in him can live a new life, one that is blessed with God's friendship and that will last forever. We first receive this new life in Baptism, and grow in it through prayer and reception of the other sacraments.

            Jesus entrusted these sacraments to his Church, which is the Kingdom of God upon earth. Through the prayers and preaching of his priests Jesus continues to defeat Satan and to conquer sin. Through his priests he continues to give the grace of God to all those who believe.

            This new life of grace has been made possible for us only by the life, death, and Resurrection of Jesus Christ, the Source of All Grace, “from whom all goods things come.” (Eucharistic Prayer III)

            Because without Jesus we would have no grace and because Jesus was conceived and born of the Virgin Mary, she is often called the Mediatrix, or channel, of all grace.

Words To Know

            Source of All Grace                redeem                        Mediatrix

Exercise

I. In your won words define the following terms:

Soruce of All Grace: ____________________________________________________________

______________________________________________________________________________

Redeem: _____________________________________________________________________

_____________________________________________________________________________

Mediatrix: ____________________________________________________________________

_____________________________________________________________________________

**************************************************************

Chapter 12: AT THE LAST SUPPER

Let us begin by reading chapter six of St. John's Gospel.

Jesus shocked many of his followers by saying that he would give them his Body to eat and his Blood to drink, and that they would not have life in them unless they accepted it. At this many of his followers left him. Peter answered for those who remained faithful. When Jesus asked them. “Will you, too, leave me?” Peter said, “To whom shall we go, Lord? You have the words of eternal life”. (Jn 6:68-69)

Peter and the faithful disciples did not foresee how Jesus was going to do what he said; they didn't have the slightest idea how it could be possible. But they had come to know and Jesus; they had come to hunger for the words of eternal life that came from him; and they believed.

Just before he told them this, Jesus had demonstrated his power by feeding a crowd of about five thousand people with a few loaves and fishes, and he had announced greater things to come. But he did not explain. When the time came for him to leave his apostles, Jesus gave them a treasure of immeasurable richness-his own Self in the Eucharist. With the utmost simplicity he found a way to give them his Body and Blood to eat and drink: he changed bread into his Body and wine into his Blood.

This wonderful event took place at Jesus' Last Supper with his apostles the night before he died. They were celebrating one of the great festivals of the Jewish people, the Passover. With Jesus' action the sacrifice of the Old Covenant was ended and the sacrifice of the New Covenant established.

The Passover

The Passover commemorated God's rescue of his chosen people from slavery in Egypt, when he worked great signs and wonders through his servant Moses to strike the fear of God into the hearts of the Egyptians so that Pharaoh would free the Hebrews and allow them to depart.

Actually, Pharaoh was very stubborn about it until one night the angel of death passed through Egypt, striking down the firstborn sons of the Egyptians.

The Hebrews had been instructed by God through Moses to offer a special sacrifice that night: a spotless lamb, one for each family. Every Hebrew dwelling was to be marked on the doorpost with the blood of the lamb so that the angel of death would pass over without harming those within.

After this event the Egyptians finally let the Hebrews go, for the fear of God had fallen on them.

All of this is important if we are to understand what Jesus did at the Last Supper. We can see the slavery of the Hebrew people as an image of the slavery of all people in sin. And just as God freed the Hebrews, he frees us. The sacrifice that frees man form sin is the crucifixion and death of Our Lord Jesus Christ. He is the Passover Lamb.

Each year the Hebrew people observed the anniversary of the Passover - and the mighty events that led to their freedom - with a special meal. Each family would offer a Paschal lamb in sacrifice and would eat it with unleavened bread and bitter herd. These were details that recalled the original Passover.

Jesus and his apostles were celebrating this special meal when Jesus “took bread, blessed it, broke it, and gave it to his disciples. “Take this and eat it', he said; 'this is my body'. Then he took a cup, gave thanks, and gave it to them'. All of you must drink from it', he said, 'for this is my Blood, the blood of the Covenant, to be poured out on behalf of many for the forgiveness of sins'”. (Mt26:26-28)

The Perfect Victim

From the time of Adam's fall, men have felt the need to make a public offering to God to make up for their sins and ask for mercy. The firstfruits of a harvest a lamb or a goat - something needed for life - these things would be destroyed on an altar by a priest to indicate that, like everything that exists, they belong to God. Men desired to be restored to that friendship with God which sin had broken. Their sacrifices were an attempt to do this.

Offering a sacrifice has four distinct purposes: to adore God, to thank him, to make up for sin, and to ask his help. Before the coming of Christ a great many sacrifices were offered to God, but not one of them offered a victim that could atone for men's sin. Alone, men were unable to offer to God anything so fitting and precious that it could make up for such a grave offense against God. But God loves us so much and so much desired our reconciliation to him that he gave us an acceptable victim that would satisfy our debt.

Jesus given to us by the Father, was that acceptable victim. This divine victim was sacrificed upon the Cross to make peace between Heaven and earth once and for all.

The word oblation is used to indicate the total offering of a victim r gift in a sacrifice. In the oblation of Jesus Christ, he was both priest and victim. For he was held on the Cross by his love alone; at any moment he could have come down from the Cross, but he would not. He truly offered himself. To all appearances he died like a criminal, but, unlike anyone else who was ever crucified, he freely laid down his life.

Being God And Men

When Jesus took the bread at the Last Supper and said. “This is my Body”, he made himself present on the table as the gift of the sacrificer. He stood over the gift and looked down upon it, but the gift was no longer bread; it was his Body, it was himself. He did the same thing with the wine; it became his precious Blood. Jesus could do this because he was God as well as man.

At the Last Supper, the apostles received the first Holy Communion, and each apostle received Jesus complete and entire - not part of Jesus but the whole Jesus - Body, Blood, Soul, and Divinity. God and man. The whole Jesus went to Andrew, to Peter, to John, to Philip, to each one. And so he comes to us, too, when we receive Holy Communion. The apostle were united with Christ and filled with grace. So are we.

But what did the apostles see when Jesus said, “This is my body… This is my blood”? What they saw still looked like bread and wine. That had been bread still had the same weight, color, and taste: what had been wine. That had been the same taste, odor, and color. But its substance, the underlying reality which makes it what it is, had been changed. The looks and other properties known by the senses are called the appearances; the Body and Blood of Jesus kept the appearances of bread and wine. This mysterious change that took place in the bread and wine is called “transubstantiation”, which means change of substance.

The Everlasting Sacrifice

After the apostles had each received Holy Communion, Jesus said to them, “Do this in remembrance of me” (Lk 22:19). When he said this he make them priests; for by telling them to do what he had jus done - to change bread and wine into his Body and Blood - he gave them the power to do it.

The greatest power of the priesthood is the power to offer this sacrifice of Jesus' Body and Blood. It is the same sacrifice that Jesus offered at the Last Supper and the next day on the Cross. Through this power the Body and Blood of Jesus continue to be offered to God under the appearances of bread and wine whenever the Mass is celebrated.

So God left us and everlasting sacrifice of such richness and power that nothing else can be compared to it.

The apostles used their power to feed the new Church of Christ with the Bread from Heaven; and they shared their power with other men, co-workers and their successor, so that the Church could continue from generation to generation to offer the great sacrifice, making it present to all who seek it, until the end of time.

Words To Know:

Passover          Last Supper                transubstantiation                    mysterious      

Eucharist                     Oblation                      Victim

Exercise

I. Questions:

1. When did Jesus Christ institute the Eucharist?

            Jesus Christ instituted the Eucharist at the Last Supper, before his Passion, when he consecrated and changed bread and wine into his Body and Blood and distributed it to the apostles, commanding them to do the same thing in his memory.

2. Why did Jesus Christ institute the Eucharist?

            Jesus Christ instituted the Eucharist so that in the Mass there would be a permanent sacrifice of the New Testament and in Holy Communion a spiritual food for our souls, and a memorial of his love and of his Passion.

3. What is a sacrifice?

            A sacrifice is the public offering to God of a thing which is destroyed to profess that God is Creator and Supreme Ruler to whom everything belongs.

*******************************************************************

CHAPTER 13: JESUS DIED AND HE IS RISEN

Jesus Gives His Life For Us

After the Last supper, Jesus went out to pray in the Garden Olives. He asked His disciples to stay awake with Him for a little while, but they fell asleep. Jesus was alone in His agony.

Jesus saw all of our sins that night and it saddened Him. He thought of all the suffering He would accept to make up for them. Remember, Jesus was both God and man. As a man, He felt deep emotions. That night He felt sadness and fear. He asked God the Father, “If it is possible, take this suffering away from Me”. But then He told Him, “Your will, not Mine, be done”. God the Father sent an angel to comfort Him.

Later in the night, soldiers came to arrest Jesus. These soldiers were cruel, but Jesus was gentle and went with them. He known He was about to fulfill His Father's plan for our salvation. Jesus bravely went before the high priest and Jewish leaders. He was silent when they accused Him and wanted Him to be put to death.

By law, the Jewish leaders could not touch Jesus until they had the permission of Pontius Pilate, the Roman governor of Judea. He had the power to set Jesus free. He knew Jesus was innocent. But Pilate was too afraid of not being popular. When an angry crowd kept yelling out, 'Crucify Him!' Pilate gave up. He did not protect Jesus. He sentenced Him to death as His enemies wanted.

The soldiers grabbed Jesus and treated Him like a criminal. They beat Him with whips. They pushed a crown of sharp thorns on His head. They made fun of Him by saying in disrespectful voices, “Hail, King of the Jews”.

Now Jesus was very weak, but the soldiers hurt Him even more. They made Him carry a heavy Cross. They gave Him no rest or water. Jesus fell down three times, but they made Him go on. When Jesus reached the top of Mount Calvary, they nailed His hands and feet to the wood, raised the Cross, and left Him to die in pain.

Even in the midst of great suffering, Jesus was full of love. He asked His Father to forgive the cruel soldiers. He gave hope and forgiveness to a thief hanging by His side. He told His mother Mary to be the mother of His beloved apostle John, and of the whole world.

Some of the people laughed at Jesus and said, “He heals others, but He cannot save Himself!” Jesus was God, and He had full power to escape the pain of the Cross. But He stayed on the Cross. He freely chose to suffer and die because he loved us so much. He wanted to make up for our sins. He wanted to redeem us so we could go to Heaven.

Jesus' great victory taught us the value of sacrifice. His Passion and death saved the world. When we offer up things out of love, we are part of Jesus's great Sacrifice. We make up for sins and the sins of others. In some way we help Him in saving the world. Small acts of self-denial can be as simple as giving up a piece of candy we want to deep or helping our mother when we are tired. These acts of love become part of Jesus'Sacrifice and help bring grace into the world.

The next time you go to Mass, find the Stations of the Cross in your church. Look at all fourteen images. Remember that Jesus loved you so much He suffered and died for you. You must be very precious to Him. Tell Him that you will love Him for ever.

“Greater love has no man than this, that a man lay down his live for his friends”

STATION OF THE CROSS

1.         Jesus is comdemmed to death.

2.         Jesus carries His Cross.

3.         Jesus falls the firs time.

4.         Jesus meets His Mother.

5.         Jesus is helped by Simon.

6.         Veronica wipes the face of Jesus.

7.         Jesus falls a second time.

8.         Jesus speaks to the women.

9.         Jesus falls a third time.

10.       Jesus is stripped of His clothes.

11.       Jesus is nailed to the Cross.

12.       Jesus dies on the Cross.

13.       Jesus is taken down from the Cross.

14.       Jesus is placed in the tomb.

He is Risen

Early in the morning on the Sunday after Jesus died, Mary Magdalen and some other women walked along the road that led to the tomb. They wanted to complete the Jewish burial customs and anoint the body of Jesus with spices. There had not been enough time for this earlier because the Jewish Sabbath had begun Friday evening and lasted all day Saturday. During the Sabbath it was forbidden to handle a dead body.

Although it may have been a beautiful spring morning, the women's hearts were not light. The teacher they had loved and honored as the Messiah was dead. The disciples were still hidden indoor, heartbroken over Jesus'death and in fear for their lives. On top of everything else, the women worried that they would not be able to perform this last act of love, the anointing of their dead master. The tomb was shut with a large stone which they themselves could not move. And it did not seem likely that the Roman guards, sent to tomb to keep Jesus' disciples away, were going to help them. It must have seemed to the women that forces of evil had won a terrible victory.

Arriving at the tomb, they were astonished to see the stone rolled away. An angel sat upon the stone and said, “Do not be afraid, for I know you seek Jesus, who was crucified. He is not here, for he has risen just as he said. Come and see the place where the Lord was laid. Then go quickly, tell his disciples that he has risen” (Mt 28:5-7)

The women rushed back to the house where the disciples were staying. The disciples did not know what to think of their story, but Peter and John immediately left to see the tomb, running all the way. Mary Magdalen ran back with them. They looked into the tomb. The linen cloths that had covered the body of Jesus were neatly folded and set aside. John knew that grave robbers would not do such a thing. He recalled what Jesus had said about rising again. Yes! That was it! It had actually happened! At this moment, John became the first disciple to believe in the Resurrection. Peter and John ran back again to tell the others what they saw.

But Mary Magdalen remained behind. Tired and distressed by all that had happened, she could not think clearly. All she knew was that the body of Jesus was gone, perhaps stolen by wicked men. She began to cry. She heard a voice behind her. “Woman, why are you weeping? Are you looking for someone?” Her eyesight blurred by tears, Mary thought it was the cemetery gardener. But when the man spoke again, his voice was unmistakable. “Mary”, he said. Mary looked again, and there stood Jesus! “Master!” she replied, almost speechless with joy. Jesus sent her to tell the disciples.

Jesus had won the greatest victory of all. He had defeated sin and conquered death, the punishment for sin. His Resurrection showed all his followers that Jesus was truly the Son of God, the King of Kings and Lord of Lords. It was a sign that God had accepted the sacrifice which Jesus made to redeem us.

After the Resurrection, the body of Jesus was changed, or glorified. Now he was no longer restricted by his body as the rest of us are. He could disappear and appear anywhere he wanted. He could pass through walls and locked doors. He no longer suffered any pain or discomfort, such as hunger or thirst. At the same time, Jesus still had a real body. He was not a ghost, and when he appeared to his disciples he proved this by eating food and allowing them to touch him.

The Resurrection of Jesus is one of the central truths of our faith. Saint Paul said, “If Christ has not been raised…your faith is in vain” (useless). Because Jesus came to life again, our souls, dead from sin, become alive in sanctifying grace through Baptism. Because Jesus is alive for ever, we too can hope to live for ever in Heaven.

“He descended into Hell; the third day he arose again from the dead…”

Words To Know:   Calvary   sacrifice           Passion            redeem

Exercise     -    Questions:

1. Why did the Son of God become man?

            The Son of God became man to save us, that is, to redeem us from sin and to regain Heaven for us.

 

2. What did Jesus Christ do to save us?

            To save us, Jesus Christ made satisfaction for our sins by suffering and sacrificing Himself on the Cross, and He taught us how to live according to God.

3. Did Jesus Christ die as God or as man?

            Jesus Christ died as man, because as God He could neither suffer nor die.

4. What is a sacrifice?

            Sacrifice is the public offering to God of a thing which is destroyed to profess that God is the Creator and Supreme Master to Whom everything belongs.

5. After his death, what did Jesus Christ do?

            After his death, Jesus Christ descended in his soul to the souls of the jus who had died up to that time, to take them with him into Paradise. Then he rose again from the dead, taking up his body which had been buried.

6. How long did the body of Jesus Christ remain buried?

            The body of Jesus Christ remained buried three days, although they were not full days: from Friday evening to the day that we now call Easter Sunday.

*******************************************************

CHAPTER 14:   ASCENSION OF OUR LORD

During the days after the Resurrection on the first East Sunday, Jesus appeared to his friends many times. He used these visits to instruct them in the work of spreading the gospel and building up the Church on earth. He began this instruction the very first time he appeared to the, “As the Father has sent me, so I send you”. Then he breathed on them and said, “Receive the Holy Spirit. If you forgive men's sins, they are forgiven them; if you hold them bound, they are held bound (Jn 20:21-23). And so Jesus gave the apostles a special power they would need as the first priests and bishops of the Church: the power to forgive sins. With this power, the apostles could bring God's mercy and forgiveness to all Christians. Later, they would pass this power on to others who would take their place.

One of the eleven apostles, Thomas, missed this meeting. He had not yet seen the risen Jesus and still did not believe such a thing”, said Thomas. A week later, Jesus appeared again. This time Thomas was there. “Here Thomas, bring your finger and touch my hands”, said Jesus. Put your hand into my side. Doubt no longer, but believer”. “My Lord and my God”, answered Thomas. (Jn 20:24-29).

We should find joy in the reply which Jesus made to Thomas because he mentioned us. He said, “Because you have seen, you believe. Blessed are they who not see, yet believe all the same”. We believe in Jesus although we have not seen him. Our faith will be rewarded.

Later, at the Sea of Tiberias the apostles decided to go fishing, just as they used to do before they had known Jesus. They spent the whole night on the lake, but caught nothing. As they rowed toward the shore the next morning, a man on the beach called out, “Did you catch anything?” When they told him, “No”, he said, “Try throwing your net to the right of the boat. You will find something there”. They followed the advice and pulled in a tremendous load of fish. “It is the Lord”, shouted John. Peter remembered with joy the first time Jesus gave them a miraculous catch of fish. That had been the day he had called Peter to follow him. Now Peter quickly dived into the lake and swam to the beach while the other disciples brought in the boat and net full of fish. Jesus had built a fire, and he fixed them breakfast.

When they finished eating, Jesus stood up and spoke to Peter. He asked, “Do you love me?” Peter answered that he did, and Jesus replied, “Feed my lambs”. Again Jesus asked whether Peter loved him. Peter answered, and Jesus said, “Feed my sheep”. When Jesus asked a third time, “Do you love me?”, Peter was upset. Did Jesus doubt him? “Please, Lord, you know all things”, said Peter. “You know I love you”. Jesus again replied, “Feed my sheep”.

With these words, Jesus again singled Peter out as the leader of his Church. He made Peter the shepherd of all - even of the other apostles. That is why Peter became leader of the Church on earth - the very first Pope.

After the forty days had passed, it was time for Jesus to return to his Father in Heaven. The disciples had learned much from Jesus during that time, but Jesus knew they needed something more before they could preach the gospel courageously and faithfully. He promised to send the Holy Spirit, who would give them the knowledge, faith, and power they needed.

Jesus led the Eleven, plus many of his other followers, up the slope of Mount Olivet. He gave his final instruction to the disciples:

Full authority has been given to me both in Heaven and on earth; go, therefore, and make disciples of all the nation. Baptize them in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit. Teach them to carry out everything I have commanded you. And know that I am with you always, until the end of the world. (Mt 28:18-20)

Then Jesus ascended into Heaven. “He was lifted up before their eyes in a could which took him from their sight” (Acts 1:10). As the apostles stared into the empty sky, two angels appeared. “Men of Galilee, why do you stand here looking up at the sky? This Jesus who has been taken from you will return, just as you saw him go up into the Heavens”. (Acts 1:11)

Recognizing Jesus In Others

The disciples did not recognize Jesus on the road to Emmaus. We, too, often have Jesus with us and do not even know it.

How can this be? Remember Our Lord's words in the Gospel: “Whenever you did it to the least of my brothers, you did it to me”. Jesus is with us in the poor, the hungry, the sick, the lonely, and all those who need our love.

When we think of helping the needy, we usually think of giving our money or donating food and clothing to people we will never see. But Jesus is present in everyone around us. The younger brother who is lonely and needs your friendship, the mother and father who need help with the chores around the house, the classmate whom no one likes: we should find Jesus in each one of them.

On a cold night many centuries ago, a soldier named Martin met a beggar who had on almost no clothes. Martin had nothing but his won cloak to give. So he cut it in half, giving part to the beggar, and wrapping the rest around himself. That night, Martin had a dream in which Jesus appeared wearing half of the cloak. “Martin has given this to me”, said Jesus.   Soon thereafter, Martin became Christian and grew in generosity and holiness. Today he is known as Saint Martin of Tours.

Words To Know: Ascension

Exercise

I. Questions:

1. What did Jesus Christ do after his Resurrection?

            After his Resurrection, Jesus Christ remained on earth forty days. Then he ascended to Heaven, where he sits at the right hand of God the Father.

2. Why did Jesus Christ remain on earth forty days after his Resurrection?

            Jesus Christ remained on earth forty days after his Resurrection in order to show that he had really and truly risen from the dead, to confirm his disciples in their faith in him, and to instruct them more profoundly in his teaching.