• Register

GIÁO LÝ TÂN TÒNG VÀ THÊM SỨC

(Gồm cả Tiếng Việt và Tiếng Anh)

PHẦN TIẾNG VIỆT

QUYỂN II : ĐỂ LÃNH NHẬN ƠN CỨU ĐỘ

 

BÀI 1: NHỮNG VỊ THÁNH TRONG LỊCH SỬ CHÚNG TA:

                   TRONG 10 THẾ KỶ ĐẦU TIÊN

“Và chính Người đã ban cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó các thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa.” (Eph. 4:11-13)

Hai ngàn năm đã trôi qua, kể từ khi Giáo Hội đã được thành lập và khai sinh ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Như đã thấy, Giáo Hội bắt đầu chỉ là một Cộng Đoàn nhỏ bé như hạt cải trong dụ ngôn, nhưng dần dần đã tăng trưởng và lớn rộng khắp thế giới. Trong suốt thời gian ấy, Giáo Hội phải đương đầu nhiều thử thách và chịu đựng nhiều sống gió. Tuy thế Giáo Hội đã tồn tại đến ngày nay và vẫn là Giáo Hội mà Đức Kitô đã nói đến khi Ngài nói với ông Phêrô: “...trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16:18) Giáo Hội đã không thể tồn tại được nếu không được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và che chở thường xuyên. Để bảo toàn Giáo Hội, Thiên Chúa đã cho trổ sinh nhiều người thánh thiện nam cũng như nữ mà ngày nay chúng ta gọi là những vị Thánh. Với ơn Chúa giúp, các ngài đã có thể sử dụng những tài năng và cá tính khác nhau để phục vụ những nhu cầu đặc biệt của Giáo Hội.

Đời sống nhân đức của những vị thánh này vẫn luôn là một nguồn gương sáng và hứng khởi cho chúng ta hôm nay. Chúng ta thử quan sát vài giai đoạn lịch sử của Giáo Hội đã được phản ánh trong đời sống của vài vị thánh lớn nhất.

CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ VÀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Những ngày đầu của Giáo Hội được đánh dấu bằng những hoạt động của các tông đồ đã thực hiện lời truyền của Chúa Giêsu: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” Mt 28:19) Những hoạt động thừa sai này biểu lộ tính đại đồng của Giáo Hội. Chúng ta thấy ngay sau khi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, ông Phêrô đã đi ra rao giảng, và cuối ngày hôm ấy, có ba ngàn người đã chịu phép rửa tội. Ông Phêrô đã bị bỏ tù, đã chịu cực hình, gian khổ, đã làm nhiều phép lạ nhân danh Chúa Giêsu, và vẫn tiếp tục rao giảng và nói nằng với đầy quyền uy.

Sau đó, Phêrô đi Antiôlkia, rồi đi Rôma và ở lại đó luôn mãi. Thế là Thánh Phêrô trở thành vị Giám Mục tiên khởi của thành Rôma. Ngài chịu tử vỉ đạo dưới triều đại Hoàng Đề Nêrô vào khoảng năm 64 hay 67 công nguyên. Có lời truyền tụng rằng khi người ta đóng đinh ngài, Phêrô đã nói mình không xứng đáng được chết giống như Thầy đã chết, nên ông đã yêu cầu cây thập giá treo ông được trồng lộn ngược lại. Xác ngài được chôn cất trên đồi Vatican. Sau này ngôi Vương Cung Thánh Đươn2g Thánh Phêrô được xây trên ngôi mộ của Ngài. Đức Giáo Hoàng Linô được bầu lên làm đấng kế vị Thánh Phêrô.

Một vị truyền giáo vĩ đại nhất trong thời tiên khởi này là Thánh Phaolô tông đồ. Sau khi trở lại, (biến cố này đã được Sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại) Thánh Phaolô đi rao giảng khắp miền Palétin, Syria, một phần của Tiểu Á (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ), Hy Lạp và Rôma. Trong bốn cuộc hành trình truyền giáo, Ngài đã hằng say rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô cho người Do Thái, và quan trọng hơn hết là cho người ngoại giáo (ngoài Do Thái). Ở nhiều nơi, ngài gặp phải sự chống đối mãnh liệt, chẳng hạn ngài bị ném đá và bị bỏ tù, nhưng rồi vẫn tiếp tục rao giảng.

Trong 14 bức thư Ngài viết cho các giáo đoàn ngài đã từng đi đến rao giảng, cũng như trong các trình thuật về các cuộc hành trình của ngài được kể trong Sách Công Vụ, chúng ta có thể thấy lòng yêu mến sâu sắc của Thánh Phaolô đối với Chúa Kitô. Vì Ngài đã thực hiện trọn vẹn lời truyền của Chúa Giêsu là hãy giảng dạy muôn dân, nên ngài đã được mệnh danh là vị tông đồ của dân ngoại. Cũng như nhiều Kitô hữu tiên khởi khác, Thánh Phaolô chẳng những đã sống cho Chúa Kitô, mà Ngài còn chịu chết cho Chúa vào khoảng năm 68, như một vị anh hùng tử đạo.

Tuy Giáo Hội vẫn tiếp tục công cuộc truyền giáo, 250 năm tiếp sau đó là một thời kỳ bắt đạo liên tục. Chính quyền Rôma bắt đầu lo ngại Giáo Hội, vì số tín đồ ngày càng gia tăng, và Kitô giáo bành trướng khắp cả đế quốc Rôma. Nhiều Kitô hữu trong suốt hai thế kỷ dưới thời một số hoàng đế, đã bị giết vì lòng tin của họ vào Chúa Kitô. Những ai đã chết bởi việc làm chứng cho lòng tin của mình thì được gọi là các thánh tử vì đạo. Nhiều người trong số này còn trẻ tuổi và chỉ mới chịu phép rửa tội; một số khác thì chỉ mới nghe và lãnh nhận sứ điệp Tin Mừng nhưng chưa chịu phép Rửa Tội. Thế nhưng họ đều có một cái gì chung: là sẵn sàng chấp nhận sự tra tấn tàn bạo khủng khiếp và chịu chết hơn là từ chối Chúa Kitô hay chối từ sứ điệp của Ngài.

Các vị tử đạo này đã là một nguồn hứng khởi cho những bạn Kitô hữu của họ và cho nhiều công nhân Rôma. Quả thế, đã có nhiều người tìm được niềm tin vì đã thấy những vị này sẵn sàng chết cho niềm tin ấy. Họ đã nhận thức được rằng đứa tun Kitô giáo phải là siêu phàm, vĩ đại nên mới nhiều Kitô hữu dám sẵn sàng thí mạng sống của mình vì nó. Việc Giáo Hội trong thời kỳ này đã tăng trưởng cách nhanh chóng đã khiến một văn sỹ Kitô Giáo thời sơ khai có nhận xét rằng “máu đào của các thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.” (Tertulianô thế kỷ thứ II)

Trong số những vị đã dùng máu mình để bồi đắp Giáo Hội, có hai thiếu nữ trẻ tuổi sống vào đầu thế kỷ thứ ba là Thánh Perpetua và Félicité. Perpetua là một thiếu phụ còn trẻ, sinh trưởng trong một gia đình giàu có tại Cartagiô, Bắc Phi Châu. Félixité là một cô gái trẻ giúp việc trong gia đình Perpetua. Sau khi đã sinh hạ một em bé được ít lâu, thì Perpetua và những người trong gia đình, kể cả Félicité đều bị bắt vì họ là Kitô hữu. Mặc dù có lời hứa hẹn của gia đình bà là bà sẽ bỏ đức tin của bà và sẽ trở về nuôi con, nhưng Perpetua cứ khăng khăng từ chối không nghe, và đã giữ vững lòng tin của mình. Félicité đang chờ sinh con, cũng mau mắn đi theo Perpetua để chịu chết vì Chúa Kitô. Luật Rôma không cho phép xử tử một người đàn bà đang mang thai. Nhưng khi Felicité đã sinh con được vài ngày sau khi bà bị bỏ tù, bà đã bị xử tử cùng lúc với nữ chủ của mình và với những người khác đã bị bắt chung vơí bà. Lòng hăm hở của cả hai bà Perpetua và Félicité sẵn sàng chịu chết vì Chúa Kitô - cho dù các bà là những thiếu nữ trẻ tuổi và có con cái rất dễ thương - cho chúng ta thấy rằng các bà đã đặt Chúa trước hết trong đời sống của các bà.

Cũng như các Kitô hữu tiên khởi đã được thúc đẩy bởi lòng tin của các vị tử đạo, chúng ta cũng nên nhìn lên các ngài như những tấm gương anh dũng để noi theo. Chúng ta cũng có thể nhìn các vị tử đạo trong thời đại chúng ta đang sống. Tuy những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội được coi là thời đại của các thánh tử đạo, ngày nay chúng ta vẫn còn chứng kiến nhiều người chết và đang chết vì niềm tin vào Đức Kitô của họ.

NHỮNG GIÁO PHỤ VÀ NHỮNG TIẾN SỸ CỦA GIÁO HỘI

Thời đại vàng son của các thánh tử đạo đã chấm dứt vào đầu thế kỷ thứ 4, khi hoàng đế Roma là Constantine đã ban hành một sắc luật cho phép người Kitô hữu được tự do giữ đạo của mình. Khi sự thể ấy đã đến, các Kitô hữu có thể rao giảng Tin Mừng công khai. Nhưng khi vừa thoát khỏi thử thách này thì lại phải đương đầu với những vấn đề khác. Những khó khăn bấy giờ phát xuất từ lòng Giáo hội dưới dạng những tà thuyết lạc đạo. Tà thuyết lạc đạo là sự từ chối một đạo lý căn bản của đức tin. Những ai chủ trương và giảng dạy những tà thuyết lạc đạo thì gọi là kẻ lạc đạo.

Thời Constantine làm hoàng đế, một tà thuyết lớn đã được một linh mục tên là Ariô truyền bá ở Ai Cập. Ariô dạy rằng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, không cùng bản tính với Đức Chúa Cha. Nói cách khác, Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa.

Một trong những Giám mục đấu tranh để bảo vệ chân lý trong thời gian có Công đồng và sau đó là Thánh Atanasiô. Thánh Atanasiô là Giám mục thành Alexandria tại Ai Cập, nơi ngài bênh vực giáo huấn của Giáo Hội chống lại nhiều thế lực của bè Arianô. Ngài đã phải đương đầu nhiều đe dọa đến tính mạng và đã bị lưu đày vì đã bênh vực giáo lý chính thống. Dù gặp mọi thử thách, ngài vẫn không suy xuyển trong việc bênh vực chân lý “Con Thiên Chúa là Đấng có cùng một bản thể với Đức Chúa Cha.”

Nhiều tác phẩm của thánh Atanasiô bàn giải về đạo lý mà ngài bênh vực suốt cả đời ngài. Một trong những sách cùa Ngài: Cuốn “Về Nhập Thể” là một thiên luận về mầu nhiệm Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm người. Khi ngài qua đời năm 373, bè Arianô chưa được chinh phục hoàn toàn. Dù sao, những cố gắng của ngài không phải là vô ích, và đến năm 381, bè ấy cuối cùng đã bị đánh bại.

Những tà thuyết lạc đạo khác, mà một số lớn cũng bàn đến bản tính của Đức Kitô, đã theo tà thuyết của bè Arianô. Có nhiều vị thánh đã đứng lên bênh vực Giáo hội chống lại những tà thuyết này. Một trong những vị thánh lớn đã bênh vực giáo hội là Thánh Augustinô. Ngài sinh ra vào khoảng cuối đời thánh Atanasiô. Tuy thánh Augustinô đã trở nên một trong những vị giám mục, những bậc thầy, và những thần học gia lỗi lạc nhất trong Giáo Hội, cuộc đời thời thanh xuân của ngài cho ta thấy ngay cả những người tội lỗi xấu xa nhất, một khi ăn năn trở lại, đều có thể trở thành những vị thánh được cả.

Sinh tại Bắc Châu Phi, Augustinô là con một viên sĩ quan Rôma và một bà mẹ công giáo có tên là Monica. Trong thời thơ ấu, Augustinô đã tỏ ra có một trí thông mình xuất sắc và được nhìn nhận là một học sinh tài giỏi. Nhưng trong thời niên thiếu, anh đã mắc phải nhiều thói xấu và sống một đời sóng gió. Anh đã vi phạm giới răn về đức thanh khiết rất nặng nề. Mẹ anh đã nhẫn nại cầu nguyện cho anh, xin Chúa cho anh được ơn đức tin và hoán cải đời sống của anh.

Lời cầu xin của bà đã được Chúa nhận lời, khi Augustinô đã chịu phép rửa lúc 33 tuổi, sau bao nhiêu năm đi tìm kiếm chân lý. Sau đó Augustinô đã làm linh mục và cuối cùng còn làm giám mục. Trong cuộc đời còn lại, ngài giảng dạy rất nhiều và viết trên 100 tác phẩm để bênh vực đức tin. Trong số những tác phẩm ấy, có cuốn thuật lại chính cuộc đời và sự trở lại của ngài, đó là cuốn “Những Lời Khai Thú.” (The Confession) Một cuốn sách khác được nhiều người xem là tác phẩm lừng danh nhất của ngài, đó là cuốn “Thành Đô Của Thiên Chúa” (The City of God). Trong tác phẩm này, ngài cho thấy sự tương phản giữa đời sống Kitô hữu vơí những sự ác của thế giới mà ta phải sống. Thánh Augustionô qua đời năm 430, và cũng được nhìn nhận là một trong những Giáo Phụ của Hội Thánh như thánh Atanasiô.

 

CÁC ĐAN VIỆN

Bước sang thế kỷ thứ 5, những bộ lạc man rợ bắt đầu đe dọa sự ổn định của đế quốc Rôma. Những người man rợ này thuộc những bộ lạc hiếu chiến, thiếu văn minh, sống ở miền bắc Châu Âu, bên ngoài biên giới của đế quốc. Khi họ bành trướng, họ lên đường nam tiến và bắt đầu xâm lấn đế quốc, và có lần đe dọa xâm chiếm cả thành Rôma. Giáo hội lúc ấy nhận thấy nhu cầu phải đem họ trở về với Kitô giáo và văn minh hóa họ.

Phần lớn công việc này đã được thực hiện trong suốt ba thế kỷ, sau đó nhờ các đan sỹ và các đan viện. Đan sỹ là những người sống một đời nghèo khó, thanh tịnh và vâng lời, để phục vụ Chúa Kitô. Họ sống theo một nộ luật rõ ràng, gọi là quy chế, trong những cộng đoàn thường thành lập ở những miền hẻo lánh. Nơi đây họ nâng đỡ nhau bằng những sinh hoạt nông nghiệp và hiến dâng toàn thì giờ của họ cho Chúa. Dần dần họ thiết lập những trường học gần đan việc của họ. Chính nhờ những trường học này và những công việc truyền giáo sau đó mà các đan sỹ đã có thể Kitô hóa và giáo dục phần lớn Châu Âu.

Mặc dù họ là những đan sỹ trong Giáo Hội có từ thế kỷ thứ ba, nhưng tước hiệu Tổ Phụ của nền Dan tu Tây Phương đã được tặng cho Thánh Bênêđictô, sinh năm 480. Ngài đã thiết lập đan viện thời danh ở núi Catxinô tại nước Ý, và là đấng sáng lập dòng Benedicto, để hướng dẫn những sinh hoạt thường ngày cho các đan sỹ của Ngài.

Bênêđictô phân chia sinh hoạt hằng ngày của các đan sỹ làm hai phần: cầu nguyện và lao động chân tay. Điều này đã trở nên châm ngôn của mọi đan sỹ thuộc dòng Benedicto: Ora et Labora. Kinh nguyện hằng ngày gồm có Kinh Nhật tụng - Hát chung với nhau vào 7 giờ kinh nhất định trong ngày và ban đêm - Lao động cũng được xem là một dạng cầu nguyện gồm có lao động chân tay như nông nghiệp, xây cất... và lao động trí thức như sao chép những thủ bản, viết sách, giáo dục và làm những điều tương tự.

Với thời gian, các đan viện không chỉ là những trung tâm học hỏi, nhưng còn là những trung tâm truyền giáo nữa, nơi từ đó các đan sỹ lên đường truyền giáo. Trong những đan sỹ truyền giáo phải kể đến Thánh Columban người Ái Nhĩ Lan, đã truyền bá đức tin cho người Franks (lúc ấy sinh sống trên lãnh thỏ Pháp ngày nay) vào cuối thế kỷ thứ 6. Một gương sáng rực rỡ là thánh Bonifaciô, một đan sĩ thuộc dòng Benedicto người Anh. Vào thế kỷ thứ 8, ngài tới nước Anh để đến vùng Germani. Bonifaciô đã truyền giáo tại đò trong nhiều năm, truyền bá đức tin và rửa tội nhiều người trong các bộ lạc Germani.

GIÁO HỘI ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG THỬ THÁCH

Đang khi các đan sĩ bận rộn với việc đem nhiều người rợ Châu Âu về với Kitô giáo, Giáo hội phải đối phó với những cuộc xâm lăng nữa. Một tôn giáo mới, Hồi giáo, đã xuất hiện ở Arabia vào đầư thế kỷ thứ 7 và bành trướng khắp cả Bắc Châu Phi và một giải đất ở miền đông của đế quốc Roma cũ. Những tín đồ của Hồi giáo, gọi là Muslim, rốt cuộc đã kiểm soát vùng biển Địa Trung Hải. Và hậu quả của việc này là những Kitô hữu sống ở Tây Âu bị chia cách với những người sống ở Đông Âu về mặt địa lý.

Biến cố này càng làm gia tăng những khó khăn đã có từ lâu đời. Những Kitô hữu ở hai miền của đế quốc bị cắt bởi ngôn ngữ và văn hóa. Giữa hai bên cũng có một tranh luận kéo dài từ lâu năm về cách diễn đạt vài điểm đạo lý và về quyền bình của vị giám mủc tại Roma (tức Giáo Hoàng). Những vấn đế này đã đưa tới thới căng nhất vào năm 1054. Năm ấy, Giáo hội ở miền Đông chính thức tách rời khỏi Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội Công Giáo Rôma. Biến cố này được gọi là sự ly khai của Giáo Hội Đông Phương. Có vài nhóm Kitô hữu Đông Phương còn hiệp nhất với Giáo Hội - chẳng hạn những người công giáo Byzantine, nhưng sự ly khai vẫn còn tồn tại mãi đến ngày nay.

Cuộc ly khai chỉ mới là một khó khăn lớn mà Giáo hội gặp phải khi vừa sống qua 10 thế kỷ đầu tiên. Thử thách lớn thứ hai là sự thối nát thậm tệ của hàng giáo sĩ trong thời ký đen tối. Thới kỳ này, bắt đầu vào khoảng năm 850 đến năm 1000, là hậu quả từ cuộc sụp đổ đế quốc Rôma cũ. Khi đế quốc sụp đổ, Giáo hội là quyền lực ổn định duy nhất còn lại trên thế giới này. Vì số giáo dân có học vấn thì ít, nên trách nhiệm cai quan xã hội thế tục đã được trao cho hàng giáo sĩ nắm giữ. Khi ấy nhiều người lãnh đạo của Giáo hội giữ quyền hành chẳng những về mặt thiêng liêng, mà cón cả về mặt thế tục nữa.

Sau một thời gian, nhiều giám mục, linh mục và đan sĩ bắt đầu quên vai trò của mình là những nhà lãnh đạo tinh thần. Đáng tiếc là họ đã quá quan tâm đến những công việc thế tục hay đến những của cải của họ và sao lãng bổn phận quan trọng nhất của mình. Phải đau lòng mà nói rằng đã có cả những vị giáo hoàng tội lỗi, sa đọa và nhiễm óc thế tục, tuy các ngài không bao giờ giảng dạy điều gì sai lầm. Nhu cầu cải tổ hàng giáo sĩ đã trở nên bức thiết. Lại một lần nữa, suốt vài thế kỷ sau đó, nhiều vị thánh đã đứng lên để hướng dẫn Giáo Hội vượt qua cơn khủng hoảng sắp đến.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Thánh Atanasiô - Thánh Augustinô - Thánh Benedictô - Người ngoại giáo - Các thánh tử đạo - Tà thuyết lạc đạo - Đan việc thần học gia

********************************************************

BÀI 2:   NHỮNG VỊ THÁNH TRONG LỊCH SỬ CHÚNG TA

               NGÀN NĂM THỨ HAI

Cũng như sự hiệp thông qua những Kitô hữu trên hành trình dương thế đưa họ lại gần Chúa Kitô hơn, thì sự hiệp thông giữa chúng ta với các thánh cũng gắn liền chúng ta lại với Chúa Kitô. Là Đấng ban phát mọi ơn thánh và sự sống co dân Chúa, như từ nguồn suối và từ nguyên thủ (LG 50)

Khi Giáo hội bước vào thế kỷ thứ 11 và 12, một trong những quan tâm hàng đầu của Giáo Hội là cải tổ lại hàng Giáo sĩ đã ra hư đốn. May mắn thay, Giáo hội còn diễm phúc có được nhiều vị Giáo Hoàng thánh thiện có khả năng để khởi động những cuộc cải tổ này.

Trong các đan viện thì có những người đạo đức thánh thiện bắt đầu công cuộc cải tổ. Khuôn mắt quan trọng nhất trong những vị này là Thánh Benađô Claitvaux. Khi còn là một thanh niên, Benađô đã xin gia nhập một cộng đoàn đan sĩ mới gọi là dòng Xitô. Cách sống của dòng này căn cứ trên bộ luật của Thánh Benedicto. Nhưng cách sống của riêng họ thì đơn giảng và nhiệm nhặt hơn cách sống của hầu hết các tu viện Benedicto thời ấy.

Sau khi được thụ phong linh mục, Benađô được chọn để thành lập một đan viện mới phỏng theo cách sống của dòng Xitô. Benađô đã trở thành viện phụ của đan viện này tại Clairvaux; rồi sau đó, ngài còn thành lập 68 đan viện nữa cũng căn cứ trên cùng một bộ luật ấy. Thế hệ đan viện mới này đã sửa chữa lại những tệ nạn đã thấm nhập vào đời sống đan tu trong thời kỳ Đen Tối, và những đan viện này là một nguồn hy vọng lớn.

Sự thánh thiện của Thánh Benađô được phản ánh trong đời sống tại Clairvaux và trong các đan viện khác. Ngài củng cố niềm tin bằng những bài giảng của ngài về lòng sùng kính Chúa Giêsu và Mẹ của Người. Các bài giảng của Ngài đã nổi tiếng đến nỗi thiên hạ từ khắp Châu Âu đến nghe ngài giảng. Nhờ thế thánh Benađô đã có thể nhem lại niềm tin nơi giáo dân cũng như nơi các đan sỹ của ngài.

NHỮNG CUỘC THẬP TỰ CHINH         

Thánh Bênađô còn có ảnh hưởng lớn trong nhiều vấn đề khác tại Châu Âu nữa. Chẳng hạn, Ngài đã rao giảng cuộc thánh chiến thứ hai, khuyến khích nhiều người tại Pháp và Đức gia nhập Đạo Binh thánh chiến là câu trả lời của Giáo Hội cho một thử thách mới đang khởi phát vì người Hồi Giáo.

Vào cuối thế kỷ thứ hai 11, người Hồi Giáo đã nắm phần kiểm soát Thánh Địa (Palestine) và bắt bớ những Kitô hữu đi hành hương tại Giêrusalem và những nơi thánh khác. Đạo binh thánh chiến là những nỗ lực quân sự để chiếm lại Thánh Địa. Những cuộc thánh chiến này đã được thực hiện rải rác nhiều lần suốt trong hai thế kỷ tiếp sau đó. Những hiệp sĩ và binh sĩ tham dự những trận chiến đó vì Chúa Kitô đã dùng Cây Thập Giá làm phù hiệu của họ. Nhiều người, hoặc chỉ huy hoặc tham gia những cuộc thánh chiến này thật sự là những người đạo đức thánh thiện.

Một trong những người dũng cảm là vua thánh Louis IX của nước Pháp. Ngài đã chỉ huy hai cuộc thánh chiến sau cùng. Ngài được công nhận là một người thánh thiện và là một nhà lãnh đạo công mình. Lòng sùng mộ niềm tin của Ngài đã được mẹ ngài gieo vào lòng ngài từ thuở còn thơ. Khi ngài khôn lớn, mẹ ngài thường nói với ngài: Hỡi con yêu của mẹ, mẹ thương con rất nhiều như một người mẹ có thể thương con mình, nhưng mẹ muốn thấy thà con chết dưới chân mẹ còn hơn là thấy con phạm một tội trọng. Lời vàng ngọc ấy không bao giờ rời khỏi tâm trí ngài, ngay cả khi Ngài lên ngôi vua nước Pháp.

Khi làm vua rồi, ngài vẫn tham dự hai Thánh Lễ mỗi ngày và để ra nhiều thì giờ cầu nguyện. Ngài thường đích thân săn sóc người nghèo, và thường cho họ ngồi vào bàn ăn cùng với gia đình ngài. Và ngài dạy các con cái của Ngài phải yêu mến đức tin của chúng nữa. Ngài viết những lời cuối đời cho con đầu lòng như sau: Điều trước tiên cha muốn dạy con là con hãy đặt hết lòng trí con vào việc yêu mến Chúa.

Đối với thánh Louis, cũng như đối với bất cứ vị thánh nào, yêu mến Chúa phải có đức tin. Cho nên khi thấy cần phải chiến đấu vì Chúa Kitô, thánh Louis đã sẵn sàng đáp ứng ngay. Ngài qua đời khi còn trên đường đi tham gia cuộc thánh chiến thứ hai. Lời cuối cùng của ngài vọng lại lời của Chúa Giêsu trên thập giá: Trong tay Cha, con xin phó thác linh hồn con.

Mặc dù đã nỗ lực rất nhiều, các chiến sĩ Thập Tự Chinh cuối cùng cũng không hoàn thành được mục tiêu của họ. Thánh Địa chưa giải phóng được khỏi tay người Hồi Giáo. Dù vậy, các cuộc thập tự chinh đã củng cố được niềm tin của nhiều người Châu Âu và gia tăng lòng sùng kính Chúa Kitô và các thánh của ngài. Nó cũng giúp miền Tây Âu mở ra đón nhận nhiều lãnh vực hiểu biết mà người Hồi giáo đã tiến bộ hơn họ - chẳng hạn ngành hàng hải, y khoa và triết học. Sự kiện này đặt nền tảng cho những thành tựu nghiên cứu uyên bác và khoa học trong vài thế kỷ sau đó.

Các cuộc chỉnh đốn nội bộ Giáo hội, do thánh Bênađô và và một số người thánh thiện khác khởi xướng, đã lan rộng và sinh hoa kết quả trong thế kỷ 13. Đó là cao điểm của thời kỳ được mệnh danh là Thời Trung Cổ.

NHỮNG DÒNG TU MỚI

Trong thế kỷ này, hai dòng tu mới được thành lập và rất khác với các dòng truyền thống đã có xưa này. Các tu sĩ của hai dòng này không sống trong các đan viện cách ly yxã hội, nhưng lại sống ngay giữa thị thành là nơi họ làm việc. Khác với các Đan viện thường có đất đai rộng lớn để giúp họ sinh sống, những dòng tu mới này chỉ dựa vào lòng hảo tâm của giáo dân để cung cấp những gì cần thiết cho những nhu cầu căn bản của mình. Họ được gọi là dòng Khất Sĩ, vì họ sống nhờ vào của bố thí. Bằng cuộc sống đơn giản, những dòng tu này nhắc các Kitô hữu nhớ vai trò đích thực của người tu sĩ là phụng sự Thiên Chúa.

Dòng thứ nhất trong loại này là dòng Thánh PHANXICÔ, do Thánh Phanxicô Assisi thành lập ở Ý. Phanxicô là con trai một thương gia giàu có tại Assisi, lớn lên trong tiền bạc nên tiêu xài rất hoang phí. Chàng muốn trở thành một hiệp sĩ, nhưng sau ý thức rằng Chúa Kitô muốn gọi chàng đề phụng sự Chúa trong đời sống tu trì. Thế là Phanxicô quyết tâm sống như một người nghéo, đã vứt bỏ quần áo lụa là để đổi lấy áo quần của một người hành khất và ra tay giúp đỡ người thiếu thốn và bệnh tật.

Phaxicô bắt đầu một đời sống cầu nguyện - vừa rao giảng vừa phục vụ người nghèo. Sự thánh thiện của Phanxicô đã thu hút nhiều người trẻ gia nhập vào công cuộc của mình. Cuối cùng ngài thảo ra một bộ quy luật đơn gaỉn để các môn đệ của ngài tuân giữ. Đưc Giáo Hoàng đã chúc lành cho họ lập nên Dòng Khất Sĩ Hèn Mọn (Những Anh Em Hèn Mọn). Khi Phanxicô qua đời, đã có trên 5000 tu sĩ Phaxicô tại Châu Âu.

Không chỉ những người nam mới bị thu hút bởi cách sống của Phanxicô. Một thiếu nữ trẻ tuổi và giàu có tại Assisi tên là Clara cũng xin được tham gia công cuộc của ngài. Do đó với sự giúp đỡ của Phanxicô, thánh Clara đã thành lập được một tu hội cho người nữ, cũng sống theo bộ quy luật dòng Phanxicô.

Một Dòng Khất Sĩ nữa cho nam giới cũng được thành lập do một linh mục trẻ tuổi người Tây Ban Nha tên là DOMINIC de Guzman. Dòng này được gọi là Dòng Đaminh hay Dòng Truyền Giáo. Khi còn trẻ, thánh Đaminh được sai đi để giúp một nhóm người lạc đạo, người Anbiroa ở vùng Nam Nước Pháp, trở về chính đạo. Để dgiúp mình thực hiện được công tác đó, Đaminh đã kết nạp một nhóm người trẻ tuổi sẵn sàng hiến thân vào việc rao giảng. Cũng như như những tu sĩ Phanxicô, nhóm người này cũng sống đời sống đơn giản và nghèo khó. Họ để cả thì giờ vào việc giáo dục và giảng dạy. Dòng Đaminh chún tâm vào việc đào tạo các thành viên của mình có một học vấn uyên thâm hầu có khả năng giảng dạy hữu hiệu hơn. Do đó nhiều giáo sư đại học lớn của thời đó là những cha dòng Đaminh.

THÁNH THOMAS AQUINAS

Một trong những học giả và giáo sư nổi tiếng là Thánh Thomas Aquinas Ngài sinh năm 1225 tại Ý, và bắt đầu đời học vấn của Ngài tại Đan Viện Benedicto ơỏ đồi Cassino. Gia đình giàu có của ngài hy vọng một ngày kia ngài sẽ trở nên một tu sĩ dòng Benedicto. Tôma tiếp tục đại học ở Naples, và đã gặp các cha dòng Đaminh tại đó. Đời sống đơn sơ nghèo khó và chuyên học hành của dòng này đã lôi cuốn Tôma, và mặc dầu gia đình ngài phản đối kịch liệt, ngài vẫn xin gia nhập dòng Đaminh.

Tôma học thần học và triết học với một cha Đaminh khác là thánh Alberto Cả, và cuối cùng ngài cũng trở thành giáo sư tại đại học Paris.

Tôma đã nghiên cứu nhà triết học Hy Lạp Aristote qua những tác phẩm của ông do những đạo binh thập tự chinh đem về Châu Âu. Thánh Tôma đã sử dụng tư tưởng của Aristote trong công trình thần học của Ngài. Ngài dạy rằng mạc khải của Thiên Chúa cho con người không có gì là phản lại lý trí, nhưng đúng hơn, phải cần đến lý trí để hiểu về Thiên Chúa một cách đầy đủ hơn. Phương pháp ngài dùng thì dựa trên Aristote, nhưng sự nhận thức thâm sâu thì dựa trên Kinh Thánh và các tác phẩm của các giáo phụ. Ngài đã viết rất nhiều sách, nhưng tác phẩm danh tiếng nhất và quan trọng nhất là bộ Sách Thần Học (Summa Theologiae) của ngài. Trong bộ sách này, ngài sắp xếp, giải th1ich và biện hộ tất cả giáo lý của đức tin chúng ta. Chưa có sách vở nào trong Giáo Hội có thể vượt qua được các tác phẩm của Thánh Tôma, và ngày nay nó vẫn còn là nguồn tài liệu quan trọng bậc nhất của nền Thần học Công Giáo.

Tuy những tác phẩm uyên thâm của Thánh Tôma là quan trọng đối với Giáo Hội, nhưng chính lòng mến Chúa của Ngài mới làm ngài thành một vị thánh. Sự sùng kính Chúa Kitô và Phép Thánh Thể được phản ánh trong vài bài kinh và thơ tuyệt diệu của thánh nhân. Và ngài hiểu rằng những tác phẩm ngài viết ra không có chút nào quan trọng khi đem so với sự khôn ngoan vô biên của Thiên Chúa.

Năm 1274, Đức Giáo Hoàng đã mới Thánh Tôma tham dự Công Đồng tại Ly-on, Pháp. Trên đường đi, ngài đã ngã bệnh và từ trần ngày 7 tháng 3 năm 1274. Trước khi qua đời, ngài đã tỏ sự khiêm nhường và lòng mến Chúa của Ngài. Trong khi chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa lần cuối cùng, ngài nói:

     “Con rước Chúa, ôi giá cứu chuộc con, là Của Ăn Đàng cho hành trình của con, vì lòng yêu mến Chúa mà con đã chay tịnh, đã cầu nguyện, đã giảng dạy và đã lao nhọc. Con chưa hề nói một lời nào nghịch lại Chúa. Nếu con có nói điều gì như vậy là vì con ngu dốt mà không biết, và con không muốn dừng lại trong sự ngu dốt ấy. Con xin để lại Hội Thánh Công Giáo quyền sửa chữa các tác phẩm của con và trongt sự vâng phục ấy mà con từ giã cõi đời này.”

THÁNH CATARIAN SIENA

Tuy Giáo Hội có phồn thịnh ở thế kỷ 13, nhưng lại gặp phải nhiều vấn đề đau khổ trong những thế kỷ tiếp sau đó. Trong thế kỷ 14, sự tranh chấp giữa Đức Giáo Hoàng và các vua Nước Pháp đã tạo nên một khủng hoảng lớn. Đây là lần đầu tiên Đức Giáo Hoàng không ở tại Rôma. Các đức Giáo Hoàng đã sống tại Avignon, một đô thị của Nước Pháp suốt 70 năm. Nhờ một phụ nữ thành Siena, cuối cùng đã thuyết phục được Đức Giáo Hoàng trở về Roma.

Thánh Catarina Siena là một giáo dân trẻ tuổi. Bà đã chọn đời sống cầu nguyện và phục vụ tha nhân, cách riêng phục vụ các bệnh nhân. Tiếng tăm về sự thánh thiện của bà lan rộng cùng khắp Nước Ý, và nhiều người đã đến với ba để được giúp đỡ và nghe lời khuyên nhủ.

Nhiều lần Catarina đã viết thư lên Đức Giáo Hoàng Grêgoriô XI thúc giục ngài nên trở lại Roma vì lợi ích của Giáo Hội. Cuối cùng bà đã đến thăm viếng ngài tại Avignon, và chỉ rõ cho ngài thấy sự vắng mặt của Đức Giáo Hoàng tại Rôma là nguyên nhân phát sinh ra bao nhiêu vấn đề trong Giáo Hội. ĐGH Grêgoriô đã nghe lời bà trở về Rôma, và bắt đầu cải tổ lại Giáo Hội. Catarina qua đời chỉ vài năm sau đó, vào tuổi 33. Vì bà đã để lại nhiều tập bút ký về đời sống thiêng liêng, nên đã được tuyên phong tiến sĩ Hội Thánh.

Thánh Catarina vừa giúp Giáo Hội vượ qua một cơn khủng hoảng, thì một cơn khủng hoảng khác trầm trọng hơn nhiều lại đến ngay tiếp sau đó. Trong 40 năm trường, hai đấng đã tự tuyên bố mình là Giáo Hoàng, một vị đặt tông tòa tại Avignon, một vị đặt tại Rôma. Tình cảnh rối loại này, được coi là sự ly khai lớn ở Tây Phương, đã phân chia nội bộ Giáo Hội và làm suy giảm vai trò của Đức Giáo Hoàng. Khi vấn đề nay được giải quyết rồi thì sự duy nhất Giáo Hội lại bị đe dọa.

CUỘC CẢI CÁCH TIN LÀNH

Thế kỷ 15 cũng mang lại nhiều sự phát triển mới. Thời kỳ này được mệnh danh là Thời Phục Hưng vì sự quan tâm mới đến những nền văn minh cổ của Hy Lạp và Rôma. Trong thời kỳ này nhiều người trong hàng giáo sĩ lại sống sa đọa vì tiền bạc và những sự xa hoa khác. Việc phát sinh ngành in cũng có ảnh hưởng làm cho những tư tưởng mới - kể cả những tư tưởng lạc đạo- lan tràn nhanh chóng hơn. Vào đầu thế kỷ 16, Giáo Hội một lần nữa lại cần phải được cải tổ.

Nhưng đáng tiếc thay, một vài cố gắng cải tổ Giáo Hội đã dẫn những “nhà cải tổ” đi xa khỏi Giáo Hội. Đó là Phong Trào Cải Cách Tin Lành. Phong trào này do Martin Lutherô khởi xướng, rồi nhiều nhóm khác đã nổi lên chống đối và tách lìa khỏi Giáo Hội. Đó là điểm khởi đầu dẫn đến việc phát sinh nhiều giáo phái Tin Lành mà ngày nay chúng ta thấy cùng khắp chung quanh chúng ta.

Biến động vĩ đại này là lý do làm Giáo Hội phải triệu tập Công Đồng Trentô. Giáo Hội cần được cải tổ, và Giáo Hội cũng cần làm sáng tỏ nhiều đạo lý đang bị người Tin Lành thách thức. Công trình của Công Đồng này đã củng cố Giáo Hội, nên khi vượt khỏi cơn khủng hoảng này, Giáo Hội đã trở nên mạnh mẽ hơn và có nhiều khả năng hơn để đương đầu với những công việc trước mắt.

Thời kỳ sau Công Đồng được mệnh danh là Phản Cải cách. Cũng như xưa kia, các dòng tu mới đã giúp Giáo Hội cải tổ trong thời Trung Cổ thế nào, thì lúc này cũng có những dòng tu mới giúp Giáo Hội tự canh tân mình như vậy. Chẳng hạn, Dòng Các Chị Em Ursuline dấn thân vào việc giáo dục những thiếu phụ trẻ tuổi, do Thánh Angela Merici thành lập. Dòng tu quan trọng nhất trong các dòng mới này là Dòng Tên (Chúa Giêsu) do Thánh Ignatiô Loyôla thành lập.

THÁNH IGNATIÔ LOYOLA

Thánh Ignatio Loyola là một người Tây Ban Nha thuộc dòng dõi qúi tộc, được huấn luyện để vào binh nghiệp. Trong thời gian phục vụ, ngài đã nổi tiếng vì lòng can đảm và trung thành với nhà vua. Trong một trận chiến, ngài đã vị thương nặng và cần phải được tĩnh dưỡng nhiều ngày tháng. Trong thời này tĩnh dưỡng, ngài đã đọc những sách mà ngài có trong tay như Cuộc đời Chúa Kitô và tiểu sử vài vị thánh. Khi chân ngài đã bình phục, thì cuộc đời của ngài cũng biến đổi. Thánh Ignatiô thề hứa sẽ trở nên một chiến sĩ để phụng sự Chúa Kitô và Giáo Hội.

Sau một thời gian tĩnh tâm, Ignatio khởi sự học thần học để chuẩn bị bản thân cho công cuộc mới của ngài. Khi còn đang học tại đại học Paris, có vài thanh niên xin gia nhập, rồi cùng nhau họ làm lời khấn hứa giữ đức nghèo khó và thanh tịnh. Vài năm sau, họ tự lập thành một dòng tu và tự nguyện phục vụ Đức Giáo Hoàng.

Công việc đặc thù của Dòng Tên là bênh vực đức tin và phục vụ giáo hội bằng cách thức và bất cứ nơi nào mà Đức Giáo Hoàng yêu cầu họ làm. Thuở ban đầu, công tác này được thực hiện dưới dạng bênh vực đức tin chống lại những tấn công của người Tin Làng. Chẳng hạn, nhiều linh mục dòng Tên được gửi sang Đức để chống lại lạc thuyết Luther, và họ đã thành công trong việc đem nhiều người trở về cùng Giáo Hội. Với thời gian, Dòng Tên bắt đầu thành lập những đại học riêng của mình với xác tín rằng một nền giáo dục Công giáo vững chắc sẽ bảo đảm được sự trung thành của Giáo hội.

Châm ngôn của Thánh Ignatio và của Dòng Tên là “Để Thiên Chúa Được Vinh Danh Hơn.” (Ad Majorem Dei Gloriam) Ngài đã thật sự sống chỉ để làm vinh danh Thiên Chúa và điều đó đã làm ngài thành một vị thánh.

NHỮNG VỊ TRUYỀN GIÁO ĐẾN TÂN THẾ GIỚI (NEW WORLD)

Trong những thế kỷ tiếp sau đó, Giáo hội một lần nữa được phục hồi lại, đã bắt đầu bành trướng đi xahơn nữa. Các nước Châu Âu khởi sự thám hiểm các miền đất ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ. Giáo hội cũng tích cực hoạt động, truyền bá đức tin đến các dân tộc tại các miền ấy. Hoạt động truyền giáo rộng lớn nah61t kể từ những ngày sơ khai của Giáo Hội đã bùng lên tiếp sau Cuộc Cải Cách Tin Lành.

Một trong những vị truyền giáo vĩ đại nhất của thời ấy là một linh mục dòng Tên: Thánh Phanxicô Xaviê. Ngài là một trong những thành viên tiên khởi của Dòng Tên và được Thánh Ignatiô chọn để trở nên một trong những vị truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên. Cũng như Phánh Phaolô, vị truyền giáo vĩ đại, Thánh Phanxicô đã đi khắp nhiều miền đất rộng lớn tron gmột thời gian ngắn.

Ngài bắt đầu rao giảng tại Ấn Độ. Từ đó trẩy qua Sri-Lanca, Malaysia và Nhật Bản, đưa nhiều trở lại Đạo Chúa. Ngài qua đời trước khi có thể vào được Trung Quốc; nhưng những linh mục dòng Tên sau này đã tiếp tục công việc của Ngài, đã rao giảng Tin Mừng tại Trung Quốc. Công cuộc do Thánh Phanxicô khởi động đã mở đường cho các vị truyền giáo sau này trẩy đến phương Đông.

Các linh mục Dòng Tên người Pháp là thuộc số những người đã đem lại sứ điệp của Chúa vào các thuộc địa của Pháp ở Bắc Mỹ. Thánh Isaác Jogues và bảy người khác nữa được gọi là những vị tử đạo Bắc Mỹ. Họ giảng dạy cho những người da Đỏ và đã chịu tử đạo vì đức tin của họ.

Những vị truyền giáo Tây Ban Nha thì hoạt động ở miền Tây Nam vàø miền Tây của lục địa Bắc Mỹ. Một trong những vị truyền giáo nổi tiếng nhất là linh mục thuộc Dòng Phanxicô, Cha Juniperro Serra. Ngài đã thiết lập một loạt những thí điểm truyền giáo giữa Thổ Dân Da Đỏ tại California.

Nhờ công việc của các vị truyền giáo và những Kitô hữu từ Âu Châu đến định cư tại Mỹ, mà đức tin đã được gieo xuống đất Mỹ này. Vị Thánh đầu tiên sinh trưởng tại Hoa Kỳ là Thánh Elizabeth Seton sinh năm 1774.

Elizabeth lơn lên trong một gia đình theo Anh giáo và lấy chồng là ông William Seton, một thương gia giàu có tại New York. Họ sinh được năm người con. Khi chồng bà Elizabeth mắc bệnh lao, ông bà đã dời về nước Ý, và ông Seton chết tại đó. Tại Ý, bà Elizabeth mới xác tín rằng Giáo Hội Công Giáo Roma là Giáo Hội chân thật.

Khi bà trở lại quê hương, Elizabeth đã trở lại Công Giáo, mặc dầu đã gặp nhiều phản đối mãnh luệt từ phía gia đình và các bạn bè của bà. Để tự nuôi sống và nuôi các con của mình, bà đã mở một trường học cho những trẻ em khác sống trong vùng lân cận của bà và sau đó mở tại Maryland. Trường học do bà tổ chức có một điều khác thường vì trường đã đón nhận mọi học sinh, chứ không phải chỉ dành cho các con cái những người giàu có. Hệ thống trường học Công Giáo tại Hoa Kỳ bắt nguồn từ đó.

Có những thiếu phụ trẻ khác đến tiếp tay với bà. Sau đó, nhóm này đã trở thành một cộng đoàn nữ tu sĩ, gọi là Dòng các Nữ Tu Bác Ái. Thành lập năm 1809, Dòng đã trở thành Dòng đầu tiên được thành lập trên đất Hoa Kỳ.

Trong thời gian công cuộc truyền giáo được lan rộng này, Giáo hội phải đương đầu với những cuộc cách mạng khoa học, trí thức và chính trị đang xẩy ra tại Châu Âu. Giáo hội thường xuyên bị thách thức tự đứng lên để bênh vực lấy mình và đã tỏ ra có khả năng đứng vững.

THỜI KỲ HIỆN ĐẠI

Khi Giáo hội bước vào thế kỷ 20, thì được diễm phúc có một vị giáo hoàng thánh thiện, Đức Piô X, là một linh mục miền quê, nhưng cũng là một nhà giáo dục vĩ đại, Đức Piô đã có khả năng giúp Hội Thánh đối phó với một trong những lạc thuyết lớn nhất trong lịch sử của mình. Đó là Thuyết Vụ Hiện Đại (Modernism). Những người chủ trương thuyết này nghĩ rằng những giáo huấn về đức tin và luân lý phải được thay đổi vì không có một mạc khải nào là bất di bất dịch và khách quan do Thiên Chúa ban ra để làm nền tảng cho Kitô Giáo cả! Hơn nữa, những người theo thuyết này không coi những biến cố siêu nhiên là có thật, ví dụ như các phép lạ, mà Kitô giáo dùng để yểm trợ niềm tin của mình. Đức Giáo Hoàng Piô X đã soạn ra hai thông điệp lớn để đúc kết và bác bỏ những tư tưởng này.

Đức Giáo Hoàng Pio X đã phục vụ như một vị chủ chăn vĩ đại của Giáo Hội. Ngài đã khuyến khích việc rước Thánh Thể thường xuyên. Ngài nhắc nhở người công giáo rằng Phép Thánh Thể là lương thực thiêng liêng của chúng ta. Ngài cũng giảm tuổi xuống thấp hơn để các trẻ em có thể rước lễ lần đầu sớm hơn. Hơn nữa, ĐGH Piô X còn khuyến khích giáo dân công giáo hãy dấn thân vào công việc bác ái làm cho người nghèo. Ngài qua đời vì bệnh tim khi nghe đệ nhất thế chiến bùng nổ; và ý muốn sau cùng và di chúc của ngài được diễn tả rất bình dị: Tôi được sinh ra nghèo, tôi sống ngheo, tôi chết nghèo.

Sau khi ngài qua đời, Giáo hội và thế giới phải đương đầu với nhiều thử thách hơn nữa - đặc biệt là sự tràn ngập những thể chế chính quyền vô thần, độc tài trong nhiều nước. Hai thế chiến kể từ khi Đức Piô X qua đời nhắc nhở chúng ta rằng sự dữ đáng kinh hoàng là chủ nghĩa Nazi, chủ nghĩa công sản và chủ nghĩa Phát-xít. Đối diện với những sự dữ này, một trong những vị thánh lớn của thế kỷ này là Thánh Maximilian Kolbe, đang nổi bật như một gương sáng cho thời đại chúng ta.

Maximilian sinh tại Ba-lan vào khoảng đầu thế kỷ. Là một tu sĩ thuộc dòng Phanxicô, ngài đã dành nhiều thời giờ và tâm trí để am hiểu vai trò của Đức Mẹ trong việc cứu độ con người chúng ta. Trước khi được thụ phong linh mục, ngài đã tổ chức một hội gồm các tu sĩ được mệnh danh là những Hiệp Sĩ của Đức Mẹ. Sau khi thụ phong linh mục, ngài còn kết nạp thêm giáo dân vào hội này. Để chuyển đạt sứ điệp của ngài đi xa hơn nữa, ngài khởi sự thành lập một tập san có tên là Người Hiệp Sĩ của Đức Vô Nhiễm. Ngài không có nguồn tài trợ nào, nhưng tập san đã phát triển một cách lạ lùng, mặc dù nó phải đương đầu liên lỉ với những khó khăn tài chánh. Ngài còn thiết lập một cộng đoàn tại Nagasaki, Nhật Bản, và sau này cộng đoàn ấy đã sống sót một cách kỳ lạ sau vụ bom nguyên tử hủy diệt thành phố ấy.

Sau khi thiết lập cộng đoàn tại Nhật Bản, năm 1936, Maximilian đã trở về Ba-lan. Vào thời ấy, Hitler đã lên cầm quyền tại nước Đức, sau đó ít lâu, quân đội của ông ta xâm chiếm nước Ba-lan. Mật vụ Đức đã bắt ngài và giam tù tại trại Auschwitz năm 1941.

Ngay khi ấy, Maximilian đã trở nên nguồn sức mạnh cho tất cả bạn tù với ngài. Ngài đến trại tù ấy không bao lâu, thì có vài tù nhân trốn trại. Để trả thù, bọn lính phát-xít Đức đã chọn bừa người tù nhân để bỏ họ chết đói. Trung sĩ Phanxicô Gajownictek, một trong những người đã bị chỉ định, kêu khóc ầm ĩ vì thương vợ thương con. Lúc ấy, cha Maximilian mới hỏi những lính canh gác xem liệu ngài có thể thế chỗ cho người trung sĩ kia được không. Khi bọn lính hỏi tại sao ngài đã chọn như thế, thì ngài trả lời rằng: Tôi là một linh mục công giáo. Với lời này, Maximilian đã bắt đầu đường chịu tử đạo. Ngài đã cầu nguyện và đem lại sự can đảm cho chín bạn tù khác đang chết đói dần mòn trong hầm giam. Bọn lính phát-xít đã lấy làm ngạc nhiên khi thấy ngài vẫn còn sống sau ba tuần lễ không ăn uống gì, và cuối cùng chúng đã đem ngài ra giết. Thánh Maximilian đã chết giống như khi ngài còn sống - dâng hiến trọn vẹn đời ngài cho Thiên Chúa.

Trong thời đại chúng ta, Giáo hội vẫn tiếp tục tăng trưởng, khi đức tin truyền bá đi nhiều nơi như Ấn Độ và Châu Phi. Sau 2000 năm, chúng ta thấy Chúa Thánh Thần vẫn luôn tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội. Lời hứa của Chúa Kitô vẫn còn thực hiện: ... quyền lực sự chết sẽ không thắng được Giáo Hội.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Thánh Phanxicô Assisi - Thánh Catarina Siena - Thánh Đaminh - Thánh Tôma Aquino - Thập Tự Chinh - Thời Trung Cổ - Cuộc Ly Khai Đông Tây - Thời Phục Hưng - Phong Trào Cải Cách - Phong Trào Phản Cải Cách - Thánh Ignatio Loyola - Thuyết Vụ Hiện Đại.

******************************************************************

BÁI 3 : NHỮNG ANH EM LY KHAI

Lời Thánh Phaolô: Vậy tôi, một người tù trong Chúa Kitô, tôi khuyên anh em hãy đi đứng sao xứng với ơn thiên triệu, mà Thiên Chúa đã kêu gọi anh em, hết lòng khiêm nhượng và hiền từ với đức đại lượng chịu đựng lẫn nhau trong lòng mến: hăm hở duy trì sự hiệp nhất của Thần Khí, trong dây liên kết hòa thuận. (Eph. 4:1-3)

Tính đại đồng của Giáo Hội được tỏ bày trong thời đại chúng ta bằng hàng triệu người Cộng Giáo rải rác trên khắp hoàn cầu. Đồng thời cũng có nhiều người không thuộc về Giáo Hội Công Giáo nhưng lại là những thành viên thuộc nhiều giáo phái có tổ chức khác nhau. Trong số những người ấy, có những người tin vào Chúa Kitô, có những người không tin, tuy họ vẫn tin vào một Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Có những người khác có một thứ tôn giáo nào đó nhưng họ không tin vào một Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Tất cả những người ấy đều ở ngoài giáo hội hữu hình, nhưng ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong chương này, chúng ta sẽ nhận định về mối quan hệ của họ với giáo hội Công Giáo thế nào.

Chúng ta hãy cầu cho mọi anh chị em cùng tin vào Đức Kitô và đang cố gắng sống theo sự thật, xin Chúa thương qui tụ và gìn giữ tất cả Hội thánh duy nhất của Người. (Lời nguyện thứ Sáu Tuần Thánh)

Những người gần gũi với giáo hội nhất, đó là những người Kitô hữu không công giáo mà đã được chịu rửa tội. Họ thường được giáo hội nhắc đến như là những anh em ly khai. Nhờ Bí Tích RửaTội, họ được liên kết với Nhiệm Thể Chúa Kitô một cách nào đó. Vì lý do là chỉ có một Phép Rửa để được ơn tha tội như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicêa. Tất cả chúng ta đều được chịu Phép Rửa trong Chúa Kitô. Vậy những ai đã lãnh Bí Tích Rửa Tội thì đều được kết hiệp với Chúa Kitô và Thân Thể của Người là Giáo Hội.

Còn những gì chia rẽ các Kitô hữu chính là mức độ của họ chấp nhận nhiều hay ít những giáo huấn và các việc thực hành được truyền lại từ Chúa Giêsu qua trung gian các tông đồ. Chì Giáo Hội Công Giáo mới giảng dạy sứ điệp của Chúa Kitô cách đầy đủ. Sự khác biệt trong tín ngưỡng và thục hành giữa các Kitô khác nhau ít nhiều tùy theo cấp độ.

Những tín hữu gần với Giáo hội Công giáo nhất, đó là các Kitô hữu Chính Thống. Họ có đầy đủ mọi Bí Tích, nhưng đã tự ly khai với quyền bính của Giáo Hội. Như chúng ta đã thấy, họ đã ly khai cách đây một ngàn năm khi phú nhận quyền bính Đức Giáo Hoàng.

Thứ đến là những giáo pháo đã rời khỏi Giáo hội trong thời Cải Cách (Reformation) - chẳng hạn những anh em Tin Lành thuộc giáo phái Luther. Ngoài việc họ tự tách rời khỏi quyền bính của giáo hội, những giáo phái này cũng phủ nhận một số giáo huấn của giáo hội và Bí tích nữa. Chẳng hạn các đồ đệ của Luther phủ nhận sự cần thiết của Bí Tích Giải Tội, và dạy rằng các tín hữu có thể giải thích Kinh Thánh mà không cần theo sự hướng dẫn của giáo hội.

Cuối cùng, có những giáo phái lại tách rời khỏi những nhóm vừa nói trên, và họ phủ nhận theo nhiều đạo lý đức tin của chúng ta. Từ ngày có Cải Cách Tin Lành, nhiều giáo phái Kitô giáo mới đã tiếp tục xuất hiện, khi người ta tự quyết định giữ một phần sứ điệp của Chúa Kitô, và chối bỏ những phần khác.

Muốn có sự duy nhất toàn vẹn trong Giáo hội, mọi Kitô hữu phải được hiệp nhất lại với nhau trong cùng một đạo lý và việc thờ phượng. Giáo hội đang cầu nguyện cho ý chỉ này, cách đặc biệt trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh. Ý nguyện của lời cầu ấy mong những ai đã được kết hiệp với Chúa Kitô từ lúc đầu trong Bí Tích Rửa Tội được kết hiệp trọn vẹn với Người trong đức tin.

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã hứa ban ơn cứu độ cho Abraham và con cháu của người. Xin Chúa thương nghe lời Hội thánh cầu nguyện cho dân tộc Chúa đã chọn xưa kia cũng được hưởng nhờ ơn cứu độ viên mãn của Đức Kitô.”

Rồi có những dân tộc không tin vào Chúa Kitô, nhưng tin vào một Thiên Chúa chân thật. Đó là dân Do Thái và những người Hồi giáo. Bởi lịch sử của họ, người Do Thái có một quan hệ gần gũi với Giáo hội hơn.

Dân Do Thái là dân được Thiên Chúa tuyển chọn đầu tiên. Ngài đã mạc khải cho loài người khi ký kết giao ước với ông Abraham. Ngài đã hứa rằng dòng giống của Abraham sẽ là dân riêng Ngài và Ngài sẽ là Thiên Chúa của họ.

Trải qua nhiều thế kỷ, Thiên Chúa đã mạc khải dần dần cho dân này, chuẩn bị họ một cách đặc biệt cho Vương Quốc thiêng liêng sẽ đến của Ngài. Thiên Chúa đã mặc khải cho dân riêng rằng ơn cứu độ sẽ đến trong thời gian qua trung gian của họ. Thiên Chúa đã hứa sẽ tái lập lại sự hòa hợp và thân thiết với Ngài cho thế giới này như đã có trước khi con người sa ngã. Sự kiện này sẽ do một hậu duệ của ông Abraham, là Đấng Messia thực hiện.

Khi người Do thái đã được dạy dỗ và lập thành một dân rồi, thì họ đã sẵn sàng đón nhận sự mạc khải viên mãn của Thiên Chúa. Họ đã sẵn sàng để được biến đổi thành một dân tộc có tính chất hoàn toàn thiêng liêng như Thiên Chúa đã có ý định về họ. Và lúc ấy Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đến trong thế gian.

Tuy thế, nhiều người Do thái không nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Messia. Ví lý do này mà họ đã ly khai khỏi Giáo hội ngày nay. Đáng lẽ họ phải là thành viên của Giáo hội, vì ơn cứu độ từ họ mà đến. Chính Chúa Kitô đã nói với người nữ Samaria bên bờ giếng Giacóp: Ơn cứu độ từ dân Do Thái mà đến (Jn 4:22) Một dân liên hệ đặc biệt nối kết chúng ta lại với họ. Vì Chúa Giêsu xuất hiện từ dòng dõi dân Do thái. Ngài là Con Vua Đavít. Thiên Chúa còn yêu thương họ bằng một tình yêu đặc biệt. Chúng ta hãy cầu nguyện để họ có thể nhìn nhận Chúa Kitô là Đấng Messia đã hứa ban cho họ -m và nhờ thế, họ sẽ trở nên thành phần của Dân Chúa, như Thiên Chúa đã dự định cho họ.

Cũng như người Do thái, người Hồi giáo cũng tin vào một thiên Chúa độc nhất và chân thật. Tuy vậy, khác với dân Do thái, Hồi giáo không phải là sự chuẩn bị để đón nhận Kitô giáo. Hồi giáo phát triển tại Arabia khoảng 600 năm sau Chúa Kitô và có nguồn gốc từ Do thái giáo và Kitô giáo. Họ chấp nhận mạc khải mà Thiên Chúa đã tỏ bày cho dân Do thái như đã nói trong Cựu Ước, nhưng không nhìn nhận Chúa Kitô là Đấng Messia. Họ nhìn Ngài như một trong các ngôn sứ, nhưng không phải là ngôi hai của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta hãy cầu nguyện cho người Hồi Giáo nữa, để họ nhìn thấy được sự thật và một ngày nào đó sẽ hợp làm một với Giáo hội.

“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đặt vào trái tim con người niềm khát vọng đi tìm kiếm Chúa, khiến con người chỉ được bình an khi nào gặp được Chúa. Xin ban cho mọi người khắp thế gian, dù đang sống giữa muôn vàn nghịch cảnh, vẫn có thể nhận ra những dấu chỉ của tình yêu Chúa; và khi thấy các tín hữu sống đời bác ái yêu thương, họ sẽ vui mừng tin nhận duy có Chúa là Thiên Chúa đích thực và là Cha của hết mọi người.”

Rồi có những người - là người lương và vô thần - không tin chút nào vào Thiên Chúa độc nhất và chân thật. Người lương là những ngươì không tin vào Thiên Chúa độc nhất và chân thật, nhưng có thể sùng bái một thứ đạo tà thần hay còn tin vào nhiều thần linh gọi là tôn giáo đa thần. Tôn giáo của Hy Lạp và Rôma cũ thuộc loại tôn giáo này.

Có những người lương theo thuyết vật linh thì tin rằng bất động vật có những năng lực siêu nhiên và con người có thể kiểm soát được chúng. Cho nên họ thờ nhiều thần linh, chứ không thờ một Thiên Chúa độc nhất và chân thật.

Có những người vô thần. Nói đúng ra, thuyết vô thần là sự phủ nhận có một Thiên Chúa có bản ngã. Trong thế giới hiện đại của chúng ta, thuyết vô thần xuất hiện dưới nhiều dạng. Có những người minh thị phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa. Có những người khác thì chủ chương rằng có thể có Thiên Chúa, nhưng chúng ta không thể biết gì về Người. Chúng ta gọi họ là những người theo thuyết bất khả tri. Có những người khác không minh thị phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, nhưng cũng không bao giờ quan tâm gì đến Thiên Chúa hay đạo giáo. Họ chọn thái độ phớt lờ Thiên Chúa và thay vào đó chỉ tập trung vào con người và những thành tựu của con người.

Có thể có nhiều cản trở làm những người này không tin vào Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện để Thiên Chúa cất những trở ngại ấy đi, và như thế họ mới có thể tin vào Người.

Là một chi thể của Giáo hội, chúng ta phải ra sức hoạt động để đạt đến sự hợp nhất mọi Kitô hữu lại với Giáo hội và cầu nguyện cho tất cả mọi người ngoài Giáo hội có thể trở thành những chi thể của Nhiệm Thể cách đầy đủ hơn. Ý nghĩa chữ đại kết là thế đó. Là người công giáo, chúng ta được Chúa ban cho một ơn trọng đại, và chúng ta phải hăm hở san sẻ ơn huệ ấy với những người khác.

Chúng ta biết rằng ơn cứu độ đã đến trong thế giới này là nhờ Đức Kitô. Ngài đã để lại cho chúng ta Giáo Hội để ban phát những ân huệ cứu độ và cung cấp cho chúng ta một hướng dẫn an toàn. Chúng ta rất có phúc có được những Bí Tích trên đường về trời. Chúa Kitô cũng để lại một vị đại diện trên trần gian này để chúng ta có thể thấy rõ sứ điệp của Ngài. Những người ở ngoài Giáo Hội không có được những ân huệ lớn lao này. Phải chăng như thế có nghĩa là những ai ở ngoài Giáo Hội sẽ không được ơn cứu độ?

Giáo Hội dạy rằng ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ. Thật ra câu ấy có nghĩa là gì? Giáo hội là cần thiết để được ơn cứu độ vì Chúa Kitô là cần thiếtt để được ơn cứu độ. Người ta tìm thấy cách đầy đủ Chúa Giêsu và sứ điệp của Ngài trong Giáo Hội là Nhiệm Thể của Ngài.

Tuy nhiên Giáo Hội không dạy rằng tất cả những người ở ngoài giáo hội hữu hình sẽ không được cứu độ. Nhưng chỉ những ai biết rằng Thiên Chúa muốn họ sống hoàn toàn thông hiệp với Giáo Hội Công Giáo, mà cứ cố tình chọn sống ngoài Giáo Hội - bằng việc cố tình từ chối Chúa Kitô và sứ điệp của Ngài - thì sẽ không được cứu độ. Thế nhưng có nhiều người ở ngoài Giáo hội hữu hình mà không tại lỗi của họ. Chẳng hạn có những người không bao giờ nghĩ đến Tin Mừng hoặc có thể có một hình ảnh méo mó về Giáo Hội. Nếu họ sống một đời sống tốt lành và cố gằng sống theo những gì Thiên Chúa mong đợi nơi họ, thì họ cũng có hy vọng được ơn cứu độ.

Nhưng còn một vần đề nữa: Chúa Kitô dạy rằng Phép Rửa là cần thiết để được lên Thiên Đàng, khi Người nói với ông Nicôđêmô , người Pharisiêu:

            Quả thật, quả thật, Tôi bảo ông, ai không sinh bởi Nước và Thần Khí, thì không

           thể vào được Nước Thiên Chúa. (Jn 3:5)

Chúng ta đã biết rằng những Kitô hữu ở ngoài Giáo hội cũng đã được chịu phép rửa trong Chúa Kitô, nhưng còn những người không bao giờ được thanh tẩy thì sao? Họ có thể vào được Nước Thiên Chúa không?

Với những ai không biết gì về phép rửa tội và tính cách quan trọng của nó, hay với những ai không thể chịu Bí Tích Rửa Tội trước khi chết, thì có hai cách khác để lãnh nhận ơn thánh hóa là điệu kiện cần thiết để vào Thiên Đàng. Cách thứ nhất được gọi là rửa tội bằng lòng ao ước. Lòng ao ước được rửa tội này có thể rõ ràng như trường hợp một người đang chuẩn bị chịu phép rửa tội, nhưng lại chết trước khi chịu bí tích này. Hoặc lòng ao ước ấy có thể chỉ ngấm ngầm. Lòng ao ước ngày ngầm chứa nơi những người đã cố gắng thực hiện cách trung thành ý muốn của Thiên Chúa trong đời sống của họ. Có thể họ biết đến nhu cầu phải chịu phép rửa tội, nhưng sẵn sàng lãnh nhận nếu họ biết được. Thiên Chúa biết tâm tư và lòng ao ước của họ, sẽ không phạt họ vì những hoàn cảnh vượt ngoài khả năng hiểu biết của họ.

Cách thứ hai để lãnh nhận cách đặc biệt ơn cần thiết để được vào Thiên Đàng là rửa tội bằng máu. Phép Rửa này được ban cho những người chư aphải Kitô hữu mà đã chịu tử đạo vì Chúa Kitô. Việc họ sẵn sàng chịu chết vì Chúa Kitô chứng tỏ lòng tin của họ, và họ sẽ được nhận vào Thiên đàng, tuy chưa bao giờ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.

Bây giờ chúng ta ý thức ơn huệ cao cả Chúa ban cho vì đã được chịu phép rửa tội và được nâng lên hàng những chi thể của Giáo hội Công giáo, chúng ta phải ra sức đem những người khác về sống trong sự hiệp thông với Giáo hội. Đồng thời chúng ta phải tỏ ra tôn trọng đối với những tín ngưỡng của kẻ khác mà dẫn đưa họ một cách nhẫn nại và với đầy lòng nhân ái về chân lý.

Chúng ta cũng thấy mình bất xứng với ơn huệ này và không được nghĩ rằng ơn huệ ấy cho ta có quyền tự mãn trên kẻ khác. Thực ra chúng ta cũng có thể học nơi các anh em ly giáo rất nhiều điều.

Giáo hội Chính Thống Đông Phương tôn kính truyền thống. Những nghi lễ phụng vụ huy hoàng của họ gợi lên trong chúng ta lòng tôn kính sâu sắc đối với việc thờ phượng Thiên Chúa. Giáo hội Anh Giáo hiểu biết sâu rộng về các nghi thức phụng vụ lộng lẫy. Giáo phái Luther, Baptist và Tin Lành Phúc âm đọc Kinh Thánh và rất nhuần nhuyễn với Thánh Kinh. Người Do Thái có một ý thức sâu sắc về thần thiêng, yêu mến các giới răn, và can đảm đứng lên bênh vực tín ngưỡng của họ.

Là người Công giáo, chúng ta phải sống niềm tin của chúng ta cách nghiêm chỉnh hơn. Lòng yêu mến cần phải gia tăng và bản thân mỗi người trong chúng ta phải trở lại và từ bỏ con đường tội lỗi để theo Chúa Kitô.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Những anh em ly giáo - Dân tuyển chọn - Người vô thần - Người chủ trương bất khả tri - Tinh thần đại kết - Thuyết Vật linh - Thuyết đa thần.

PHẦN SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Ngoài Giáo hội Công giáo Rôma, có thể có một giáo hội nào khác là giáo hội của Chúa Kitô không, hay ít ra là một thành phần của Giáo hội Công giáo không?

Không! Ngoài Giáo hội Công giáo Rôma, không thể có một giáo hội nào là giáo hội của Chúa Kitô cả, và cũng không thể là một thành phần của Giáo hội ấy được, vì một giáo hội như thế không thể có, như Giáo Hội Công giáo Rôma, những đặc tính riêng biệt của Giáo hội Chúa Kitô. Đó là tính duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Trong thực tế, không có một giáo hội khác thường được gọi là Kitô giáo lại có những đặc tính riêng biệt ấy.

2.         Ở ngoài Giáo hội có phải là một sự mất mát nghiêm trọng không?

Ở ngoài giáo hội là một sự mất mát nghiêm trọng, vì người ta không có những phương thế đã được thiết lập hoặc sự hướng dẫn chắc chắn đã được quy định để đạt đến ơn cứu độ đời đời, mà sự cứu độ này là điều cần thiết duy nhất cho con người.

3.         Một người ở ngoài giáo hội có thể được cứu độ không?

Một người ở ngoài giáo hội do tại lỗi của họ, và khi chết mà không có lòng ăn năn cách trọn sẽ không được ơn cứu độ. Nhưng những ai ở ngoài giáo hội mà không do lỗi của họ, ngược lại sống một đời sống tốt lành, thì có thể được cứu rỗi nhờ lòng mến, được gọi là đức bác ái. Đức này liên kết họ với Thiên Chúa, và một cách thiêng liêng, họ cũng được liên kết với Giáo hội.

***********************************************************

BÀI 4: GIÁO LÝ VỀ ƠN THÁNH

Chúng ta đã học: Thiên Chúa đã tạo dựng mỗi người trong chúng ta để nhận biết Người, yêu mến và phụng sự Người ở trần gian này và để sống mãi với Người trên Thiên Đàng. Đó là mục đích đời người. Nên chúng ta phải học thế nào để làm chứng những việc này cách trọn hảo nhất, theo khả năng của mình, vì đó là điều rất quan trọng.

Nhưng đây cũng là một công việc chúng ta khôngthể làm được. Vì làm sao mà chúng ta, những tạo vật đã bị chia cách với Thiên Chúa do tội nguyên tổ, tự mình có thể đạt tới một điều vĩ đại là Thiên Đàng! Không, chúng ta không thể làm được. Đúng vậy, chúng ta không thể làm được trừ khi chính Thiên Chúa đến trợ giúp chúng ta bằng ơn thánh của Người.

Ơn Thánh là một ân huệ siêu nhiên Thiên Chúa ban cho chúng ta nhờ Chúa Giêsu Kitô. Ơn thánh được gọi là siêu nhiên, vì nó vượt khả năng con người tự nhiên của chun1g ta. Nó vượt cả những khả năng của những tạo vật cao cả nhất của Thiên Chúa, tức các thiên thần dũng mãnh. Ơn thánh là một quà tặng, một ân huệ nhưng không, vì chun1g ta không co 1quyền đòi hỏi. Thiên Chúa ban ơn thánh vì Người yêu thương chúng ta.

ƠN THÁNH HÓA: QUÀ TẶNG CAO CẢ CỦA THIÊN CHÚA

Vì tội nguyên tổ mà tất cả chúng ta khi được cưu mang trong lòng mẹ, không một ai có ơn thánh trong linh hồn mình. Chỉ có hai trường hợp ngoại lệ: Đó là Chúa Giêsu, vì là Thiên Chúa, nên Ngài luôn luôn đầy ơn thánh, và Mẹ Ngài, Đức Maria. Người đã có ơn thánh ngau giây phút đầu tiên được cưu mang trong lòng Mẹ của Người.

Ơn thánh hóa làm chúng ta trở nên thánh thiện và đẹp lòng Chúa: Ơn thánh hó alàm chúng ta trở nên dưỡng tử của Chúa và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Ơn thánh hóa cho chúng ta quyền được sống trên Thiên Đàng. Vì thế ơn thánh được gọi là quà tặng, là ân huệ cao cả nhất của Thiên Chúa cho loài người. Chỉ có một sự tược đoạt đi ơn thánh khỏi con người: đó là tội trọng.

Ơn thánh hóa ban cho chúng ta được thông dự vào sự sống của Thiên Chúa. Có hai loại đời sống khác nhau trên thế giới này: Cây aối có sự sống thảo mộc, nhờ đó, cây cối có thể tăng trưởng, trổ hoa và kết trái. Con chó có sự sống động vật, làm nó có giá trị cao hơn thảo mộc. Con chó có thể thấy, nghe, di chuyển được. Con người có sự sống loài người làm họ biết suy nghĩ, yêu mến và chuyển đạt tư tưởng. Nhưng sự sống của Thiên Chúa đến với chúng ta qua ân sủng là sự sống cao cả nhất, vì nhờ đó chúng ta có thể sống trên Thiên Đàng. Không có sự sống đó, chúng ta không thể sống được như vậy.

Ơn thánh hóa thông chia cho ta sự sống của Thiên Chúa, đồng thời cho ba khả năng siêu nhiện: Tin, Cậy và Mến. (Sẽ học trong chương tới)

Chúng ta lãnh nhận ơn thánh hóa trong Bảy Phép Bí Tích của Hội Thánh. Bí tích Rửa tội trước tiên thông chia cho linh hồn sự sống mới; Bí tích Thêm sức củng cố sự sống ấy. Các Bí tích khác, đặc biệt Bí Tích Thánh Thể, đào sâu sự sống này của Thiên Chúa. Bí Tích Hòa Giải ban cho chúng ta sự sống ấy nếu đã lỡ làm mất đi vì tội trọng. Bí Tích Xứ Dầu chuẩn bị để chúng ta được chữa lành cả xác lẫn hồn, hoặc cho chúng ta được ơn chết lành.

QUÀ TẶNG CỦA ƠN HIỆN SỦNG

Một loại ân sủng khác ban cho chúng at sự trợ giúp cần thiết hằng ngày để có thể làm được điều lành và tránh điều dữ. Đó là những hiện sủng, được ban dưới hình thức những khởi hứng là cho trí khôn sáng ra. Vài thí dụ của hiện sủng: như lòng ao ước cầu nguyện, đọc sách thánh, hơặc cản thấy trong lòng được thúc đẩy giúp đỡ người bệnh tật hay bất cứ ai cần giúp đỡ. Mỗi khi nghe theo những ước muốn này và thi hành các việc lành do các ước muốn ấy gợi lên, là chúng ta trở nên những tín đồ tốt lành hơn và chúngt ta làm vui lòng Chúa hơn.

Không có sự trợ giúp của hiện sủng, chúng ta không thể tránh được tội hoặc làm những việc lành giúp đỡ kẻ khác. Những hiện sủng này giúp chúng ta biết đối xử với kẻ khác bằng lòng kính trọng và chỉ chó chúng ta cách thức sống đời sống một tín hữu tốt lành.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Ơn thánh - Siêu nhiên - Ơn thánh hóa - Hiện sủng.

PHẦN SINH HOẠT

Câu hỏi:

Ơn thánh hó alà gì?

Ơn thánh hóa là một ân huệ siêu nhiên hiện hữu trong linh hồn chun1g ta. Do đó ơn này còn được gọi là Ơn Thường Sủng. Ơn này làm chúng ta nên thánh, nghĩa là được công chính trước mặt Chúa, làm chúng ta trở nên bạn hữu của Thiên Chúa, thành anh chị em với Chúa Kitô và là những kẻ thừa tự Nước Trời.

BÀI ĐỌC THÊM

Ơn thánh đích thực là gì?

Ơn thánh đích thực là ơn siêu nhiên của Chúa ban do lòng nhân từ của Ngài cho những tạo vật có lý trí, để họ được ơn cứu rỗi đời đời. Có thể nhận đinh ơn thánh theo 3 cách:

Tự Sủng (Uncreated Grace): Ơn qui về chính Thiên Chúa ở trong con người được công chính hóa.

Tạo Sủng (Created Grace): Ơn làm cho con người được thông dự vào chính sự sống của Thiên Chúa.

Hiện Sủng (Actual Grace): Ơn trợ giúp nhất thời của Thiên Chúa, soi sáng tâm trí và củng cố ý muốn làm điều lành và tránh sự dữ.

Ơn thánh chỉ hoàn toàn siêu nhiên, nghĩa là, vượt qúa bản tính tự nhiên. Ơn thánh không do sức lực con người mà đến, nhưng là điều hoàn toàn cho không. Các điểm này quan trọng vì có những lý thuyết lạc đạo đã phát sinh do những quan niệm sai lầm về điểm giáo lý này.

Ơn Thánh Hóa (Sanctifying Grace): Ơn thánh hóa là tình trạng hiện hữu siêu nhiên do Thiên Chúa ban, hiện diện thường xuyên trong linh hồn ta. Ơn này là sự tham dự thật sự vào Bản Tính Thiên Chúa. (2Pet 1:4; Jn 1:12,18; 3:5; 1Pet 1:23)

Sự đồng hóa siêu nhiên với Thiên Chúa sẽ được hoàn tất trên Thiên Đàng bằng chiêm ngưỡng hiển nhiên. Ơn thánh, hạt giống vinh hiển, chỉ được triển nở hoàn toàn trên Thiên đàng.

Sau khi định nghĩa về ơn thánh sủng, chúng ta xét đến những hiệu quả của nó. Ơn thánh sủng thánh hóa linh hồn, nghĩa là làm cho linh hồn sạch tội trọng và hằng chú tâm vào Chúa. Nó còn ban cho linh hồn sắc đẹp siêu nhiên. Ơn thánh hóa làm cho chúng ta trở nên bạn và con cái Thiên Chúa, và cũng là người thừa tự Nước Trời. Nhờ ơn thánh sủng, con người trở nên đền thờ đích thực của Chúa Thánh Thần.

Nhiệm vụ đầu tiên của người công giáo là giữ vững và phát triển sự liên lạc này với Thiên Chúa, một sự liên lạc do ơn thánh hóa tạo nên. Chỉ khi ở trong tình trạng ơn sủng, chúng ta mới có thể đáng được những ân huệ khác và được lên Thiên Đàng. Hơn nữa, lãnh nhận bất cứ Bí tích của kẻ sống nào, nếu không ở trong tình trạng ơn thánh là phạm tội trọng.

Chỉ những ai chết trong ơn nghĩa của Chúa mới được vào Thiên Đàng. Một tội trọng cố tình phạm có thể làm mất tất cả các ơn thánh trước kia!

Hiện Sủng (Actual Grace): Hiện sủng là một tác động siêu nhiên nhất thời của Thiên Chúa cho ta với mục đích thôi thúc ta làm một việc lành nào đó. Ơn này soi sáng lý trí từ bên trong và cách trực tiếp và củng cố ý muốn của ta. Tại sao ơn hiện sủng cần thiết? Nó cần thiết cho những người mới tin và được ơn cứu độ, cho việc thực hiện những việc làm sinh ơn cứu độ, cho sự bền đỗ đến cùng, và để tránh được tất cả các tội nhẹ.

Hơn nữa, ơn này không thể đạt được bởi việc làm tự nhiên, bởi kêu xin bằng cầu nguyện cách hoàn toàn tự nhiên, hoặc bởi khuynh hướng của ta. Thiên Chúa muốn mọi người được cứu thoát. Thế có nghĩa là Người ban cho mọi người những ơn cần thiết để tuân giữ giới răn của Người, đủ ơn để trở lại, và số lượng cần thiết cho người không tin nhưng thành tâm được đạt tới sự cứu rỗi đời đời.

******************************************************************

BÀI 5: CÁC NHÂN ĐỨC TIN, CẬY, MẾN

Chương trước giúp chúng ta hiểu rằng ơn thánh, nhất là ơn thánh hóa, là một ân huệ kỳ diệu nhất Chúa ban cho người Kitô hữu. Ơn ấy ban tràn ngập sự sống của Thiên Chúa, làm cho chúng ta trở nên con cái Người. Ơn ấy cũng làm chúng ta trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, và Người đến sống trong linh hồn chúng ta. Khi Chúa Thánh Thần đến với chúng ta, Người đem lại ba nhân đức giúp chúng ta tin, cậy và mến Chúa. Ba nhân đức ấy được gọi là Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến.

Nhân đức là một năng lực thường xuyên giúp chúng ta làm lành lánh dữ. Nhân đức có thể là tự nhiên (một điều mà chúng ta có thể cố gắng đạt đến được, như nhân đức ngay thật) hay có thể là siêu nhiên (do Thiên Chúa ban trực tiếp mà không do công trạng của chúng ta). Đức tin, đức cậy và đức mến là những nhân đức siêu nhiên Chúa ban cho linh hồn chúng ta, cùng với ơn thánh hóa khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Ba năng lực này cũng còn có tên là thần đức (nhân đức đối thần). Chữ thần có nghĩa là của Chúa, từ Chúa đến, và chữ này nhắc chúng ta nhớ: Đức tin, đức cậy và đức mến là do Thiên Chúa ban và có mục đích giúp chúng ta sống cho Chúa.

Bất cứ ai sống trong tình trạng có ơn thánh (nghĩa là những người đã chịu rửa tội và không làm mất ơn thánh này vì phạm tội trọng) đều có những năng lực này. Nhưng các năng lực này giống như các cơ bắp của linh hồn, cần phải được củng cố bằng vận động, nếu muốn các năng lực đó đạt đến tầm vóc đúng mức và trở nên hữu ích cho chúng ta. Cách thức vận dụng các cơ bắp thiêng liêng này là bằng các việc lành và cầu nguyện, nhất là những việc làm của đức tin, cậy và mến.

Bây giờ chúng ta hãy đi đến từng nhân đức xem chúng giúp gì cho đời sống người Kitô hữu.

Đức Tin

Với Đức Tin, chúng ta lãnh nhận năng lực tin Chúa và tin tất cả những gì Người đã mạc khải qua Chúa Kitô và Giáo hội. Đức tin giúp chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành và chân thật. Đức tin cũng giúp chúng ta phó thác bản thân mình cho Chúa trọn vẹn. Không có đức tin, chúng ta không bao giờ có thể tin Chúa hoặc tin những gì Người mạc khải. Vì thế đức tin rất cần thiết để được ơn cứu độ; đức tin làm cho chúng ta nên công chính và thánh thiện trước mặt Thiên Chúa như Thánh Phaolô đã nhắc nhở các tín hữu Rôma, “Bây giờ anh em đã được công chính hóa bởi tin, chúng ta đã được làm hòa với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (Rm 5:1)

Giữa tin một điều gì và hiểu được điều đó, có một sự khác biệt lớn lao. Khả năng tin làm cho chúng ta có thể tin những gì Thiên Chúa đã mạc khải. Điều này có nghĩa là chúng nói vâng đối với chân lý, cho dù chúng ta không thấu hiểu chân lý này cách hoàn toàn. Ví dụ, một quan tòa hay cả hội đồng thẩm phán tin lời chứng của một nhân chứng trong một phiên tòa. Họ không có mặt tại nơi xẩy ra tai nạn hay tội ác, nhưng người nhân chứng thì có mặt tại đó. Họ chấp nhận lời của nhân chứng là thật. Cũng thế, chúng ta không có mặt khi Chúa Giêsu còn tại thế, nhưng các tông đồ có đó. Nhờ đức tin là nhân đức siêu nhiên, chúng ta chấp nhận lời chứng củ acác ngài là chân thật. Chúng ta chấp nhận rằng Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ cao cả và đã sống lại từ kẻ chết. Và Thiên Chúa chúc phúc đức tin mà chúng ta có đối với Con Một của Ngài, với các tông đồ của Ngài và đối với Giáo Hội: “Phúc cho những kẻ đã không thấy mà vẫn tin” (Jn 20:29).

Đức tin chúng ta muốn được chân thật và làm đẹp lòng Chúa thì cần phải:

1.         Vững chắc: Nghĩa là đặt tất cả lòng tin tưởng của mình vào Chúa, Đấng mà chúng ta biết chắc không thể lừa dối hay dẫn ta đi sai bao giờ.

2.         Trọn vẹn: Nghĩa là phải chấp nhận tất cả những gì Thiên Chúa mạc khải, chứ không phải chỉ tiếp nhận hay chọn lựa một số điều trong các giáo huấn của Chúa.

Đức Cậy

Đức Cậy làm cho người Kitô hữu có thể trông cậy vào Chúa. Đức Cậy giúp chúng ta tìm thấy an ủi trong lời hứa của Chúa Giêsu sẽ ban sự sống đời đời: “Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, dù có chết cũng sẽ sống lại” (Jn 11:25-26) Đức Cậy liên hệ với những điều không thể có được, như ơn cứu độ. Bạn hẳn nhớ có lần Chúa Giêsu nói rằng thật khó cho một người giàu mà vào Thiên Đàng, và các môn đồ đã hỏi lại Ngài, như thế thì ai có thể được cứu rỗi? (Mtt 19:245-25) Đúng vậy, câu trả lời của Chúa Giêsu về câu hỏi của các môn đồ cho ta thấy rằng Đức Cậy thực sự có nghĩa gì. Ngài nói: “Đối với người ta, điều này không thể làm được, nhưng đối vơí Thiên Chúa, tất cả mọi sự đều làm được hết.” (Matt 19:26) Đức Cậy dạy chúng ta biết rằng Thiên Chúa, Đấng đã hứa Thiên Đàng với chúng ta, sẽ cho chúng ta tất cả sức mạnh mà chúng ta cần để đạt tới điều đó. Ngài trung thành với lời hứa của Ngài và chúng ta có thể đặt tất cả lòng cậy trông của chúng ta nời Ngài.

Đức Mến

Đức Mến (còn gọi là Đức Ái) là nhân đức siêu nhiên lớn hơn hết trong ba nhân đức, như Thánh Phaolô đã nói với các Kitô hữu ở Corintô: “Vậy nay còn lại tin, cậy mến. Ấy là bộ ba. Nhưng trong bộ ba ấy, đức mến là trọng hơn cả”. (1Cor 13:13)

Đức mến là khả năng nhờ đó chúng ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính mình. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu gọi điều này là giời răn lớn nhất của Thiên Chúa. Đức mến có một chỗ danh dự cao, vì nó là dây liên kết tình bằng hữu giữa Thiên Chúa và con người. Thánh Gioan, thường được gọi là tông đồ của tình yêu, nói với chúng ta rằng, nhờ đức mến, Thiên Chúa ngự trong linh hồn chúng ta: “Thiên Chúa là tình yêu, ai ở trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa, và Chúa ở trong người ấy.” (1Jn 4:16)

Nhưng tình yêu là gì? Có người nghĩ rằng yêu mến có nghĩa là cảm nghĩ tốt về một người nào hay về một điều gì. Họ hiểu sai rồi! Chúng ta có thể cảm nghĩ tốt về người chúng ta yêu mến, điều này đúng, nhưng đó không phải là điều đức mến muốn nói. Tình yêu chân thật có nghĩa là chúng ta chỉ muốn điều gì thực sự tốt cho người chúng ta yêu mến.

Yêu mến Chúa nghĩa là chúng ta muốn làm vui lòng Người bằng cách làm điều tốt và tránh xa tội lỗi. Yêu mến anh em mình có nghĩa là chúng ta muốn cho họ những sự tốt lành, nhất là mong muốn cho họ được lên Thiên Đàng. Do đó, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng: “Không được ao ước điều dữ cho kẻ khác, dù họ là thù nghịch chúng ta.” (Mat. 5:43-48)

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Các nhân đức (tức nhân đức đối thần) - nhân đức - đức tin - đức cậy - đức mến

SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Nhân đức là gì?

Nhân đức là một khuynh hướng thường xuyên của tâm hồn để làm điều lành.

2.         Có mấy loại nhân đức?

Có hai loại nhân đức:

Thứ nhất: Các nhân đức tự nhiên mà chúng ta có được do bởi thường xuyên làm những hành động tốt tự nhiên. Những nhân đức này được gọi là những nhân đức luân lý thuộc loại tự nhiên.

Thứ hai: Các nhân đức siêu nhiên, là những nhân đức chúng ta không thể có đuợc hoặc tập luyện do sức riêng mình, vì chúng ta có được là do những ân huệ Thiên Chúa ban cho. Đây là những nhân đức thuộc riêng người Kitô hữu.

3.         Những nhân đức thuộc riêng người Kitô hữu là những nhân đức nào?

Đó là những nhân đức siêu nhiên, nhất là đức tin, đức cậy và đức mến. Ba nhân đức này được gọi là những nhân đức đối thần, vì đối tượng và động cơ của các nhân đức ấy là chính Thiên Chúa.

4.         Chúng ta lãnh nhận và thực các nhân đức siêu nhiên này thế nào?

Chúng ta lãnh nhận các nhân đức này cùng lúc với ơn thánh hóa, nhờ lãnh nhận các bí tích hoặc nhờ lòng mến trọn hảo. Chúng ta thực hành các nhân đức này nhờ sự trợ lực của các hiện sủng, cụ thể là nhờ những ý nghĩ tốt lành và bằng những thúc giục bên trong, Thiên Chúa thúc đẩy và giúp đỡ chúng ta trong mọi việc tốt lành chúng ta làm.

5.         Trong các nhân đức siêu nhiên, nhân đức nào cao cả hơn hết?

Trong các nhân đức siêu nhiên, đức mến cao trong hơn hết: Vì đức mến luôn đi với ơn thán hóa, liên kết chúng ta với Thiên Chúa và anh chị em mình cách mật thiết, thúc đẩy chúng ta giữ trọn vẹn luật chúa và làm mọi việc lành; sau cùng, đức mến còn tồn tại trong cuộc sống mai hậu. Do đó, sự trọn lành của người Kitô hữu là hệ đức mến của họ.

6.         Đức Tin là gì?

Đức tin là một nhân đức siêu nhiên mà chúng ta căn cứ vào quyền năng của Chúa để tin những gì Người đã mạc khải và dẫn đưa chúng ta qua trung gian Hội Thánh Người.

7.         Đức Cậy là gì?

Đức Cậy là một nhân đức siêu nhiên nhờ đó chúng ta trông cậy Chúa, và mong đợi lãnh nhận sự sống đời đời Người sẽ ban cho, và mong đợi những ơn cần thiết để đáng được sự sống đời đời bằng những việc lành chúng ta làm tại thế.

8.         Vì sao chúng ta mong đợi lãnh nhận sự sống đời do Thiên Chúa và những ơn cần thiết để đáng được sự sống ấy?

Chúng ta mong đọi những sự ấy vì Thiên Chúa là Đấng tốt lành và trung tín vô cùng, đã hứa ban những điều ấy, nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô. Do đó, ai không trông cậy Chúa, hoặc ngã lòng cậy trông về ơn cứu rỗi của mình, người đó sẽ làm mất lòng Chúa.

9.         Đức mến là gì?

Đức mến là một nhân đức siêu nhiên nhờ đó chúng ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự, vì Người đáng chúng ta yêu mến, và vì lòng mến Chúa, chúng ta yêu mến anh chị em như chính mình.

10.       Tại sao chúng ta phải yêu mến Chúa?

Chúng ta phải yêu mến Chúa vì Người là Đấng trọn hảo tốt lành vô cùng, là nguồn của mọi sự tốt lành mà chúng ta có được. Cho nên, chúng ta cũng phải yêu mến Người trên hết mọi sự “với tất cả trái tim, với tất cả linh hồn, với tất cả lý trí và với tất cả sức lực của chúng ta.” (Mc 12:30)

11.       Tại sao chúng ta phải yêu mến tha nhân?

Chúng ta phải yêu mến tha nhân vì lòng yêu mến Chúa, vì Chúa đã dạy như vậy và vì mọi người được Chúa dựng nên giống hình ảnh Người, như chính bản thân chúng ta, và do đó, họ là anh chị em cùng Thiên Chúa la Cha với chúng ta.

12.       Chúng ta có buộc phải yêu mến những kẻ thù nghịch mình không?

Có, chúng ta buộc phải yêu mến họ, tha thứ những kẻ xúc phạm đến chúng ta, vì họ cũng là những người anh chị em mình, (đã được Chúa cứu chuộc) và vì chính Chúa Giêsu Kitô đã cho chúng ta giới răn rõ ràng là phải yêu mến cả những kẻ thù nghịch mình nữa.

13.       Có nên thường xuyên làm những việc về đức tin, đức cậy và đức mến không?

Có, thường xuyên làm những việc về đức tin, đức cậy và đức mến là một điều rất tốt lành, hầu bảo tồn, gia tằng và củng cố những nhân đức này. Đó là điều rất cần thiết cho chúng ta, vì các nhân đức ấy, tự chúng là những thành phần sinh động của con người thiêng liêng.

14.       Chúng ta phải làm những việc đức tin, đức cậy và đức mến thế nào?

Chúng ta phải làm với tất cả tâm hồn mình, với môi miệng và những việc làm, để làm chứng về những nhân đức ấy trong phong cách đời sống chúng ta.

15. Chúng ta chứng tỏ đức tin của mình bằng cách nào?

Bằng cách tuyên xưng đức tin và bảo vệ đức tin ấy, khi cần phải làm mà không sợ sệt hay cả nể. Chúng ta cũng chứng tỏ đức tin của mình bằng cách sống những giáo huấn của đức tin: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (James 2:26)

16. Chúng ta chứng tỏ đức cậy bằng cách nào?

Bằng cách đừng làm tâm hồn bị xáo trộn, lo âu vì những khó khăn, phiền muộn

và nghịch cảnh trên đời, và ngay cả những bách hại. Nhưng hãy sống trong sự

nhẫn nại tuân phục quan phòng của Chúa, và an tâm vì lời Chúa hứa.

17. Chúng ta phải chứng tỏ đức mến bằng cách nào?

Bằng cách tuân giữ những giới răn của Chúa và thực hành những việc phúc đức, nếu Thiên Chúa mời gọi chúng ta, bằng cách tuân giữ các lời khuyên của Tin

Mừng.

************************************************************

BÀI 6: BỐN NHÂN ĐỨC CHÍNH

Một khi đã lãnh nhận ơn thánh hóa, chúng ta không thể ngồi khoanh tay rồi cứ tin mình sẽ được cứu rỗi. Thiên Chúa kêu gọi mỗi người chúng ta hãy chứng tỏ lòng mình yêu mến Ngài bằng sự trưởng thành trong đời sống cầu nguyện và làm việc lành. Một cách quan trọng nhất để tỏ lòng chúng ta yêu mến Chúa là sống các nhân đức.

Như đã học ở chương trước, nhân đức là một khả năng thường xuyên chúng ta có, nhờ đó có thể lập làm điều lành và tránh điều dữ. Đức tin, cậy và mến là ba nhân đức siêu nhiên Thiên Chúa ban cho chúng ta. Có những nhân đức khác cần phải tập luyện mới đạt được. Bốn nhân đức chính là khôn ngoan, công bình, tiết độ và sức mạnh. Những nhân đức này được gọi là những nhân đức chính yếu vì tất cả mọi hành động tốt của chúng ta đều tùy thuộc vào chúng. Bốn năng lực này là nền tảng của đời sống tốt lành. Nhờ tập luyện nó, chúng ta trở nên nhân đức và được mạnh mẽ để làm những việc lớn vì lòng mến Chúa và thương người.

Nhân Đức Khôn Ngoan

Đức Khôn Ngoan là khả năng biết lựa chọn những điều đúng trong đời sống. Nhiểu lần chúng ta bị đặt trong những hoàn cảnh kó khăn. Chúng ta không biết chắc Chúa Giêsu sẽ xử sự thế nào nếu phải ở trong địc vị của chúng ta. Lúc ấy, đức khôn ngoan sẽ chỉ cho chúng ta con đường phải đi; nó sẽ nói cho chúng ta phải làm gì để trung thành với Chúa Giêsu.

Thánh Maria Goretti là một cô gái đồng quê, 12 tuổi, sống gần thủ đô Rôma. Vào một ngày mùa hè, tháng 7 năm 1903, cô bị một thanh niên giết chết. Chàng này muốn cô Maria phạm tội mất đức trinh khiết với anh ta; anh đã chĩa một con dao vào cô và sẵn sàng giết nếu cô từ chối. Đức khôn ngoan nói cho cô Maria hiểu điều phải làm là kêu la cầu cứu và trong lúc ấy tìm cách tẩu thoát khỏi tay ác thần. Cô Maria hiểu rõ ràng làm như thế có thể bị giết chết, nhưng cô cũng biết rằng phạm tội trọng còn là tội nặng nề hơn nữa. Khi Maria bị đâm, không một ai đã nghe tiếng cô la kêu cầu cứu. Sáng ngày hôm sau, cô đã tắt thở sau khi đã tha thứ và cầu nguyện cho kẻ giết mình. Ngày nay, Maria được tôn kính trên cả thế giới như một thánh tử đạo vì đức trinh khiết. Đức khôn ngoan chỉ cho cô con đường đúng phải đi, con đường dẫn về Thiên Đàng.

Nhân Đức Công Bình

Đức Công Bình là nhân đức giúp ta sống lương thiện bằng cách tôn trọng quyền lợi của kẻ khác. Người công bình trả cho mọi người điều họ đáng được. Đối với Chúa, người công bình dâng lên Ngài sự thờ phượng; đối với ch mẹ, họ biết cung kính và vâng lời; đối với bạn bè, họ yêu thương và trung tín. Chúa Giêsu nói về nhân đức công bình như sau: “Hãy đối xử với kẻ khác giống như con muốn người ta đối xử với con.” (Mt 7:12)

Người bất công chỉ nghĩ đến những nhu cầu và ham muốn của mình. Pontiô Philatô, trấn thủ Rôma tại Palestine, đã bất công đối xử với Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu bị đưa ra để ông ta xử, ông biết là Chúa Giêsu vô tội; nhưng ông cũng biết rằng các thủ lãnh Do Thái muốn Chúa Giêsu phải chết; và nếu ông không chiều theo ý họ, thì sự nghiệp chính trị của ông sẽ bị tiêu tan. Vì chỉ nghị đến mình, Philatô đã kết án Chúa Giêsu phải chịu chết trên thập giá. Ông đã làm theo những ham muốn sai trái của đám đông thay vì phải xử sự theo đúng sự thật.

Nhân Đức Tiết Độ

Đức Tiết Độ là nămg lực tự kiềm chế chính mình. Chúng ta thường chỉ nghĩ tới nhân đức này khi nói đến việc ăn uống. Nhưng đức tiết độ giúp chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Thánh Đôminicô Saviô là một em thiếu niên người Ý, sống vào nửa thế kỷ 18. Đominicô học tại trường trung học Công giáo và trở thành một học sinh được mọi người yêu quí. Học sinh nào cũng muốn gần Đôminicô, vì em luôn vui tươi và tốt bụng. Đôminicô chết năm 15 tuổi sau một cơn bệnh đau đớn. Người ta khám phá ra ở Đôminicô một bí quyết lớn lao: Em đã hứa với Chúa là sẽ không bao giớ phạm một tội trọng!

Cha giải tội của Đôminicô kể rằng em đã giữ được lời hứa đó, và các bạn học sinh của em đã hỏi làm sao Đominicô có thể làm được như vậy. Các bạn em đều có kinh nghiêïm về việc làm việc lành và tránh việc dữ thì rất khó. Do tiết lộ của cha giải tội, các bạn Đominicô biết được những việc Đominicô làm được là nhờ đức tiết độ. Đominicô không bao giờ ăn uống thái quá hay làm việc thái quá. Do chủ đợng được những nhu cầu thể xác của mình mà Đominicô biết làm chủ những ham muốn ích kỷ của mình nữa.

Nhân Đức Sức Mạnh

Đức Sức Mạnh là nhân đức giúp chúng ta đương đầu mọi khó khăn hay nguy hiểm vơí một tâm hồn bình an và can đảm. Nó giúp chúng ta thi hành bổn phận của mình cho dù phải chịu đựng những hy sinh và đau khổ lớn lao.

Các thánh tử đạo của Giáo hội đã tỏ ra mạnh mẽ khi các ngài chọn sống trung thành với Chúa Giêsu, dù phải bị ném cho sư tử ăn hay bị giết bằng nhiều cách rợn rùng khác. Ơn sức kmạnh không làm các trở ngại hóa ra dễ dàng hay cất đi nỗi sợ sệt nơi họ, nhưng củng cổ để họ có thể làm những gì là đúng vơí bất cứ giá nào.

Chúng ta cần biết về một vị thánh tử đạo còn rất trẻ: Thánh Pancras. Ngài chết vào lúc mới 14 tuổi trong năm 304. Pancras là một thiếu niên rất đẹp trai và khỏe mạnh, luôn thắng các thiếu niên khác trong những trận đô vật. Một hôm Pancras thắng một thiếu niên ngoại đạo, người này rất tự phụ tự đắc. Để trả thù, hắn đi tố với hoàng đế rằng Pancras là người Công giáo. Thời đó, đạo Công giáo bị luật Rôma cấm đoàn.

Hoàng đế là bạn thân của cha Pancras (người cha này đã qua đời), nên muốn tha cho Pancras. Ông cố gắng làm mọi cách cho Pancras thay đổi ý . Hoàng đế nói: “Con chỉ cần dâng vài lời cầu nguyện với các thần của ta, và ta sẽ ban cho quyền bính trong đế quốc ta.” Tuy Pancras sợ chết lắm, nhưng em không thể chối Chúa Giêsu. Pancras đáp lại: “Nhờ phép rửa tội, tôi đã nên con Thiên Chúa. Tôi không bao giờ từ chối Chúa Giêsu, cho dù có được cả một đế quốc.”

Thế là Pancras đã bị xử tử hình. Em đã tỏ ra can đảm biết bao khi bị điệu qua các đường phố như một một tên trọng tội. Em đã không hề kêu la khi quân lính đánh đòn, và không hề đổi ý khi nghe dân chúng chế nhạo. Trái lại, Pancras đã nghĩ đến Chúa Giêsu đang bị điệu qua các ngả đường Giêrusalem đến nơi Ngài bị đóng đinh. Trước khi Pancras bị một lưõi gươm chém đầu, em đọc lời kinh này chứng tỏ sự bình an trong tâm hồn và sức mạnh em có:

Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa về đau lhổ con sắp lãnh nhận. Con chấp nhận đau khổ này với lòng hân hoan, vì biết rằng cái chết của con sẽ đưa con về Thiên Đàng để ở với Chúa mãi mãi. Lạy Chúa Giêsu, xin cứ những kẻ sắp giết con!

Chúng ta không cần phải tử đạo mới thực hành được đức sức mạnh như thế. Chúng ta phải mạnh mẽ để cố gắng sống đời sống Kitô hữu giữa thế gian này, vì thế gian này không hiểu nhiều về đời sống thánh thiện của chúng ta. Tất cả chúng ta phải trung thành với Chúa Giêsu khi các bạn đồng lớp muốn chúng ta trốn ra ngoài uống rượu hay làm những gì khác là sai quấy đối với một thiếu niên. Và mỗi người có thể có bình an và niềm vui như thánh Pancras vì đã yêu mến Chúa Giêsu hơn bất cứ những gì khác.

Việc Thực Hành Làm chúng ta nên Hoàn Thiện

Tất cả chúng ta đều phải đối diện với cuộc đời những lần cần đến sự khôn ngoan, công bình, tiết độ và can đảm. Nên cần phải tập luyện những nhân đức ấy ngay từ bây giờ, nếu không sẽ không có được khi cần đến. Cha xứ của bạn có thể chỉ cho bạn phương cách để thực hành; hãy hỏi ngài trong lần tới bạn xưng tội.

Sống đời sống nhân đức chúng ta sẽ có hạnh phúc. Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta về hạnh phúc trong Bài Giảng Trên Núi của Ngài khi Ngài hứa điều này với những ai sống đời Kitô hữ. Đời sống này được tóm lại trong Tám Mối Phúc Thật:

Phúc cho ai có lòng nghèo khó, vì nước trời là của họ

Phúc cho ai buồn phiền vì họ sẽ được an ủi

Phúc cho ai hiền lành vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp

Phúc cho ai đói khát công chính vì họ sẽ được no thỏa

Phúc cho ai có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương

Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa

Phúc cho ai tác tạo hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

Phúc cho ai bị bắt bớ vì lẽ công chính vì Nước Trời là của họ

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Các nhân đức chính yếu - Đức Khôn ngoan - Đức Công bình - Đức tiết độ - Đức sức mạnh - Tám mối phúc thật

SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Nhân đức luân lý là gì?

Nhân đức luân lý là một thói quen làm tốt đạt được nhờ làm những việc tốt thường xuyên.

2.         Những nhân đức luân lý chính là gì?

Đó là: Đức đạo đức, nhờ đó có thể dâng lên Thiên Chúa tâm tình thờ phượng; và bốn nhân đức chính yếu: khôn ngoan, công bình, tiết độ và sức mạnh, nhờ đó có thể sống đời sống công chính.

3.         Tại sao gọi chúng là các nhân đức chính?

Vì chúng giống như bản lề nâng đỡ các nhân đức khác.

4.         Đức Khôn ngoan là gì?

Đức khôn ngoan là nhân đức điều khiển việc làm đúng theo mục đích của nó và cho khả năng phân biệt và biết dùng những phương thế tốt để đạt tới mục đích ấy.

5.         Đức công bình là gì?

Đức công bình là nhân đức trả lại cho mỗi người những gì thuộc về mình.

6.         Đức sức mạnh là gì?

Đức sức mạnh là nhân đức giúp ta đương đầu không liều lĩnh hay sợ sệt bất cứ khó khăn hay nguy hiểm nào, kể cả sự chết vì phụng sự Chúa và ích lợi tha nhân.

7.         Nhân đức tiết độ là gì?

Đức tiết độ là nhân đức kiểm hãm những dục vọng và ham muốn của chúng ta, nhất là những dục vọng xác thịt. Nó giúp con người biết sử dụng chừng mực những của cái và nhu cầu thuộc về thể xác.

8.         Dục vọng là gì?

Dục vọng là những cảm xúc hay những thúc đẩy của linh hồn đưa con người đến tật xấu và rất thường đưa đến tội lỡi, nếu không được lý trí chế ngự.

9.         Tật xấu là gì?

Tật xấu là một thói quen làm điều xấu; có tật xấu là vì thường xuyên làm những hành động xấu.

10.       Những tật xấu chính là gì?

Đó là 7 mối tội đầu. Gọi như vậy vì chúng là gốc của mọi tật xấu và tội lỗi khác. Bảy mối tội đầu là: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và lười biếng.

11.       Những đức nghịch lại những tật xấu là gì?

Đó là khiêm nhường, đại độ, thanh tịnh, nhẫn nại, điều độ, thương người, và siêng năng làm những việc cho Chúa.

12.       Chúa Giêsu có khuyên chúng ta thực hành những nhân đức luân lý cách riêng không?

Thưa Ngài khuyên thực hành vài nhân đức luân lý cách riêng gồm trong 8 mối phúc thật, và Ngài nói ai đem những điều ấy ra thực hành thì là người có phúc.

***************************************************************

BÀI 7:   BẢY BÍ TÍCH

Ađam và Eva đã làm mất ân sủng cho tất cả nhân loại và bất tuân lệnh Chúa. Thiên Chúa sai Con Một của Người để đem ân sủng lại cho gian trần. Bằng cách nào? Bằng cách chết trên thập giá như hy lễ đền tội loài người, một hy lễ được Chúa chấp nhận. Vì Người đã cho Chúa Giêsu sống lại từ kẻ chết.

Nhưng một câu hỏi được đặt ra ở đây: Làm thế nào mà Chúa Giêsu trù liệu ban ơn thánh cho ta, cho từng người sẽ sinh ra? Tân ước và Truyền thống cho ta câu trả lời: Chúa Giêsu đã ban cho ta bảy Bí Tích như những phương tiện để lãnh nhận ơn thánh của Chúa.

 

Bí Tích là Gì?

Các Bí tích là bảy dấu hiệu hữu hình, hoặc bảy nghi thức do Chúa Kitô lập ra để ban cho ta ơn thánh. Không thể nghĩ đây là những nghi thức tà thuật để ban ơn thánh tựa như một máy bán nước ngọt. Các Bí Tích là những nghi thức thánh Chúa Giêsu dùng để kêu gọi chúng ta lãnh nhận tình yêu và sự tha thứ của Ngài, để lơn lên trong sự liên kết với Ngài và vơí toàn thể Giáo Hội, với các anh chị em của chúng ta trong Chúa Kitô.

Mỗi Bí tích có những từ ngữ hoặc động tác đặc biệt mang một sứ điệp cho chúng ta. Tất cả chúng ta đã quen thuộc với các dấu hiệu được dùng để chuyển sứ điệp cho con người. Ví dụ, khi thấy là cớ của một nước, ta biết nó là biểu hiệu cho nước ấy. Ai cũng hiểu nụ cưới là dấu hiệu của sự vui mừng, còn nước mắt thường là dấu hiệu của ưu phiền. Lời nói là những dấu bằng lời. Vì dụ, khi tôi nói chữ chó với bạn, bạn hiểu ngay đó là một sứ điệp về một con vật có bốn chân có lông và biết sủa.

Các Dấu Hiệu Của Các Bí Tích

Các dấu hiệu của các Bí tích cũng mang lại cho chúng ta những sứ điệp riêng biệt. Ví dụ, dấu của Bí tích Rửa tội cho ta biết một người nào đó đã được giải thoát khỏi tội nguyên tổ và được trở nên con Thiên Chúa. Dấu của phép Thánh Thể cho biết bánh và rượu trở nện Mình và Máu Chúa Kitô. Một khi biết được các dấu chỉ là gì, thì cũng dễ hiểu những gì mỗi Bí tích mang lại cho linh hồn chúng ta.

Nhưng với những dấu thông thường của nhân loại, các Bí tích nhận lãnh quyền năng từ Chúa Giêsu để làm điều mà các bí tích bảo ta thi hành. Điều này có vẻ rắc rối, vậy ta hãy để mắt quan sát thêm chút nữa. Hãy nhìn tấm bảnh dừng lại. Mỗi khi thấy nó có chữ dừng lại màu đỏ, là ta dừng lại ở ngã tư đường, vì đó là điều tấm bảng nhắc ta phải làm. Nhưng bảng ấy không có năng lực làm ta dừng lại; chúng ta phải tự mình làm điều đó. Vậy nếu tấm bảng dừng lại có năng lực của một bí tích, thì nó có khả năng làm ta phải dừng lại mỗi khi ta thấy bảng ấy.

Điều này khó hiểu vì các Bí tích là những mầu nhiệm đức tin, giống như mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô. Chúng ta chấp nhận và tin vững vàng vào các mầu nhiệm ấy vì Thiên Chúa đã mạc khải các điều ấy cho ta. Môät trong những danh hiệu cựu trào nhất để chỉ các bí tích (mà hiện nay còn dùng trong Thánh Lễ) đó là Những Mầu Nhiệm Thánh.

Vậy khi linh mục cử hành các dấu hiệu của bí tích, thì sứ điệp mà các bí tích ấy muốn nói ra, cũng được thực hiện. Víù dụ, khi linh mục đọc lời này: Này là Mình Thầy,.. . Này là chén máu Thầy. . . trên bánh và rượu trong Thánh Lễ, thì bánh và rượu trở thành thịt và máu Chúa Giêsu, vì Ngài ban cho linh mục quyền năng để làm việc này. Đây là bảng sẽ giúp ta học về chất liệu và mô thức của bí tích.

Rửa Tội

Vừa đổ nước vừa nói: Tôi rửa anh (chị...) nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Thêm Sức

Đức Giám Mục đặt tay trên người chịu phép Thêm Sức và xức dầu thánh, rồi đọc những lời này: Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần.

Thánh Thể

Trên của lễ bánh và rượu linh mục đọc: Này là Mình Ta. . . Này là chén màu Ta. . .

Giao Hòa (Giải Tội)

Xưng các tội ra với linh mục. Sau đó, linh mục đọc lời này: Tôi tha tội cho anh (chị...) nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen

Xức Dầu Bệnh Nhân

Xức dầu cho bệnh nhân và đọc: Nhờ việc xức dầu than1h này và nhờ ơn Chúa Thánh Thần, xin Chúa nhân từ chữa (anh...) Amen. Xin Chúa giải thoát ... khỏi mọi tội lỗi, cứu chữa và làm cho ... thuyên giảm. Amen

Truyền Chức Thánh

Đức Giám Mục giờ tay lên và đọc: Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa ban chưc linh mục cho...tôi tớ Chúa đây. Xin cũng ban Chúa Thánh Thần thánh hóa trong lòng họ. Lạy Thiên Chúa, xin ban cho họ được lãnh nhận nơi Chúa chức thứ nhì của phẩm trật; và cho đời sống của họ nêu gương sáng bằng cách ăn ở đứng đắn.

Hôn Phối

Sự trao đổi lời thề kết hôn giữa người Kitô hữ nam và người Kitô hữu nữ.

Ân Sủng do Bí Tích

Ngoài việc ban cho ta ơn thánh hóa, các bí tích còn ban cho ta một ơn đặc biệt giúp ta trên hành trình tiền về quê trời. Ơn ấy gọi là ơn bí tích. Ơn này giúp ta nhiều cách khác nhau, tùy bí tích nào là nguồn phát xuất. Bảng vẽ sau đây giúp ta hiểu các ơn bí tích ban cho.

Rửa tội

Ban cho ta ơn sống một đời sống thánh thiện.

Thêm sức

Ban cho ta được mạnh mẽ trong đức tin và trung thành với Chúa Giêsu trên hành trình về quê trời.

Thánh Thể

Ban cho ta ơn yêu mến Chúa Giêsu với cả tâm hồn và yêu thương tha nhân như chính mình.

Giao hòa

Ban cho ta ơn vượt qua các ham muốn tội lỗu và các hành động tội lỗi nữa.

Xức dầu

Ban cho ta ơn biết chấp nhận bệnh tật và được ơn chết lành

Chức thánh

Ban cho linh mục sống đời sống tốt lành, nhiệt thành rao giảng Tin Mừng và cử hành các bí tích.

Hôn Phối

Ban cho đôi vợ chông ơn yêu nhau cho đến khi chết và ơn trở nên cha mẹ tốt lành.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Các bí tích - dấu - Những mầu nhiệm thánh - ơn bí tích

SINH HOẠT

Câu hỏi

1.         Bí tích là gì?

Bí tích là những dấu hiệu để ban ơn thánh hóa, do Chúa Kitô thành lập để giúp ta nên thánh.

2.         Tại sao các bí tích là những dấu hiệu ban ơn thánh?

Bởi vì trong những phương diện của các bí tích mà ta nhận thấy được với quan năng của mình diễn tả hay bày tỏ ơn vô hình mà chúng thông chuyển đến. Chúng là những dấu hữu hiệu ban ơn thánh vì vừa diễn tả ơn thánh, vừa thông ban ơn thánh cho linh hồn.

3.         Các bí tích ban những loại ơn thánh nào?

Các bí tích ban ơn thánh hóa và ơn bí tích.

4.         Ơn bí tích là gì?

Ơn bí tích là quyền được những ơn đặc biệt cần thiết để giúp ta chu toàn mục đích riêng của bí tích.

5.         Ai cho bí tích khả năng ban ơn thánh?

Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, đã ban cho các bí tích khả năng thông ban ơn thánh, ơn mà chính Người đã đạt được cho ta nhờ cuộc chịu nạn và chịu chết của Người.

6.         Các bí tích làm ta nên thánh bằng cách nào?

Các bí tích làm ta nên thánh bằng cách ban cho ta ơn thánh hóa đầu tiên, làm ta sạch mọi tội lỗi, hoặc gia tăng ơn thánh hóa mà chúng ta đã có rồi.

7.         Những bí tích nào ban ơn thánh đầu tiên?

Ơn thánh đầu tiên được ban cho ta bởi b í tích rửa tội và giải tội. Do đó, các bí tích này được gọi là bí tích kẻ chết, vì chúng ba sự sống cho linh hồn đã chết vì tội lỗi.

8.         Những bí tích nào gia tăng ơn thánh hóa?

Đó là Bí tích Thêm sức, Thánh Thể, Xức dầu bệnh nhân, Truyền chức thánh và Hôn phối. Chúng được gọi là những bí tích kẻ sống, vì khi lãnh những bí tích này, chúng ta phải có sự sống thiêng liêng trong linh hồn mình nhờ ơn thánh Chúa.

9.         Ta phải làm gì để bảo tồn ơn của các bí tích?

Phải cộng tác bằng cách sống của mình, làm điều tốt và xa tránh điều xấu.

10.       Muốn có một bí tích thì cần những gì?

Phải cần 3 điều: Chất liệu của bí tích - mô thức của bí tích - thừa tác viên của bí tích. Người này phải có ý làm như ý Giáo hội muốn.

11.       Chất liệu của bí tích là gì?

Chất liệy của bí tích là yếu tố hữu hình làm nên một thành phần của bí tích, chẳng hạn nước trong bí tích rửa tội.

12.       Mô thức của bí tích là gì?

Mô thức của bí tích là lời mà thừa tác viên phải đọc trong lúc sử dụng chất liệu của bí tích.

13.       Ai là thừa tác viên của bí tích?

Thừa tác viên của bí tích là người có năng quyền để ban bí tích nhân danh Chúa Giêsu Kitô và bởi quyền hành của Ngài.

********************************************************

BÀI 8: THIÊN CHÚA KÊU GỌI TA VỀ GIAO HÒA VỚI NGƯỜI

Trong thơ gửi tín hữu Rôma, Thánh Phaolô nói rằng cả nhân loại đã lìa xa khỏi Chúa vì tội nguyên thủy của Ađam. Nhưng trong đoạn sau ngài tiếp rằng sự xa lìa đã chấm dứt nhờ Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế của chúng ta.

Chính trong điều này mà Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta: trong khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi, Đưc Kitô chết vì chúng ta.. .Chúng ta được giao hòa lại với Ngài nhờ sự chết của Con Ngài. (Rm 5:8,10)

Sự giao hòa này, hay sự kết hiệp, của nhân loại lại với Chúa trong tình bằng hữu yêu đương, được gọi là Tin Mừng Cứu Độ cho chúng ta. Cho dù loài người đã quay lưng lại Chúa vì bất tuân, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta vì muốn chúng ta được kết hiệp lại với Ngài. Tình yêu của Ngài lớn lao đến nỗi đã sai Con Một đến trần gian hầu cho ta ơn tha thứ và sự sống mới, và kêu gọi mỗi người trong chúng ta giao hòa lại với Ngài: Phải, Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài hầu ai tin Con Ngài sẽ không chết nhưng có sự sống đời đời. (Jn 3:16)

Thiên Chúa kêu Gọi Ta qua Trung Gian Giáo Hội Của Ngài

Lời gọi về giao hòa với Chúa đến với chúng ta qua trung gian giáo hội mà Chúa Giêsu đã thành lập để nên tiếng nói của Người ở trần gian. Qua Giáo hội, Thiên Chúa mời chúng ta đáp ứng lại lời mời gọi của Ngài bằng việc lãnh nhận bí tích Rửa tội. Lúc chịu phép Rửa tội, chúng ta được giải thoát khỏi sự xa cách đã do tội nguyên tổ gây nên, và ta được trở về sống trong tình nghĩa vời Thiên Chúa.

Khi những người trưởng thành chịu Rửa tội là họ ý thức được tiếng gọi của Chúa. Đa số chúng ta chịu rửa tội khi còn rất nhỏ; tuy nhiên, cha mẹ chúng ta đã đáp lời gọi của Chúa thay cho chúng ta. Bây giờ khôn lớn, chúng ta đủ ý thức tự mình đáp lại lời Chúa. Chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa đòi hỏi mình nhận lãnh tình bằng hữu của Ngài qua Chúa Kitô và Giáo Hội.

Chúa Giêsu ban cho chúng ta Bí Tích Rửa tội

Một buổi tối, một người tên là Nicôđêmô đến nói chuyện với Chúa Giêsu. Ông là môn đồ thầm kín của Chúa Giêsu, và muốn hiểu rõ hơn về giáo huấn của Ngài. Trong lúc đàm đạo, Chúa Giêsu đã nói với Nicôđêmô rằng Rửa tội là điều cần thiết cho tất cả những ai muốn vào Nước Trời, Ngài nói: “Tôi nói thật với ông, không ai có thể vào Nước Chúa mà không được tái sinh bởi nước và Thánh Thần.” (Jn 3:5)

Để có thể được tái sinh thiêng liêng, Chúa Giêsu ban cho Bí Tích Rửa tội. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ rằng:

“Các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, than h tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” (Mt 28:19)

Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã rao giảng về sự quan trọng của Bí Tích Rửa tội cho dân chúng thành Giêrusalem. Ngay chính ngày Lễ Hiện Xuống đầu tiên đó, Thánh Phêrô tuyên bố cho dân chúng rằng:

“Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu thanh tẩy, nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha thứ tội lỗi, và các người sẽ được lãnh ơn Thánh Thần.”(Cv. 2:38)

Qua lời rao giảng của các tông đồ, hàng ngàn người đã đáp ứng lời gọi của Thiên Chúa về giao hòa và lãnh nhận bí tích Rửa tội. Đàn ông, đàn bà và trẻ em từ mọi quốc gia trở về với Chúa và trở nên những chi thể của Giáo Hội Người.

Những Hiệu Qủa của Bí Tích Rửa Tội

Phép Rửa tội là bí tích thứ nhất chúng ta lãnh nhận. Bí tích này chỉ lãnh nhận một lần thôi vì nó cho ta một dấu không thể lập lại gọi là Ấn Tín Rửa Tội. Ấ tín vô hình này chứng tỏ cho Chúa rằng chúng ta được kết hiệp với Chúa Giêsu nhờ Phép Rửa Tội và chúng ta đã trở nên dưỡng tử của Chúa. Ấn tín này không bao giờ bị xóa nhòa được, cho dù bởi tội trọng. Chúng ta cũng nhận lãnh trước hết Bí Tích Rửa Tội, vì bi tích này cho ta quyền lãnh nhận các bí tích khác.

Tuy Chúa Giêsu không cần lãnh nhận phép thanh tẩy, vì Ngài không có tội, chúng ta có thể tìm hiểu xem bí tích này làm gì cho ta, khi nhìn đến phép rửa mà Chúa Giêsu chịu ở bờ sông Giođan. Phép rửa mà thánh Gioan Tẩy giả ban là một cách giúp những kẻ khác tỏ lòng thống hối tội lỗi của họ.

Chữ Rửa tội có nghĩa rửa, thanh tẩy. Chữ này nhắc chúng ta rằng nhờ phép Rửa Tội, Chúa rửa sạch các hậu qủa tội nguyên tổ khỏi linh hồn ta Nếu một người chịu phép rửa tội đã lớn tuổi, và chắc chắn đã có tội, thì bí tích này sẽ rửa hết mọi tội lỗi, kể cả phần phạt do tội gây ra.

Khi Chúa Giêsu ra khỏi nước, Chúa Thánh Thần xuống trên Ngài dưới dạng một chim bồ câu. Chúa Thánh Thần cũng xuống trên chúng ta nữa và đổ tràn lòng chúng ta sự sống mới của ơn thánh hóa. Chúng ta trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần như Thánh Phaolô đã nói trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô: Anh em phải biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần, Ngài ở trong anh em, Thánh Thần mà anh em đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. (1 Cor 6:9)

Khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu, dân chúng nghe tiếng của Chúa Cha phán: Ngài là Con chí ái Ta, kẻ Ta đã sủng mộ. (Mt 3:17)

Lúc chúng chịu rửa tội, chúng ta trỡ nên những người con được Thiên Chúa Cha yêu thương. Ơn thánh hóa ban cho ân huệ quí báu này. Và vì chúng ta là con cái Ngài, chúng ta cũng lãnh nhận quyền được sống trong Nước Thiên Chúa. Ngài ban cho chúng ta những năng lực siêu nhiên về đức tin, đức cậy và đức mến. Giúp sống xứng đáng hơn với Nước Trời.

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Sự giao hòa - Ấn tín rửa tội - Rửa tội bằng lòng muốn - Rửa tội bằng máu

SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Phép Rửa tội là gì?

Phép rửa tội là Bí tích làm cho ta trở nên người Kitô hữu, nghĩa là, những kẻ theo Chúa Giêsu Kitô, là con cái Thiên Chúa và là những chi thể của Giáo hội.

2.         Chất liệu của Bí tích rửa tội là gì?

Chất liệu của Bí tích Rửa tội là nước thiên nhiên.

3.         Mô thức của Bí tích Rửa tội là gì?

Là những lời sau đây: Tôi rửa (...), nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

4.         Ai là thừa tác viên của Bí tích Rửa tội?

Thông thường là linh mục. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, ai cũng có thể làm được, kể cả những người lạc đạo, miễn là họ có ý làm như Giáo hội muốn.

5.         Rửa tội cách thế nào?

Bằng cách đổ nước trên đầu người chịu rửa tội cùng lúc đọc lời mô thức.

6.         Những hiệu qủa của Bí tích Rửa tội là gì?

Bí tích rửa tội ban ơn thánh hóa lần đầu và các nhân đức siêu nhiên, xóa hết tội nguyên tổ và cả tội riêng đã phạm, cùng với tất cả hình phạt mà người lãnh bí tích còn nợ do các tội xưa. Thêm nữa, bí tích Rửa tội ghi một ấn tích trong linh hồn và làm cho linh hồn có khả năng lãnh nhận các bí tích khác.

7.         Bí tích rửa tội có thay đổi gì trong ta không?

Có, bí tích rửa tội biến con người cách thiêng liêng, làm cho họ như một người mới sinh lại, và thành một người mói. Do đó, lúc rửa tội, chúng ta được đặt thêm một tên thích hợp, tên một vị thánh, người làm gương mẫu cho đời chúng ta và bảo vệ đời sống Kitô hữu của chúng ta.

8.         Nếu bí tích rửa tội là điều cần thiết cho mọi người, vậy nếu không lãnh nhận bí tích rửa tội, người ta có được cứu rỗi không?

Không chịu bí tích rửa tội, không ai có thể được cứu thoát. Tuy nhiên, khi không chịu bí tích rửa tội bằng nước, thì phép rửa tội bằng máu cũng đủ, nghĩa là chịu hy sinh mạng sống vì Chúa Giêsu Kitô; và phép rửa tội bằng lòng muốn cũng đủ, đó là lòng mến Chúa do đức ái, ao ước được sử dụng phương thế cứu độ mà Chúa đã thiết lập.

9.         Những bí nào chỉ được lãnh nhận một lần thôi?

Đó là Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức thánh.

10.       Tại sao ba bí tích ấy chỉ được lãnh nhận một lần thôi?

Vì ba bí tích ấy ghi một ấn tín vĩnh viễn trong linh hồn. Làm người lãnh nhận được hiến thánh vĩnh viễn cho Chúa Kitô. Sự hiến thánh ấy làm cho người lãnh nhận khác biệt với những ai không nhận lãnh.

11.       Ấn tích là gì?

Ấn tích này in trên linh hồn là một dấu thiêng liêng đặc biệt không bao giờ tẩy xóa được.

12.       Những ấn tích mà phép Rửa tội, Thêm sức và Truyền chức thánh ghi trên linh hồn là gì?

Bí tích rửa tội ghi trên linh hồn là người Kitô hữu.

Bí tích Thêm sức ghi trên linh hồn là chiến sĩ Chúa Kitô.

Bí tích Truyền chức thánh ghi trên linh hồn làm thừa tác viên cho Chúa Kitô.

********************************************************

BÀI 9: BÍ TÍCH THÊM SỨC

Trong Bữa Tiệc ly, các tông đồ biềt rằng Chúa Giêsu đang nói lời từ biệt các ông. Ngài nói về một nơi Ngài sẽ đến mà các ông chưa có thể theo Ngài được (Jn 13:36) Chúa Giêsu biết điều ấy làm các ông rầu buồn, nên Ngài hứa sẽ gửi một Đấng đến an ủi và củng cố lòng tin của các ông.

Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng an ủi khác. . . để ở luôn với các con. . . Ngài sẽ ở trong các con. (Jn 14:16-17)

Chữ Paraclete có nghĩ là người giúp đỡ và hướng dẫn những người khác, một trạng sư. Thần khí sự thật là Ngôi Ba trong Thiên Chúa Ba ngôi, là Đấng phảo đến với càc kẻ theo Chúa Giêsu với tư cách là một cố vấn, để ban sức mạnh nội tâm và giúp cho tình bạn hữu giữa họ với Chúa Giêsu luôn còn sống và hoạt động. Ngài sẽ ban cho họ tất cả sự giúp đỡ thiêng liêng cần thiết hầu truyền bá đức tin cho những người khác.

Lời Hứa Đã Nên Trọn

Sau khi Chúa Giêsu trở về với Chúa Cha, các tông đồ và những môn đệ khác của Chúa Giêsu đã sống 9 ngày với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, trong sự cầu nguyện, xin Chúa gởi đến qùa Chúa Thánh Thần. Ngày Chúa Nhật Hiện Xuống, lời hứa đã thực hiện như Thánh Luca kể:

Khi đến Lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu một nơi; bỗng xẩy đến từ trời một tiềng rào rào như thể do cuồng phong thổi đến, vang dậy cả nhà, nơi họ đang ngồi. Và họ thấy những lưỡi như thể là lửa phân tán dần dần mà đậu trên đầu mỗi người trong họ. Và hết thảy họ được đầy Thánh Thần và bắt đầu nói những thứ tiếng lạ, tùy theo Thần Khí ban cho họ nói. (CVSĐ 2:1-4)

Những biểu hiệu bất thường như gió và lửa bày tỏ những quyền năng mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta. Gió thì vô hình nhưng thật là một sức mạnh: nó có thể nâng bổng cả nhà cửa và xe cộ khỏi mặt đất! Lửa là thứ để tẩy rửa sự vật; ví dụ, đôi khi người ta dùng lửa để dọn sạch một đám đất đầy gai gốc và những vật dơ bần khác để những cây mới có thể mọc lên. Cũng vậy, Thần Linh cũng giống như một sức mạnh vô hình trong chúng ta và tẩy sạch cõi lòng tội lỗi và những ước muốn ích kỷ. Nói cách khác, Thần Linh làm chúng ta nên những Kitô hữu dũng mạnh và trưởng thành.

Chúng Ta Lãnh Nhận Sự Sung Mãn của Chúa Thánh Thần

Phép Rửa Tội ban cho chúng ta trước tiên Chúa Thánh Thần. Phép Thêm Sức gia tăng mãnh lực của Ngài trong chúng ta. Bí tích này làm vững mạnh sự sống mới mà chúng ta lãnh nhận khi còn trẻ. Bí tích này giúp chúng ta làm chứng nhân cho Chúa Giêsu hay đứng về phía Ngài, giữa các bạn bè và các bạn đồng lớp.

Tân ước không nói Chúa Giêsu đã ban cho Giáo Hội Bí tích này lúc nào, nhưng ngày Lễ Hiện Xuống thường được coi là Lễ Thâm Sức đầu tiên, và suốt cả sách Công Vụ Sứ Đồ, chúng ta thấy nhiều trường hợp các tông đồ làm phép Thêm Sức cho những người tân tòng. Khi những môn đệ của Chúa Giêsu rửa tội dân chúng, họ mời một trong những tông đồ đến để Thêm Sức cho những Kitô hữu tân tòng, vì thế thường thường giám mục là thừa tác viên của Bí tích này, tuy rằng ngài có thể ủy quyền cho các linh mục làm thế ngài.

Dấu của Bí tích Thêm Sức là việc đặt tay và xức dầu thánh. Việc đặt tay muốn nói rằng một ơn thiệng liêng đã được ban cho Kitô hữu, còn dầu thánh (christma) nhắc về sự tham dự của chúng ta vào ba sứ mạng của Chúa Giêsu, và đặt liên hệ giữa bí tích này với Bí tích Rửa tội. Lời Đức Giám mục đọc: Hãy nhận lấy ấn tín Chúa Thánh Thánh nói cho chúng ta biết ơn ấy được trao ban.

Những Hiệu Qủa của Bí Tích Thêm Sức

Cũng như Phép Rửa Tội, bí tích Thêm Sức ban cho chúng ta một ấn tín hay một dấu thiêng liêng, để chứng tỏ rằng chúng ta là Kitô hữu. Bí tích này đào sâu sự sống của ơn thánh hóa và tăng cường sự sống ấy trong chúng ta. Khi mới chịu bí tích Rửa tội, chúng ta còn là những trẻ con thiêng liêng, bây giờ thì thành những người trưởng thành thiêng liêng được trao pho trách nhiệm truyền bá đức tin cho người khác. Đó là ý nghõa đặc thù của Bí Tích Thêm Sức và sự dấn thân mà bí tích này đòi hỏi.

Để truyền bá đức tin, Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta những ơn đặc biệt mà chúng ta sẽ học trong những chương sau. Cũng như 12 tông đồ, chúng ta có thể biến đổi thật sự thành những người dũng cảm theo chân Chúa Giêsu, sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì lòng mến Chúa và chân lý đức tin.

Nghi Thức Thêm Sức

Bí tích này thường được cử hành trong Thánh Lễ đặc biệt kính Chúa Thánh Thần do Đức Giám Mục chủ tọa. Thánh Lễ này cũng giống như những thánh lễ khác, trừ những lời nguyện và bài đọc nói về vai trò Chúa Thánh Thần trong đời sống của Kitô hữu Công giáo. Bí tích thêm sức được cử hành sau bài giảng.

Trước hết, vì bí tích thêm sức là sự củng cố bí tích rửa tội, Đức GM mời mọi người tuyên xưng lại lời hứa khi chịu rửa tội. Một lần nữa, chúng ta từ bỏ tội lỗi và ma quỷ; và chúng ta tuyên xưng đức tin và lòng trung thành với Chúa Giêsu. Rồi đức Giám MuÏc dang tay trên những người sắp được thêm sức mà cầu nguyện rằng:

Lạy Thiên Chúa toàn năng, là Cha Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, bởi nước và Thánh Thần đã giải thoát những người con cái Chúa đây khỏi tội lỗi, và ban cho họ sự sống mới. Xin Chúa sai Thánh Thần Chúa xuống giúp sức và hướng dẫn, và ban cho họ thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và can đảm, thần trí suy biết và đạo đức. Xin ban cho những người con này đầy ơn kính sợ Chúa. Nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Sau đó, là đến phần thêm sức bằng cách xức dầu thánh và đặt tay. Mỗi ứng viên thêm sức cùng với người đỡ đầu, đến trước mặt đức GM. Đức GM nhúng ngón tay cái phải trong dầu thánh và xức lên trán người chịu thêm sức theo hình thánh giá và nói:

(Tên thánh người thêm sức) hãy nhận lấy ấn tín Chúa Thánh Thần

Người ấy thưa: Amen

ĐGM: Bình an của Chúa ở cùng con.

Đáp: Và ở cùng Cha.

Qua nghi thức thánh này, người chịu thêm sức nhận ấn tín của Chúa Thánh Thần và được tràn ân huệ đầy quyền năng của Ngài. (Dĩ nhiên muốn nhận ơn này cách hiệu qủa, phải ở trong tình trạng sạch tội trọng và với lòng tin tưởng vào Chúa khi đến lạnh nhận Thêm Sức). Sau đó, Thánh lễ tiếp tục như thường lệ; và cuối lễ sẽ có phúc lành đặc biệt cho những người chịu Thêm Sức.

Sống Như Những Kitô Hữu Trường Thành

Lời nguyện kết thúc lễ Kính Chúa Thánh Thần cho chúng ta thấy phải sống thế nào như những tín hữu trưởng thành của Chúa Kitô:

Lạy Thiên Chúa, Cha chúng con, xin hãy kiện toàn công việc mà Chúa đã khởi sự, và gìn giữ những ân huệ của Chúa Thánh Thần sống động trong lòng của dân Chúa. Xin ban cho họ sẵn sàng sống Tin Mừng và hăng hái làm theo ý Chúa. Ước gì họ không hổ thẹn mà rao truyền cho cả thế giới về Chúa Kitô đã chịu đóng đinh, đang sống và hiển trị muôn đời. Amen

Đây là một sứ mạng rất lớn cho người Kitô hữu trưởng thành! Nhưng Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta thực hiện được điều đó. Một cách Ngài dùng là cho chúng ta những gương lành của các thánh. Các thánh chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng mọi người, bất luận tuổi tác hay hoàn cảnh sinh sống, đều có thể sống Tin Mừng, làm theo ý Chúa và rao giảng về Chúa Giêsu cho tha nhân. Đó là lý do tại sao người chịu rửa tội và thêm sức có tên mới (tên thánh). Chúng ta được đặt dưới sự bảo trợ thiêng liêng của một trong những vị thánh của Chúa, mà chúng ta phải cầu xin người để người cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta, và khởi hứng thiêng liêng bằng gương sáng sống đạo của người. Người là thánh quan thầy của chúng ta.

 

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Đấng an ủi - Chứng nhân - Dấu của Bí Tích Thêm Sức - Thánh quan thầy

SINH HOẠT

Câu hỏi:

1.         Thêm sức là gỉ?

Thêm sức là một bí tích làm cho chúng ta trở nên những Kitô hữu hoàn toàn hơn và những chiến sĩ của Chúa Kitô.

2.         Chất liệu của Thêm sức là gì?

Chất liệu của Thêm sức là dầu thánh, nghĩa là dầu hòa với nhũ hương mà Đức GM làm phép ngày Thứ Năm Tuần Thánh.

 

3.       Mô thức của Thêm Sức là gì?

Mô thức của Thêm sức là những lới sau đây: Hãy nhận lấy ấn tín Chúa Thánh Thần.

4.       Ai là thừa tác viên ban Thêm Sức?

Thừa tác viên nguyên thủy và thường lệ là Đức Giám Mục. Tuy nhiên những năng quyền đặc biệt cũng được ban cho các linh mục như là những thừa tác viên đặc biệt.

5.         Đức GM ban Thêm Sức cách nào?

Đức GM giờ hai tay lên trên đầu người sắp chịu thêm sức và cầu khấn Chúa Thánh Thần. Rồi ngài xức trán từng người với dầu thánh theo hình thánh giá, vừa đọc lời của mô thức. Sau cùng, ngài ban phép lành đặc biệt trọng thể cho tất cả những người vừa chịu thêm sức.

6.         Bí tích Thêm sức làm chúng ta nên những Kitô hữu hoàn hảo hơn bằng cách nào?

Thêm sức làm chúng ta hoàn hảo hơn và nên những chứng nhân cho Chúa Kitô bằng cách ban cho chúng ta dồi dào ơn Thánh Thần, nghĩa là, dồi dào ân sủng và ơn huệ của Ngài. Những ơn huệ này củng cố chúng ta trong đức tin và trong các nhân đức khác, để chống lại địch thù thiêng liên của chúng ta.

7.         Người sắp chịu thêm sức phải chuẩn bị thế nào?

Họ phải có ơn thánh Chúa, và nếu đã khôn lớn, thì phải biết các nhiệm tích chính yếu của đức tin, để đón nhận bí tích thêm sức với lòng đạo đức sốt sắng, và ý thức sâu sắc về ý nghĩa của nghi lễ này.

8.         Dầu thánh nói lên ý nghĩa gì?

Dầu thánh, với dược tính là lan rộng và củng cố, nói lên ơn thánh dồi dào của phép Thêm Sức; và với nhũ hương, có mùi thơm ngọt và gìn giữ cho khỏi hư hỏng, nói lên hương vị thơm tho của các nhân đức mà người chịu xức dầu phải có, để tránh sự hư hỏng do tật xấu gây nên.

9.         Việc xức dầu thánh giá trên trán nói lên điều gì?

Việc ấy nói rằng người được thêm sức, với tư cách là một nhân chứng dũng cảm của Chúa Giêsu Kitô, phải sống ngay thẳng để không làm xấu hổ thánh giá, và không sợ những kẻ thù của đức tin.

10.       Ai là người đỡ đầu trong Bí tích Thêm Sức?

Họ phải là những Kitô hữu tốt, luôn làm gương sáng tốt cho những người chịu thêm sức và có thể giúp đỡ họ trong đời sống thiêng liêng.

********************************************************

BÀI 10: NHỮNG ƠN CHÚA THÁNH THẦN

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói về một ơn rất đặc biệt mà Ngài sẽ ban cho các môn đệ:

Ai yêu mến Ta thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. (Jn 4:2-3)

Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ đến ở trong những kẻ yêu mến Ngài và tuân giữ lệnh truyền của Ngài! Và ở đâu có Cha và Con, dĩ nhiên Chúa Thánh Thần cũng sẽ ở đó. Ơn huệ Chúa-ở-trong-ta, còn được gọi là sự cư ngụ của Chúa Ba Ngôi. Bao lâu chúng ta còn có ơn thánh hóa, Thiên Chúa sẽ còn cư ngụ trong linh hồn chúng ta. Thánh Phaolô viết về điểm này trong thư thứ nhất gửi cho giáo đoàn Corintô: “Anh em không biết sao, anh em là đền thờ của Thiên Chúa, và Thần Khí Thiên Chúa ngự trong anh em?... Đền thờ Thiên Chúa là vật thánh, và Đền Thờ ấy chính là anh em.” (1Cor 3:16-17)

Mầu nhiệm Thiên Chúa ở trong ta thường được Thánh Phaolô nhắc đến trong Tân Ước. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng sự hiện diện này làm chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa: Bằng chứng anh em là con cái vì Thiên Chúa đã sai Thần khí Con của Người vào lòng anh em, Thần khí kêu lên: Abba! (Lạy Cha) (Gal. 4:6)

Những Ơn Của Chúa Thánh Thần

Cùng với sự hiện diện của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần đem vào linh hồn chúng ta bảy ơn lúc chịu Bí Tích Thêm Sức. Các ơn này cũng là những quyền lực thiêng liêng đã đổ xuống trên Chúa Giêsu lúc Ngài bắt đầu rao giảng sứ mạng Tin Mừng Cứu Độ. Tiên Tri Isaia báo trước những ơn này 800 năm trước Chúa Giêsu giáng sinh.

Thần khí Giavê sẽ đậu trên Ngài (Đấng Messia)

Thần khí khôn ngoan và trí tuệ

Thần khí mưu lược và anh dũng

Thần khí hiểu biết và kính sợ Giavê

Ngài lấy làm vui thú trong sự kính sợ Giavê. (Is 11:23)

Ơn Khôn Ngoan

Giúp chúng ta nhìn thế gian chỉ là nơi tạm bợ và Thiên Đàng mới là quê thật. Ơn này giúp chúng ta để tâm vào những việc có giá trị cho đời sống như Thiên Chúa, nhân đức và cầu nguyện.

Ơn Thông Hiểu

Cho chúng ta cái nhìn sắc bén về những mầu nhiệm đức tin và giúp chúng ta giải thích đức tin cho kẻ khác.

Ơn Suy Biết

Giúp chúng ta thấy mọi sự trong cuộc sống liên hệ với Chúa và cuộc sống vĩnh cửu mai sau.

Ơn Lo Liệu

Giúp chúng ta làm những quyết định đúng ý Chúa cho đời sống của mình.

Ơn Can Đảm

Ban cho chúng ta vững mạnh để trung thành vơí Chúa Kitô ngay cả những lúc gian nan.

Ơn Đạo Đức

Cho chúng ta niềm phấn khởi để thờ phượng Chúa và yếu mến Ngài như Cha của mình.

Ơn Kính Sợ Chúa

Chỉ cho chúng ta thấy sự ghê tởm của tội lỗi và giúp chúng ta sống trong ơn thánh Chúa. Ơn này còn được gọi là ơn sinh ngạc nhiên và sợ hãi trước nhan Chúa vì nó nhắc chúng ta nhớ Thiên Chúa là Đấng cao cả và toàn năng.

Nhiều người tự hỏi họ có thật những ơn này không; họ có cảm tưởng là những ơn này không có trong đời sống họ. Có lẽ các tín hữu này đã coi các ơn ấy như một loại ảo thuật. Họ mong được sự xuất hiện ngay khi cần đến. Nhưng đó không phải là cách các ơn ấy làm việc trong chúng ta. Cũng như đức tin, đức cậy và đức mến, chúng ta phải luyện tập các cơ bắp thiệng liêng này thì mới có thể sử dụng chúng thế nào. Hãy thử cố nhớ thuộc lòng những ơn này, rồi xin Chúa giúp mình sử dụng khi cần đến. Chẳng hạn, nếu bạn bị cám dỗ rất mạnh muốn đi dự một dạ hội mà trong đó người ta sẽ sử dụng ma túy hoặc rượu mạnh, bạn hãy cầu xin ơn sức mạnh để giúp bạn thắng được cám dỗ ấy. Chúa Thánh Thần sẽ đáp lời cầu xin của bạn và sẽ chỉ cho bạn biết phải làm gì!

Những Hoa Quả của Chúa Thánh Thần

Chúng ta càng lớn lên trong đời sống cầu nguyện và trong việc sử dụng bảy ơn này, sẽ chứng kiến những kết quả chắc chắn xẩy ra trong đời sống chúng ta. Đó là những hoa quả của Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta thấy một cây trổ hoa và cho ra những trái thơm ngon, chúng ta biết đó là một cây tốt lành. Đời sống người tín hữu cũng vậy. Khi biết đời sống thiêng liêng của mình lành mạnh nếu nhận thấy những hoa quả trong sự liên hệ của ta với Chúa và vơí tha nhân.

Mười Hai Hoa Quả của Thánh Thần:

1.         Đức Mến: Yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân

2.         Vui vẻ:     Hạnh phúc sống đời Kitô hữu

3.         Bình an:   An tịnh tâm hồn, ngay cả khi gặp khó khăn

4.         Nhẫn nại:   Vui lòng chấp nhận những sai lầm của kẻ khác

5.         Tử tế:         Thông cảm và quan tâm tới nhu cầu kẻ khác

6.         Tốt lành:   Làm gương tốt trong mọi việc mình làm

7.         Tiết độ:     Có chừng mực trong những ham muốn vui chơi

8.         Hòa nhã:   Dịu dàng trong lời nói và việc làm đối với tha nhân

9.         Trung tín:   Trung thành với Chúa, và vơí những người mình có bổn phận chăm

                         lo, như cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè. . .

10.       Kiên trì chịu đựng: Nhẫn nại chịu đựng phi thường trước đau khổ

11.       Nết na:     Tự trọng và biết nhường nhịn tha nhân trong chuyện trò, và nết na

                       trong cách ăn mặc, cư xử. . .

12.       Thanh tịnh: Phong cách đứng đắn đối với tha nhân và biết tiết chế trong các

                      ham muốn dục tính.

Chúa Giêsu phán rằng chúng ta sẽ có những hoa quả đó của Thần Khí chỉ khi nào kết hợp với Ngài nhờ cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích. Ngài tự sánh mình như một thân nho đem nhựa sống lên tới các cành nho; nhựa sống la biểu tượng cho ơn thánh và quyền năng của Ngài.

Thầy là thân nho, các con là cành

Ai lưu lại trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy

Thì kẻ ấy sinh nhiều hoa quả

Vì ngoài Thầy, các con không thể làm gì được. (Jn 15:5)

NHỮNG CHỮ NÊN BIẾT

Sự cư ngụ - Bảy ơn - 12 hoa qủa của Chúa Thánh Thần

***********************************************************

 

BÀI 11: BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Một hôm, trong thời rao giảng công khai của Ngài, Chúa Giêsu đứng ở giữa đám đông hơn 5000 người. Họ đến để nghe Ngài giảng về Tin Mừng Cứu Độ. Lúc ấy đã đến giờ ăn chiều rồi, và dân chúng mệt lả. Nhìn họ, lòng đầy yêu mến, Ngài nói với các tông đồ của Ngài: Ta sẽ mua bánh ở đâu để cho họ ăn?

Chúa Giêsu biết rõ Ngài sắp làm gì, nhưng Ngài muốn thử lòng tin của các môn đồ vào Ngài. Philip mới thưa với Chúa Giêsu rằng muốn nuôi cả đám đông này ít là cũng hơn nửa năm tiền lương. Anđrê đem lại cho Chúa Giêsu năm tấm bánh và hai con cá khô, nhưng ngần ấy thấm vào đâu cho bấy nhiêu người. Chúa Giêsu làm phép các phần ăn nhỏ nhoi này và bảo các môn đồ đem phân phát cho dân chúng. Một phép lạ! Bánh chẳng những đủ mà còn dư 12 thúng đầy!

Chúa Giêsu, Bánh Ban Sự Sống

Dân chúng ngạc nhiên và muốn Chúa Giêsu làm thêm nữa. Họ nói, tại sao không ban bánh từ trời như Thiên Chúa xưa đã làm cho dân tộc chúng tôi trong lúc xuất hành. Chúa Giêsu tỏ cho họ biết sẽ cho dân Người một thứ bánh còn cao trọng hơn nhiều. Ngài muốn nói về Thánh Thể:

Chính Ta là Bánh Ban Sự Sống.

Cha ông các ngươi trong sa mạc đã ăn Manan và đã chết.

Bánh này mới là bánh bởi bởi trời xuống.

Ai ăn bánh này thì sẽ được sống đời đời.

Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt mình Ta vì sự sống thế gian. . .

Qủa thật Ta bảo các ngươi:

Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài,

Các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi.

Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời.

Và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết. (Jn 6:48-54)

Các người nghe kinh hoàng! Ăn thịt và uống máu Ngài! Ngài tưởng rằng chúng ta là những kẻ ăn thịt người chăng? Họ tự nhủ như vậy. Tuy đã thấy phép lạ cả thể, họ vẫn chưa tin tưởng đủ nơi Chúa Giêsu để hiểu rằng Ngài không đòi hỏi họ làm một điều như vậy. Ngài sẽ hóa bánh và rượu thành thịt và máu Ngài. Các thứ này vẫn còn hương vị thức ăn thông thường, nhưng thực ra nó đã là chính Chúa Giêsu. Ngày hôm ấy, nhiều môn đồ đã lìa bỏ Chúa Giêsu, nhưng 12 tông đồ vẫn vững vàng trong lòng tin của họ. Họ chờ đợi ngày Chúa Giêsu sẽ ban cho họ bánh sự sống này.

Chúa Giêsu Ban Cho Chúng Ta Thánh Thể

Trong Bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu giữ lời Ngài đã hứa và ban cho dân Ngài bánh sự sống đời đời. Thánh sử Matthêu, một nhân chứng nhãn tiền về biến cố này, đã kể lại trong Tin Mừng của ông như sau:

Đang lúc họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đồ. Ngài nói: Hãy cầm lấy mà ăn, này là mình Thầy. Đoạn cầm lấy bánh và tạ ơn, Ngài trao cho họ mà rằng: Hãy uống chén này hết thảy, vì này là máu Thầy, máu giao ước, sẽ đổ ra cho mọi người được tha tội. (Mt. 26:26-28)

Cũng như trước kia Ngài đã biến đổi nước thành rượu thế nào khi mới rao giảng, thì bây giờ Ngài cũng biến đổi bánh và rượu thành chính Thịt và Máu Ngài như vậy. Đó là Thánh Lễ đầu tiên. Chữa Thánh Lễ (Eucharist) lấy từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là tạ ơn và được dùng để chỉ nghi lễ chúng ta đang cử hành bây giờ, vì Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha, khi Ngài truyền phép bánh và rượu. Bí tích này còn được gọi bằng nhiều từ ngữ khác: Tiệc của Chúa, Bí tích thánh, Bánh Sự Sống, Sự hiệp lễ, và Hy Lễ.

Dấu Của Bí Tích

Chúng ta có thể học hiểu chủ ý rõ ràng nhất của Thánh Lễ khi nhìn đến các dấu được sử dụng: Bánh và Rượu, cùng với lời truyền (này là mình Thầy... Này là máu Thầy...) Nó nói lên rằng lương thực đã được ban cho chúng ta chính là lương thực siêu nhiên - Thịt và Máu Con Thiên Chúa.

Hai nguồn nuôi dưỡng này là một phần quan trọng trong thức ăn thường ngày của dân sống trên Đất Thánh. Bánh là lương thực chính, và rượu là của uống thông thường. Đối với họ, hai thứ này là sự sống và sức khỏe cho thân xác; Chúa Giêsu đã biến nó thành sự sống và sức khõe cho linh hồn. Không có Thánh Lễ, có lẽ linh hồn chúng ta sẽ đói khát đến chết!

Ngày nay, với nhiều loại thực phẩm khác nhau có sẵn cho chúng ta, chúng ta không thấy được sự quan trọng của bánh và rượu cách rõ ràng như tổ tiên chúng ta đã thấy. Như nếu suy nghĩ một chút, sẽ thấy có bao nhiêu thức ăn mà chúng ta ưa thích đều lại làm bằng bột mì, hoa màu ruộng đất và lao công của con người. Ngày nay, rượu vẫn luôn được dùng làm của uống làm hoan lạc lòng người trong các tiệc cưới hay trong rất nhiều bữa tiệc, hoặc trong các buổi họp mặt khác...

Mầu Nhiệm Thánh Thể

Lúc đọc Lời Truyền trong Thánh Lễ, linh mục biến đổi bánh và rượu bởi quyền năng ngài đã lãnh nhận khi chịu chức thánh. Sự biến đổi này được gọi bằng một tiếng khá to tát: Biến đổi bản thể (trasubstantiation). Phải, trong Thánh Lễ, các chất liệu là bánh và rượu, và từ ngữ muốn nói cách đơn giản rằng những chất liệu này được biến đổi thành Chúa Giêsu Kitô.

Chúa đã chọn những phương thế thích hợp nhờ đó chúng ta có thể lãnh nhận Bí Tích này: Ngài đã ban Bí tích này cho chúng ta dưới vẻ bề ngoài là bánh và rượu. Khi rước lễ, chúng ta thấy và nếm thức ăn thông thường này, nhưng lòng tin vào Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng thức ăn này không phải như nó đang hiện ra bên ngoài. Chúng ta thật sự ăn thịt và uống máu Ngài. (Jn 6:53)

Đó là lý do tại sao Thánh Thể được gọi là mầu nhiệm đức tin. Chúng ta chỉ chấp nhận vì dựa trên lời Chúa phán. Trong mọi Thánh Lễ, ngay khi đọc lời truyền, linh mục nói: Chúng ta hãy công bố mầu nhiệm đức tin. Linh mục mời chúng ta đọc một lời kinh tin vào sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu trong bí tích này.

Bánh và rượu không phải biến đổi ra Thịt và Máu Chúa Giêsu chỉ trong thời gian dâng Thánh Lễ. Nó vẫn còn là thịt máu Ngài sau Thánh Lễ; và Mình Thánh được cất giữ cách cung kính trong nhà tạm ở trong Nhà Thờ. Đây là một đồ đựng đặc biệt, chắc chắn và không di chuển được, và được trang trí với những biểu tượng về Chúa Giêsu. Một ngọn đèn (nến) được thắp cháy sáng đêm ngày trước Nhà Tạm để nói lên lòng tôn kính Chúa Giêsu trong Bí tích này.

Thánh Cyril thành Giêrusalem (+năm 386) là một giám mục thánh và là tiến sĩ Hội thánh (được nổi tiếng là bậc thầy đại tài). Ngài thường khuyến khích người Công Giáo trong giáo phận ngài có lòng tin vào sự hiện diện thật của Chúa Giêsu khi nói:

Khi Chúa Kitô nói: Này là Mình Thầy, ai lại dám ngờ vực lời Ngài? Khi Ngài nói: Này là Máu Thầy, ai dám nói là không có như vậy? Ngài đã một lần biến nước thành rượu. Ngài không đáng chúng ta tin Ngài có quyền năng để biến rượu thành máu Ngài sao? Đừng nghĩ về Bí Tích Thánh này như một miếng bánh thông thường, vì chiếu theo lời Chúa Kitô, đó là Thịt của Ngài. Tuy rằng quan năng của chúng ta không thuyết phục được chúng ta, thì hãy để đức tin củng cố chính mình để đừng xét theo vị giác của mình.

Những Hiệu Quả của Thánh Thể

Khi rước Mình Thánh Chúa Giêsu cách xứng đáng, nghĩa là lúc chúng ta không mắc tội trọng, đã giữ chay lòng, không ăn và uống một giờ trước đó (trừ nước lã và thuốc men), và khi chúng ta đến gần bàn thờ với tất cả lòng tinh kính, thì Chúa Giêsu sẽ làm nhiều điều lạ lùng cho linh hồn chúng ta.

Ngài tăng đời sống ân sủng trong chúng ta và xóa hết các lỗi nhẹ của ta. Ngài cho ta nên một với Ngài. Ngài ở trong ta thật sự sau khi rước lễ.

Ngài liên kết chúng ta lại với nhau, vì chúng ta đã trở nên một nhờ cùng rước một Chúa Thánh Tnể. Việc rước lễ giúp chúng ta yêu mến nhau.

Ngài giúp chúng ta khắc phục những lỗi lầm và ước muốn xấu xa. Nhờ rước Chúa Giêsu thường xuyên, chúng ta được ban năng lực từ bỏ tất cả tội lỗi mình và ngay cả những ham muốn ích kỷ nữa.

Sau mỗi lần rước lễ, sự sống của Chúa Kitô dồi dào trong chúng ta hơn. Những ai rước Mình Thánh thường xuyên và rước cách xứng đáng sẽ có mối liên hệ sâu sắc hơn với Chúa Giêsu trên Thiên Đàng.

Sau cùng, Chúa chuẩn bị chúng ta cho ngày kẻ chết sống lại. Kinh Tin Kính nói rằng mọi người sẽ sống lại từ cõi chết, vào ngày tận cùng của thế giới. Những ai rước lễ thường xuyên với đầy lòng tin, cậy, mến, sẽ chắc chắn được lên Thiên Đàng hơn cả hồn lẫn xác một ngày nào đó.

Nhưng nếu chúng ta rước lễ cách không xứng đáng, sẽ không hưởng được ơn ích gì bởi Bí tích này. Thật ra, rước lễ đang khi còn tội trọng là một trong những sự xúc phạm đến Chúa cách nặng nề nhất. Người ta gọi đó là phạm sự thánh, và phải đi xưng tôi càng sớm càng tốt.

Những Chữ Nên Biết

Dấu của Bí Tích Thánh Thể - Biến đổi bản thể - Mầu Nhiệm đức tin - Sự hiện diện thật - Nhà tạm - Phạm sự thánh.

SINH HOẠT

Câu họi:

1.         Thánh Thể là gì?

Thánh Thể là Bí tích chứa đựng thật sự Mình và Màu, linh hồn và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô, dưới hình bánh và rượu, để làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn con người.

2.         Chất liệu của Thánh Thể là gì?

Chất liệu Thánh Thể là bánh làm bằng bột mì, và rượu làm bằng trái nho.

3.         Mô thức của Thánh Thể là gì?

Những lời nói của Chúa Giêsu Kitô là mô thức của Thánh Thể: Này là Mình Thầy, Này là Máu Thầy... sẽ đổ ra cho anh em và cho moi người được tha tội...

4.         Ai là thừa tác viên của Thánh Thể?

Thừa tác viên Thánh Thể là linh mục, người biến bánh thành Mình và rượu thành Máu Chúa Giêsu bằng việc đọc những lời Chúa Giêsu đã nói, trong lúc dâng Thánh Lễ.

5.         Chúa Giêsu thành lập Thánh Thể khi nào?

Ngài lập Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly trước khi Ngài chịu nạn, khi Ngài đọc lời truyền và biến bánh và rượu thành Mình và Máu Ngài, rồi phần phát cho các tông đồ, cùng dạy họ hãy làm việc này mà nhớ đến Ngài.

6.         Tại sao Chúa Giêsu lập Thánh Thể?

Ngài lập Thánh Thể để trong thánh lễ sẽ có luôn một hy lễ thường xuyên của giao ước mới, và để trong lúc Rước Lễ, chúng ta có của ăn thiêng liêng cho linh hồn, để ghi nhớ luôn mãi tình yêu và sự thương khó của Ngài.

7.         Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể có phải là Đấng đã sinh ra ở dưới đất bởi Đức Trinh nữ Maria hay không?

Đúng thế, Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể cũng chính là Đấng ở trên Thiên Đàng và đã được sinh ra ở dưới đất bởi Đức Tring Nữ Maria.

8.         Tại sao bạn tin rằng Chúa Giêsu thật sự hiện diện trong Thánh Thể?

Tôi tin Chúa Giêsu hiện diện thật trong Thánh Thể vì chính Ngài đã nói rằng bánh và rượu đã truyền phép là Thịy và Máu Ngài và bởi vì Giáo Hội dạy như vậy, nhưng đây là mầu nhiệm, một mầu nhiệm cao cả.

9.         Bánh thánh trước khi truyền phép là gì?

Trước khi truyền phép, bánh thánh chỉ là bánh thường mà thôi.

10.       Sau khi truyền phép, bánh thánh là gì?

Sau khi truyền phép, bánh thánh thật sự là mình Chúa Giêsu, Chúa chúng ta, dưới hình thức bánh.

11.       Trước khi truyền phép, trong chén thánh có gì?

Trước khi truyền phép, trong chén thánh chỉ có rượu với chút nước pha vào.

12.       Sau khi truyền phép, trong chén thánh có gì?

Sau khi truyền phép, trong chén thánh có máu thật của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, dưới hình thức rượu.

13.       Khi nào bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô?

Bánh và rượu trở thành mình và máu Chúa Kitô lúc đọc lời truyền phép.

14.       Sau khi đọc lời truyền, có gì còn lại của bánh và rượu không?

Sau khi đọc lời truyền, bánh và rượu không còn hiện diện nữa, nhưng chỉ còn hình dáng hay hình thức, mà không còn bản thể của chúng nữa.

15.       Hình dáng hay hình thức là gì?

Hình dáng cò nghĩa là tất cả những gì quan năng (giác quan) của chúng ta cảm nhận được như: màu sắc, mùi vị của bánh và rượu.

16.       Dưới hình bánh và rượu chỉ cò Mình và Máu Chúa Giêsu thôi sao?

Không, dưới hình bánh, Chúa Giêsu hiện diện trọn vẹn, toàn thân có thịt, Máu, Linh hồn và thiên tính của Ngài; và dưới hình rượu cũng vậy.

***********************************************************

BÀI 12: HY LỄ THÁNH THỂ

Khi xem Thánh Thể là một Bí Tích, chúng ta nghị đến Thánh Thể là một bữa ăn thánh mà Chúa Giêsu đã dạy cử hành để tưởng nhớ đến Ngài. Thánh Lễ giống như một bữa ăn vì có bàn (bàn thờ) có khăn phủ trên, có bánh có rượu, nước và có người cầu nguyện, ăn và uống chung với nhau như một gia đình trong Chúa Kitô.

Nhưng Thánh Lễ cũng là một Lễ Hy Sinh (Hy Lễ). Thánh Lễ có đủ những gì cần thiết để làm việc thờ phượng Chúa: một bàn thờ dùng để hiến tế, một chủ tế để dâng của lễ, và có những của quí báu để dâng. Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu làm Thánh Lễ thành một tái diễn thiêng liêng hy lễ trên thập giá. Bằng cách nào? Bằng những lời ngài dùng. Cứ nghĩ về những lời quan trọng nhất trong Thánh Lễ, Lời Truyền Phép, do chính Chúa Giêsu nói ra:

Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.

Này là chén Máu Thầy, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu.

Sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.

Thử xem những lời đó nhắc đến một hy lễ như thế nào? Một thân xác bị nộp và máu được đổ ra. Dĩ nhiên Chúa Giêsu nói đến hy lễ trên Thập Giá. Nhưng Thánh Lễ Ngài truyền lại cho chúng ta có liên hệ mật thiết với Thánh giá. Hy Lễ Thánh Lễ không phải là một hy lễ mới hay một hy lễ khác. Nó chính là hy lễ mà Chúa Giêsu đã dâng trên thập giá một lần mà thôi. Điều này làm sao có thể được? Được chứ, vì trong hai biến cố chỉ có một chủ tế dâng của lễ (là Chúa Giêsu) và chỉ có một của dâng (cũng là Chúa Giêsu). Vậy nếu có cùng một chủ tế và một của lễ, thì phải là cùng một hy lễ giống nhau! Điều này nghe thật khó hiểu, nhưng một lần nữa, chúng ta phải nhớ rằng đây là một mầu nhiệm cao cả mà chúng ta chỉ tin bằng đức tin thôi.

Hy Lễ Trên Bàn Thờ

Dĩ nhiên có vài sự khác biệt giữa cách thức Chúa Giêsu dâng hy lễ trên thập giá và Thánh Lễ trên bàn thờ.

Trên thập giá, Chúa Giêsu dâng chính Mình Ngài trong đau đớn và cực hình đổ máu. Trên bàn thờ, Ngài dâng Mình và Máu Ngài nhưng không đau đớn và đổ máu, chỉ dưới hình thức bánh và rượu được truyền phép. Nhưng cũng cùng một Chúa Giêsu ở cả hai trường hợp.

Cũng vậy, trên thập giá, chính Chúa Giêsu dâng hy lễ của Ngài một mình. Trong Thánh Lễ, Chúa dâng với Hội Thánh Ngài, qua trung gian của linh mục và cộng đoàn dự lễ.

Thánh Phaolô nhắc chúng ta rằng Thánh Thể là sự tái diễn hy lễ trên Thập Giá. Trong thư thứ nhất gửi cho giáo hữu Corintô, ngài nói:

Vì mỗi lần anh em ăn bánh này và uống chén này, anh em loan truyền sự chết của Chúa, cho tới lúc Ngài đến lại. (1Cor 11:26)

Chúng ta có thể thấy Thánh Lễ là một hy lễ, khi để ý đến kinh nguyện dùng trong lúc cử hành Thánh Lễ:

Lạy Chúa, xin thương nhận lấy chúng con đang hết lòng khiêm nhượng thống hối, và xin cho lễ tế chúng con dâng lên trước tôn nhan, được đẹp lòng Chúa.(Kinh dâng hiến của chủ tế)

Xin Chúa nhận lễ vật bởi tay cha, để ca tụng tôn vinh danh Chúa, và mưu ích cho chúng con cùng toàn thể Hội thánh Người.(Kinh dâng hiến của giáo dân)

Chúng con dân glên Cha, là Đấng uy linh cao cả, hy lễ tinh khiết vẹn tuyền, là bánh Thánh ban sự sống vĩnh cửu và chén đem lại ơn cứu độ muôn đời (Kinh Nguyện Thánh Thể I)

Lạy Chúa, chúng con nguyện xin cho hy lễ hòa giải này đem lại bình an và cứu độ cho tất cả thế giới. (KNTT III)

Đang chờ đợi Người vinh quang ngự đến, chúng con dâng lên trước tôn nhan Mình và Máu Thánh Người làm hy lễ đẹp lòng Chúa, và sinh ơn cứu độ cho toàn thế giới. (KNTT IV)

Thánh Lễ Trong Đời Sống Chúng Ta

Thánh Lễ, hay là cử hành Lễ Tạ Ơn, là việc thờ phượng cao cả nhất mà chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa. Nếu chúng ta nhớ rằng, đi lễ không khác nào là cùng đứng với Đức Mẹ ở dưới chân thánh giá Chúa Giêsu thì chắc chắn chúng ta sẽ cầu nguyện với tất cả lòng yêu mến và sốt sắng.

Bạn có thể nghe một vài người nói họ chẳng được gì khi đi lễ. Nhưng trước tiên, chúng ta không bao giờ coi Thánh Lễ như một nghi lễ chúng ta dự, hầu nhận được một cái gì! Nhưng chúng ta sẽ được nhiều hơn nữa bởi Thánh Lễ, nếu đặt cả con người mình vào đó: Nếu bạn muốn đi lễ để giúp bạn lớn lên trong tình nghĩa vơí Chúa Giêsu, bạn phải chuẩn bị tâm hồn mỗi tuần trước khi dự lễ.

Những Chữ Nên Biết

Lời Truyền Phép - Hy Lễ Thánh Thể

Dọn Mình Dự Lễ

1.         Một cách tốt để dọn mình dự lễ là đi xưng tội thường xuyên để nhận được ơn trợ giúp của Chúa, giúp chiến thắng các tật xấu của bạn.

2.         Hãy để vài phút đọc đoạn Tin Mừng trong Thánh Lễ hôm đó. Việc này giúp bạn học hiểu thêm về Chúa Giêsu và lời giáo huấn của Ngài.

3.         Bạn hãy tới Nhà Thờ trước Thánh Lễ ít phút và cầu xin Mẹ Maria giúp bạn tham dự với đầy lòng tin, cậy và mến.

4.         Sau cùng, sau Thánh Lễ, đừng vội bỏ ra ngoài ngay, nhưng hãy ở lại vài phút để cầu nguyện riêng với Chúa Giêsu mà bạn vừa rước Ngài vào lòng. Hãy tâm sự với Ngài theo cách của bạn như bạn nói chuyện với một người bạn thân nhất, vì Ngài muốn được như vậy với bạn!

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Thánh Lễ có phải chỉ là một Bí tích không?

Không, Thánh Lễ không phải chỉ là một Bí Tích, Thánh Lễ còn là một hy lễ thường xuyên của giáo ước mới, và vì đó mà được gọi là Thánh Lễ.

2.         Hy Lễ là gì?

Hy lễ là sự hiến dâng công cộng cho Chúa một vật có thể bị hủy đi để tuyên xưng rằng Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Chủ Tể tối cao mà mọi vật phải thuộc về Ngài.

3.         Thánh Lễ là gì?

Thánh Lễ là hy lễ Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô, được chủ tế dâng lên Chúa trên bàn thờ, dưới hình thức bánh và rượu, để kính nhớ hy lễ trên Thập giá và để tái diễn hy lễ ấy.

 

4.         Hy Lễ trong Thánh Lễ có phải cũng cùng là hy lễ trên Thập giá không?

Thưa chính là hy lễ trên thập giá; sự khác biệt duy nhất chỉ là trong cách cử hành.

 

5.         Hy lễ trên thập giá và trên bàn thờ khác nhau ở điểm nào?

Khác nhau như sau:

- Trên thập giá, Chúa Giêsu tư 5hiến mình làm của lễ hy sinh, bằng cách tự ý đổ máu mình ra, và như vậy, Ngài đã đem lại cho chúng ta mọi ân sủng.

- Còn trên bàn thờ, Chúa Giêsu cũng tự dâng hiến mình làm của lễ và tự hủy mình cách nhiệm mầu qua trung gian của linh mục, mà không đổ máu, và Ngài áp dụng cho chúng ta công nghiệp do hy lễ trên thập giá.

6.         Thánh Lễ được dâng lên Chúa với chủ ý gì?

Thưa là dâng lên Người sự thờ phượng cao cả nhất để tạ ơn Người vì những phúc lành Người đã ban cho chúng ta; Để làm Người nguôi giận và để phạt tạ Người vì những tội chúng ta đã phạ; Và để được những ơn mà chúng ta cầu cho các tín hữu đang sống cũng như đã qua đời.

7.         Thánh lễ có dâng cho các thánh không?

Thưa không, Thánh Lễ không để dâng cho các thánh, nhưng chỉ dâng lên Chúa mà thôi, ngay khi Thánh Lễ được cử hành để mừng kính các Thánh, hy lễ chỉ để dâng lên đấng Tạo Hóa là Chúa Tể tối cao mà thôi.

8.         Chúng ta có nuộc đi dự Lễ không?

Chúng ta buộc đi dự lễ ngày Chúa Nhật và các Lễ Buộc. Nhưng đi dự lễ thường xuyên cũng là điều tốt, hầu được tham dự vào việc tôn giáo cao cả nhất, việc mà Chú a lấy làm vui lòng nhất và đem lại cho chúng ta nhiều công nghiệp nhất.

9.         Dự Lễ thế nào là cách xứng đáng nhất?

Cách dự lễ thích đáng nhất là hiệp với chủ tế mà dâng lễ lên Chúa, vừa suy niệm về hy lễ trên thánh giá, nghĩa là suy niệm về sự thương khó và sự chết của Chúa Giêsu, và rước Mình Thánh Chúa. Vì Rước Lễ là việc chúng ta kết hiệp với Hy Lễ vô tí tích đang được hiến dâng; và do đó, chính là cách tham dự đầy đủ nhất vào hy lễ thánh thiện này.

**************************************************************

BÀI 13:   THÁNH LỄ TRONG ĐỜI SỐNG CHÚNG TA

Công đồng Vatican II gọi Thánh Lễ là nguồn và trung tâm của đới sống Kitô hữu. Điều này nói lên rằng Thánh Lễ là thành phần quan trọng nhất của đức tin chúng ta. Tại sao? Vì Thánh Lễ không chỉ là cách để lãnh nhận ơn thánh, mà trong Thánh Lễ, có chính Chúa Giêsu là nguồn mọi ơn thánh. Không một vị thánh nào trong Hội thánh lại không quí trọng Bí Tích Thánh Thể như ơn huê lớn nhất Chúa ban cho Hội thánh. Tất cả những người thánh thiện này, nam cũng như nữ, thiếu niên hay trẻ em đều hiểu rằng chịu lễ là cần thiết để gia tăng mối liên hệ của chúng ta với Chúa Giêsu, cho nên họ đều cố gắng tham dự Thánh Lễ càng thường xuyên càng tốt.

Thánh Thể và Các Bí Tích Khác

Vì Chúa Giêsu hiện diện thật sự dưới hình bánh và rượu, nên Bí tích Thánh Thể được gọi là Bí tích cao trong nhất trong các Bí Tích. Như thánh Tôma Aquinô, vị thầy và là vị thánh lừng danh đã nói: Bí tích cao quí nhất là bí tích có sự hiện diện thật sự Mình Thánh Chúa Giêsu. Bí tích Thánh Thể là chóp đỉnh của các Bí Tích.

Bí tích Rửa tội làm ta trở nên chi thể của Hội Thánh và ban cho ta quyền được rước Thánh Thể. Các ơn Chúa Thánh Thần mà ta lãnh nhận lúc chịu Thêm Sức, giúp ta hiểu và yêu mến Thánh Thể như những Kitô hữu Công giáo trưởng thành. Bí tích Giải Tội xóa sạch tội lỗi và giúp ta đi chịu lễ với tâm hồn trong sạch. Bí tích Xức dầu ban sức mạnh và tẩy rửa ta được sạch và chuẩn bị một cách đặc biệt những người sắp rước Chúa Giêsu lần cuối cùng tại thế này. Bí tích Truyền Chức Thánh ban cho ta những linh mục để dâng lễ và truyền phép bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô. Trong Bí tích Hôn Phối, nơi mà Chúa Giêsu đã tỏ tình thương của Ngài đối vơí ta mà ban cho ta Thịt và Máu Ngài.

Rước Mình Thánh Chúa Giêsu cách Xứng Đáng

Chúng ta chỉ lớn lên trong ơn thánh bằng việc rước Mình Thánh Chúa cách xứng đáng. Một số người có thể đi chịu lễ cả trăm lần, nhưng họ không có lòng tin vào Chúa Giêsu và ao ước yêu mến Ngài, thì những lần rước lễ ấy không đem ích lợi gì cho họ. Nên có một vấn đề rất quan trọng là: Lam thế nào tôi có thể chuẩn bị tức dọn mình kỹ lưỡng nhất để đến đón nhận Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể?   Giáo Hội có chỉ dẫn vài luật lệ khôn ngoan để giúp ta:

Thứ nhất không bao giờ nên rước Chúa Giêsu nếu ta có tội trọng trong linh hồn. Trước tiên ta phải xưng tội với một linh mục và được giải sạch tội ấy đã. Nếu chỉ phạm tội nhẹ, ta phải ăn năn xin Chú athứ tha trong khi làm nghi thức sám hội ở đầu lễ.

Thứ hai, ta phải có lòng tin vào sự hiện diện thật của Chúa Giêsu và thưa với Ngài rằng ta tin điều ấy. Thánh Phaolô nói với các tín hữu Corintô rằng: Kẻ ăn Mình Chúa và uống chén của Chúa cách bất xứng, sẽ mắc tội đối với Mình và Máu Chúa. . . kẻ ăn và uống mà không ý thức được đó là Mình Chúa, tức là ăn và uống án phạt cho mình. (1 Cor 11:27,29).

Cuối cùng, ta phải giữ chay lòng trước khi rước lễ. Nghĩa là không được ăn hay uống gì (trừ nước lã và thuốc men) một giờ trước khi chịu lễ. Đó là một hy sinh nhỏ để dâng lên Chúa Giêsu, tỏ lòng ta tành kính với Thịt và Máu Ngài như của ăn và uống đặc biệt. (Chú ý: Những ai cao niên hoặc tật nguyền, cũng như những người đang chăm sóc họ, có thể chịu Mình Thánh Chúa cho dù đã ăn hay uống một thứ gì trước thời gian đó).

Lòng Sùng Kính Thánh Thể

Vì Chúa Giêsu còn hiện diện thật trong Bí Tích Thánh Thể sau Thánh Lễ, Mình Thánh được cất vào Nhà Tạm cho an toàn, để dùng cho các Thánh Lễ khác và để đem Mình Thánh cho các bệnh nhân.

Nhưng ta không chỉ cất giữ Chúa Giêsu trong nhà thờ vì những mục mục đích thực tiễn nói trên. Ngài ngự ở đó để ta có thể đến viếng Ngài bất cứ lúc nào trong tuần. Bất cứ lúc nào ta muốn thờ lạy tạ ơn Chúa, có thể đến nhà thờ để thờ phượng Ngài trong nhà tạm. Như giữa hai người thân, ta có thể thưa với Ngài những nhu cầu của mình và xin Ngài chúc phúc cho mọi việc mình làm, chúc lành cho các bạn hựu, thân nhân, những mong mưốn và ước mơ của mình nữa. . .

Đôi khi, Mình Thánh Chúa được lấy ra khỏi Nhà Tạm và đặt trong hào quang. Hào quang có một mặt bằng kính để ta có thể nhìn thấy Bánh Thánh (Mình Thánh Chúa ). Thường thường, có một nghi thức cầu nguyện đặc biệt và linh mục giơ cao hào quang lên chúc lành giáo dân với Chúa Giêsu hiện diện ở đó. Nghi thức này gọi là Chầu Phép Lành. Những biểu hiệu lòng mến này đối với Phép Thánh Thể được gọi là việc sùng kính Bí Tích Thánh Thể. Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục trong Hội Thánh nhiệt liệt khuyên chúng ta làm những việc sùng kính này.

Những Chữ Nên Biết

Chay Thánh Thể - Hào quang - Bánh thánh - Chầu Phép Lành

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Để rước Mình thánh Chúa cách xứng đáng, cần phải làm những việc gì?

Thứ nhất: Phải có ơn thánh Chúa (linh hồn sạch tội trọng)

Thứ hai: Phải nhìn và nhận định Đấng ta sắp rước lấy là ai

Thứ ba: Phải giữ chay Thánh Thể

2.         Có ơn thánh Chúa nghĩa là gì?

Nghĩa là có một lương tâm và linh hồn không vướng mắc tội trọng.

3.         Nếu một người rước Mình Thánh Chúa mà biết mình đang có tội trọng, thì người ấy có rước Chúa Giêsu thật sự không?

Có, nhưng không được ơn thánh của Ngài. Thật ra người ấy phạm một tội trọng khác gọi là tội phạm thánh, và đáng sa hỏa ngục . . .

4.         Nhìn ra và nhận định Đấng sắp rước lấy nghĩa là gì?

Nghĩa là ta phải đến với Chúa Giêsu Kitô trong Thánh Thể vơí một đức tin sống động, một lòng ao ước nồng nhiệt và khiêm tốn thâm sâu, nết na.

5.         Chay Thánh Thể là gì?

Chay Thánh Thể hiện nay chỉ đòi không ăn đồ đặc và mọi thứ nước uống dù có chất rượu hay không trong một giờ, ngoại trừ nước là thiên nhiên và thuốc men.

6.         Trong lúc nguy tử có phải giữ chay Thánh Thể trước khi rước lễ không?

Trong lúc nguy tử có thể chịu lễ mà không cần giữ chay.

7.         Có luật buộc ta phải chịu Mình Thánh Chúa không?

Có. Có luật buộc mọu người phải chịu Mình Thánh mỗi năm vao Mùa Phục Sinh và cả trong giờ nguy tử, như của ăn đàng, để được sức mạnh cho linh hồn trên hành trình về trời.

8.         Luật buộc rước Mình Thánh Chúa trong Mùa Phục sinh từ mấy tuổi trở lên?

Bắt đầu từ khi trẻ em có khả năng giữ bổn phận này với những tâm trạng thích đáng, nghĩa là vào khỏang 7 tuổi.

9.         Rước lễ thường xuyên có phải là việc tốt và hữu ích không?

Thư là việc rất tốt lành và hữu ích; nếu được thì nên rước lễ hằng ngày, miễn là luôn biết chuẩn bị tâm hồn kỹ lưỡng.

10.       Sau khi rước lễ, Chúa Giêsu kưu lại trong ta bao lâu?

Thưa Ngài ở trong ta bao lâu còn dạng bánh thánh.

11.       Chúa Giêsu có hiện diện trong mọi Bánh Thánh đã truyền phép trên khắp hoàn cầu không?

Có. Chúa Giêsu đều hiện diện trong mọi Bánh Thánh đã truyền phép trên khắp hoàn cầu.

12.       Tại sao Mình Thánh Chúa được cấy giữ trong Nhà Tạm?

Để các tín hữu có thể đến thờ lạy Chúa,

Để họ có thể rước lấy trong lúc chịu lễ,

Và để họ có thể nhận ra trong Thánh Thể sự trợ giúp và hiện diện thường xuyên của Chúa Giêsu Kitô trong Hội Thánh.

****************************************************************

 

BÀI 14: TỘI VÀ NHÂN LOẠI

Chúng ta đã học biết rằng Thiên Chúa đã tạo dựng những người đầu tiên và đã ban cho họ ơn thánh hóa cùng nững ân huệ đặc biệt khác. Nhưng Adam và Eva đã phạm tội và bất tuân lệnh Chúa. Hậu qủa là hai người đã làm mất ơn sự sống của Chúa trong linh hồn họ. Bây giờ họ thấy rất khó mà vâng lời Chúa vì tội đã đặt luật ích kỷ trong lòng họ. Chúng ta là con cháu của Adam và Eva cũng san sẻ cùng một khó khăn ấy. Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm nỗi thất vọng của một bản tính con người sa ngã, nghĩa là có một thân xác và một linh hồn bị suy nhược bởi tội lỗi. Thánh Phaolô đã nói ra cái khó khăn này đã làm ngài bực bội như sau:

Tôi không hiểu được chính những hành động của tôi. Tôi không làm điều tôi muốn, nhưng tôi lại làm chính điều tôi ghét... Điều xảy ra là tôi không làm sự lành tôi muốn, còn sự dữ tôi không muốn, thì tôi lại thi hành. (Rm 7:15,19)

Giống như vị thánh cả và tông đồ Phaolô, nhiều lần chúng ta cũng không hiểu nổi thái độ của mình. Tại sao tôi không vâng lời cha mẹ tôi? Tại sao tôi nói láo với bạn bè? Tại sao vâng giữ các giới răn là một điều khó nhọc như thế? Câu trả lời cho các câu hỏi trên có thể tóm gọn trong ba chữ này: Tội nguyên tổ. Tội nguyên tổ đã làm chúng ta suy yếu và đẩy chúng ta chọn những ước muốn cá nhân của mình trước ý muốn của Thiên Chúa. Tội làm chúng ta nghĩ đến chính mình quan trọng nhất trên đời. Nói cách khác, tội không gì khác hơn là một tin buồn.

Nhưng Chúa Giêsu đem lại cho chúng ta Tin Mừng... cho chúng ta biết rằng mình có thể được giải thoát khỏi tội nguyên tổ và lướt thắng những ác quả của nó! Chúng ta chỉ cần làm một điều là chịu phép Rửa Tội, lãnh nhận các Bí tích, vâng giữ các giáo huấn của Chúa Giêsu và chuyên chăm cầu nguyện. Và Chúa sẽ làm phần còn lại. Nhưng còn có vài điều chúng ta phải canh chừng khi cố gắng sống đời sống này trong Chúa Kitô: Đó là cám dỗ và tội.

 

Những Lời Hứa Dối Trá của Cám Dỗ

Cám dỗ là lôi cuốn vào tội lỗi. Cám dỗ đến trước khi chúng ta phạm tội và nói cho chúng ta biết rằng điều gì xấu sẽ là điều tốt cho chúng ta lúc đó. Có ba điều dẫn đến cám dỗ: Thế gian, xác thịt và ma quỷ.

Thế gian

Thế gian, nghĩa là tất cả những người hoặc tạo vật dụ chúng ta đi xa lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Có thể bạn có một người bạn không ưa Chúa Giêsu hay Tin Mừng của Ngài. Người ấy nghĩ rằng các cuộc liên hoan và lạm dụng bản năng giới tính còn quan trọng hơn là Chúa hay tôn giáo. Mỗi khi bạn sống với người ấy, dường như bạn làm điều xấu hơn thường lệ. Trong thâm tâm, bạn biết người ấy có một ảnh hưởng xấu trên bạn. Người ấy được coi là một ví dụ của cái làm chúng ta bị cám dỗ bởi thế gian.

Xác thịt

Xác thịt, nghĩa là những dục vọng nội tâm của chúng ta. Có bảy xu hướng ngang trái dẫn đến tội lỗi:

           Tính kiêu ngạo: Là sự đánh giá quá đáng về chính mình.

Tính tham lam: Là sự ham muốn vô kiềm chế về những của cải vật chất như tiền

                         bạc, quần áo.

            Tính mê dâm dục: Là sự ham muốn vô kiềm chế về những thú vui xác thịt.

            Tính nóng giận: Là cảm tính vô kiềm chế về những bực mình và những gì đối

                                       nghịch.

            Tính mê ăn uống: Là sự sử dụng vô kiềm chế về sự ăn uống.

            Tính ghen ghét: Sự mất hạnh phúc hay bất mãn về số may mắn hoặc thành công

                                     của người khác.

            Tính lười biếng: Lười biếng hoặc cẩu thản trong việc tốt phải làm và thực hành

                                       nhân đức, vì nó đòi bỏ công sức và cố gắng để làm việc ấy.

Ma Quỷ

Ma quỷ nghĩa là Satan và các thần linh xấu khác làm ra sức làm chúng ta bất tuân luật Chúa. Chúng ghét đời sống Kitô hữu. Thánh Phêrô khuyến cáo mọi Kitô hữu hãy tỉnh thức chống lại Satan và các cuộc tấn công thiêng liêng của nó: Anh em hãy tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của nah em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự. (1 Pet 5:8-9)

Cám dỗ thường đến với chúng ta qua những dịp tội. Có thể là người, nơi chốn hay sự vật làm chúng ta phạm tội cách dễ dàng. Sau đây là vài thí dụ:

            Những bạn bè không có lòng kính trọng đạo,

            Phim ảnh hay sách báo quảng cáo những bừa bãi dục tính hoặc việc sử dụng sai

           trái về các năng lực dục tính,

            Những buổi liên hoan mà các người tham dự sử dụng ma tuý và rượu mạnh.

Bước đầu tiên để thắng được tội là biết cái gì dẫn chúng ta đến tội lỗi. Rồi chúng ta sẽ biết xa tránh cái gì, xa tránh những ai, nếu thực sự chúng ta muốn hưởng Nước Trời.

Tội và Những Ác Quả của Nó

Tội là sự xúc phạm đến Chúa trong tư tưởng, lời nói, việc làm hoặc sao lãng không làm. Ví dụ:

Thật sự ghét một người nào đó trong trí mình là phạm tội tư tưởng,

Sử dụng danh Chúa cách bất kính là một tội trong lời nói,

Say sưa rượu chè hay ăn cắp một cái gì là phạm tội bằng việc làm,

Không đi dự lễ Chúa Nhật mà không có lý do chính đáng là phạm tội vì thiếu sót hoặc chểnh mảng không chịu làm...

Có hai loại tội là tội nguyên tổ và tội hiện tại (tội riêng mình phạm). Tội nguyên tổ như đã học là tội đầu tiên do Ađam và Evà phạm. Tất cả chúng ta đều thông dự vào tội ấy vì là con cháu Ađam theo xác thịt (tội này truyền lại theo bản tính vì là người). Còn tội hiện tại là những tội bản thân chúng ta phạm. Tội này có thể nặng hay nhẹ.

Tội Trọng

Tội trọng (hay tội nặng) là điều ác tệ hại nhất trên đời, vì tội trọng giết đời sống Thiên Chúa trong chúng ta. Bạn cứ thử nghĩ đến những sự ác kinh hoàng nhất trên thế giới này: Giặc giã, bão lụt, động đất, bệnh tật..., nhưng không có một sự ác nào trong các sự ác ấy tai hại bằng một tội trọng. Tại sao? Vì những sự ác kia chỉ có thể giết thân xác, dù chúng kinh khủng đến đâu đi nữa! Còn tội trọng giết đời sống siêu nhiên của linh hồn và cất khỏi chúng ta khả năng được lên Thiên Đàng. Người chết trong tội trọng chỉ có một chỗ để đi tới: Đó là Hỏa Ngục. Vì chỉ một tội trọng đã đủ nói với Chúa rằng chúng ta không cần đến Người hay đến lề luật thánh của Người. Và Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta: Người sẽ cho phép chúng ta chịu khốn khổ mãi mãi trong hỏa ngục nếu đó là điều chúng ta muốn.

Chính vì tội trọng là một sự ác tầy trời, nên chúng ta cần biết cái gì làm nên tội trọng. Có ba điều làm thành một tội trọng:

1.         Sự xúc phạm phải là một điều sai quấy cách nghiệm trọng, hay ít nhất chúng ta nghĩ điều đó là điều nghiêm trọng. Bất tuân cách nghiêm trọng 10 giới răn hoặc các giáo huấn và giáo luật của Hội thánh là một tội trọng. Chẳng hạn: Bỏ lễ Ngày Chúa Nhật là một tội trọng, trừ khi có lý do chính đáng như đau ốm bệnh tật hoặc không có một nhà thờ địa phương ở đó. Bỏ lễ Chúa Nhật là một điều sai nghiêm trọng, vì chính Chúa truyền chúng ta phải thờ phượng Người, và Hội thánh nói phải thờ phượng Chúa bằng tham dự lễ Chúa Nhật.

2.         Chúng ta phải biết rõ ràng điều chúng ta đã chọn để nghĩ hay để làm, để nói, hay để không làm, là điều sai quấy cách nghiêm trọng. Chẳng hạn: Nếu thật sự không biết dự lễ Chúa Nhật là một bổn phận nghiêm trọng phải làm, thì không mắc tội trọng khi lỡ không tham dự Thánh Lễ.

3.         Chúng ta phải lựa chọn cách tự do để phạm tội. Tioếp tục vì dụ Thánh Lễ Chúa Nhật, nếu bị hụt Thánh Lễ Chúa Nhật vì xe bị hư trên đường đi đến Nhà Thờ, vì ta không tự do chọn không đi lễ, do đó, không phạm tội. Nhưng nếu vì lười biếng và không muốn ra khỏi giường đúng giờ, và vì thế hụt lễ Chúa Nhật, như thế đã tự do chọn không đi lễ, nên có tội trọng.

Tội Nhẹ

Tội nhẹ là những xúc phạm không nghiêm trọng đến luật thánh của Chúa. Nó làm suy yếu mối quan hệ của chúng ta với Chúa, nhưng không phá hủy mối quan hện ấy như tội trọng. Chúng ta phải cố gắng diệt trừ những tội nhẹ này, vì có thể thành một thói xấu trong chúng ta, dẫn chúng ta dần đến phạm tội trọng. Hãy cố gắng yêu mến Chúa hoàn hảo đến độ chúng ta sẽ không dám làm mất lòng Người ngay cả trong những việc nhỏ mọn.

Vai Trò Của Lương Tâm

Giáo Hội Công Giáo luôn dạy rằng con người phải nghe theo tiếng lương tâm của mình hầu làm việc lành và tránh điều dữ. Với hai chữ lương tâm, chúng ta muốn nói đến khả năng mọi người có để phán đoán điều gì là phải, điều gì là sai trái trong mọi việc làm của chúng ta.

Vì chúng ta phải hành động hợp với lương tâm của mình, nên đào tạo một lương tâm thiện hảo là điều tối quan trọng. Chúng ta đào tạo lương tâm bằng cách học hỏi những gì Hội Thánh dạy và lằng nghe những người mà Thiên Chúa đặt lên để dẫn dắt chúng ta, như cha mẹ, thầy dạy, linh mục vv. . . Nếu bị bối rối không thể phân biệt đúng sai, chúng ta cần phải hỏi cha mẹ hay linh mục về điều đó. Lơn lên trong sự hiểu biết điều phải điều trái rất cần thiết cho Bí Tích Hòa Giải.

Những Chữ Nên Biết

Tội - Cám Dỗ - Dịp Tội - Tội Trọng - Tội Nhẹ - Lương Tâm

Sinh Hoạt

Câu Hỏi:

1.         Tội là gì?

Tội là một sự xúc phạm tới Chúa vì bất tuân lề luật của Người.

2.         Tội trọng là gì?

Tội trọng là hành động bất tuân luật Chúa trong một vấn đề nghiêm trọng, có ý thức hoàn toàn và cố tình làm điều đó.

3.         Tại sao tội trọng còn gọi là tội dẫn đến sự chết?

Tội trọng còn gọi là tội dẫn đến sự chết vì nó làm linh hồn ta mất ơn thánh, là sự sống của linh hồn ta, cướp khỏi linh hồn hết những công nghiệp đã có, và làm mất khả năng đạt được công nghiệp mới, và làm linh hồn đáng bị phần phạt chết đời đời vĩnh viễn trong hỏa ngục.

4.         Tội nhẹ là gì?

Tội nhẹ là một việc bất tuân luật Chúa trong việc nhẹ hơn, hoặc trong một vấn đề cũng quan trọng, nhưng làm không có ý thức hoàn toàn và không cố tình làm.

5.         Tại sao một tội khôngnghiêm trọng gọi là tội nhẹ?

Tội không nghiêm trọng còn gọi là tội nhẹ, nghĩa là có thể tha thứ được, vì nó không làm ta mất ơn Chúa, và vì nó có thể được tha bằng lóng thống hối và các việc lành, dù không đi xưng tội.

6.         Dịp tội là gì?

Dịp tội là bất cứ cái gì đặt ta trong cơ nguy phạm tội, dù đó là một người hay một sự vật.

7.         Chúng ta có buộc tránh dịp tội không?

Có, chúng ta buộc phải tránh các dịp tội. Kẻ nào không tránh các dịp tội, cuối cùng sẽ sa ngã, vì ai yêu thích nguy hiểm, sẽ bỏ mạng trong đó! (Sir 3:25)

**************************************************************

BÀI 15: THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT VÀ THA THỨ

Những vị lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giêsu hình như đã quên sự tha thứ đầy thương yêu mà Thiên Chúa đã tỏ ra cho cha ông của họ. Thay vào đó, họ chỉ nhắc đi nhắc lại cho dân nghe về đức công bình của Thiên Chúa, nhất là về sự trừng phạt mọi tội lỗi chúng ta phạm. Họ nói về Thiên Chúa như thể Người là một quan tòa tàn nhẫn thấy vui trong việc trừng phạt lên án mọi người, ngoại trừ những người có học và đạo đức.

Nhưng khi Chúa Giêsu rao giảng cho những người này, Ngài nói với họ rằng Thiên Chúa đầy lòng thương xót và thứ tha. Thương xót có nghĩa là Thiên Chúa có lòng yêu mến và âu yếm đối với nhân loại yếu đuối. Chúa chúng ta, Thiên Chúa làm người, đã tỏ lòng thương xót ấy trong lúc tiếp xúc với người tội lỗi.

Khi những người tội lỗi đến với Chúa Giêsu, Người không khi nào quên lãng họ hay xử đãi với họ như những người bị xã hội ruồng bỏ. Người làm cho họ cảm thấy được chú ý đến và được yêu thương. Người làm bạn với họ. Người còn kêu gọi họ làm tông đồ, như Matthêô chảng hạn; còn Maria Mađalêna thì trở nên một trong những môn đệ thân cận nhất của Người. Thái độ nhân từ của Chúa Giêsu đối với những người tội lỗi làm cho các vị lãnh đạo Do Thái rất bực mình. Một hôm, họ phàn nàn với các môn đệ của Người rằng: Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với quân thu thuế và tội lỗi? (Mat. 9:11)

Chúa Giêsu bỏ ngoài tai nhận xét đó và nói với họ: Không phải người lành mạnh cần thầy thuốc, nhưng là kẻ đau ốm. Ta không đến kêu gọi những người công chính, mà là những kẻ tội lỗi. (Mat 9:12-13)

Điều Chúa Giêsu muốn nói là Ngài giống như một thầy thuốc luôn lo lắng vì sức khỏe của dân. Ngài là vị lang y của trời, đến để chữa lành bệnh tật do tội lỗi gây ra cho linh hồn chúng ta. Ngài đến để ban ơn tha thứ và giải thoát khỏi tội lỗi của mỗi người trong chúng ta.

Chúa Giêsu Yêu Mến Người Tội Lỗi, Nhưng Ghét Tội

Có vài người nghĩ rằng tình bạn hữu mà Chúa Giêsu có đối với những người tội lỗi nói lên rằng Người tán thành những ước muốn và hành động tội lỗi của họ. Điều này không đúng với sự thật. Người thương yêu mỗi người vì họ được Thiên Chúa tạo dựng nên, và Thiên Chúa truyền dạy chúng ta phải yêu mến mọi người. Nhưng Người ghét mọi tội lỗi và không bao giờ Người nói tán thành tình trạng tội lỗi của họ. Chúng ta có nhớ bài trình thuật trong Tin Mừng kể về người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình không? Vài người luật sĩ và biệt phái sắp sửa giết bà ta. Nhưng Chúa Giêsu nhắc lại cho họ biết rằng họ cũng có tội. Rồi Người bảo người đàn bà ấy rằng: Hãy đi và đừng phạm tội nữa. (Jn 8:11)

Chúng Ta Hết Thảy Cần Thay Đổi Lòng Dạ

Như người đàn bà vừa kể trên, chúng ta hết thảy đứng trước Chúa Giêsu như những người tội lỗi đến với Người để xin ơn tha thứ. Chúng ta đến với Người trong tòa cáo giải và nhờ bí tích giải thoát tội lỗi cho chúng ta. Làm sao chúng ta có thể đi và đừng phạm tội nữa? Bằng cách thay đổi lòng dạ. Nghĩa là cần phải thành tâm cố gắng làm việc lành và tránh phạm tội, dù cho gặp nhiều khó khăn. Còn có nghĩa là chúng ta phải cố gắng nhìn sự vật như Chúa Giêsu nhìn: dành chỗ nhất cho Thiên Chúa trong đời sống chúng ta, chỗ thứ hai cho tha nhân và sau cùng mới đến chúng ta.

Một trong những phương cách thay đổi lòng dạ là dành ra ít phút mỗi ngày hoặc mỗi đêm mà suy nghĩ lại cách chúng ta đã sống trong ngày qua. Hãy ôn cách ngắn gọn Mười Giới Răn của Chúa và xem chúng ta có tuân giữa các giới răn ấy không. Làm như vậy, chúng ta sẽ thấy tội mình thường xuyên hay phạm nhất, và sẽ giúp chúng ta tránh phạm lại trong tương lai. Có một viêc thực hành rất tốt của người Công Giáo được gọi là xét mình để giúp tìm ra các tội của mình và thay đồi lương tâm. Bản Xét Mình có ở cuối chương này.

Một cách thức khác nữa giúp lớn lên trong việc thay đổi lương tâm là nhớ đến lúc chúng ta sẽ chết phải ra đứng trước mặt Chúa để chịu phán xét. Lúc đó chúng ta sẽ không còn thì giờ để thay đổi lối sống nữa. Và chúng ta sẽ đi đến một trong ba nơi này: Thiên Đàng, Hỏa ngục và Luyện ngục. Thiên Đàng dành cho những người đã cố gắng hiểu biết, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa với tất cả tấm lòng và sức lực của họ. Thiên Đàng là hạnh phúc bất tận trước mặt Thiên Chúa. Luyện ngục thì dành cho những người muốn yêu mến Chúa và phụng sự Người ở trần gian nhưng đã không thực sự cố gắng nhiều như họ có thể làm. Luyện ngục sẽ tẩy luyện họ khỏi lòng ích kỷ của họ và chuẩn bị cho họ được vào Thiên Đàng. Hỏa ngục sẽ dành cho những ai chết mà không có lòng yêu mến Chúa. Lúc còn sống, họ chỉ nghĩ tới thỏa mãn các dục vọng ích kỷ của họ và không nghĩ gì đến việc yêu mến Chúa và tuân giữ luật của Người. Hỏa ngục là hình phạt các tội lỗi mà không bào giờ hết. Những kẻ ở Hỏa ngục thì cách xa Thiên Chúa đời đời!

Một phương cách để thay đổi lương tâm là đi xưng tội thường xuyên, ít nhất một tháng một lần. Theo cách ấy, chúng ta sẽ được tha tội và được lãnh nhận sức mạnh cần thiết để có thể tránh tội lỗi trong tương lai. Tuy xưng tội chỉ cần thiết khi chúng ta phạm tội trọng, nhưng xưng tội nhẹ cũng ban cho chúng ta ơn bí tích. Nó giúp cách thiêng liêng trong việc tránh những tội mà chúng ta đã xưng, kể các các tội nhẹ. Cha giải tội cũng sẽ cho chúng ta những lời khuyên để sống đời sống Đạo tốt hơn.

Hãy Vác Thánh Giá Của Con và Theo Ta

Một hôm Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người: Nếu ai muốn theo Ta, thì hãy từ bỏ chính mình, vác khổ giá của mình và hãy theo Ta. (Mat 16:24) Người gọi Ta cũng hãy làm như vậy. Nghĩa là chúng ta phải họ từ bỏ những ham muốn ích kỷ của mình bằng cách làm những việc thống hối. Vài ví dụ thống hối: Không ăn (hoặc không ăn vặt) giữa các bữa cơm, hoặc tình nguyện rửa chén đĩa. Nhờ làm những việc nhỏ mọn ấy mà mình không thích, vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta sẽ củng cố ý chí của mình. Rồi khi cám dỗ phạm tội đến, chúng ta sẽ được chuẩn bị kỹ hơn để nói “KHÔNG” với các cám dỗ.

Thánh Đaminh Saviô, một em thiếu nhi chúng ta đã được nghe chuyện trong một bài trước đây, đã thực hiện việc thay dạ đổi lòng theo phương cách này. Em học ghét tội và yêu mến Chúa bằng cách xét lương tâm mỗi tối, đi xưng tội hàng tuần, rước lễ thường xuyên và từ bỏ những ước muốn ích kỷ nhờ các việc thống hối. Chúng ta cũng có thể dễ dàng thay đổi lòng dạ như vậy!

Những Chữ Nên Biết

Lòng thương xót - Thay đổi lòng dạ - Xét mình - Thống hối

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Làm thế nào để xét mình?

Xét mình là nhớ lại các tội mình đã phạm trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót quên làm, nghịch với các giới răn của Chúa, nghịch vơí lời dạy của Hội thánh, và nghịch với việc bổn phận của mình kể từ lần xưng tội trước.

 

2.         Khi xét mình, có cần tìm biết đã phạm tội bao nhiêu lần không?

Thưa chúng ta phải tìm biết cách kỹ lưỡng đã phạm tội trọng bao nhiều lần.

3.         Ăn năn thống hối là gì?

Thưa là buồn phiền và chê ghét những tội chúng ta đã phạm, và dốc lòng chừa không dám phạm tội nữa.

4.         Có bao nhiêu các thống hối?

Có hai các ăn năn thốnghối: Ăn năn cách trọn và không trọn.

5.         Ăn năn cách trọn là gì?

Thưa là chê ghét các tội chúng ta đã phạm ví xúc phạm đến Chúa là Cha chúng ta, là Đấng tốt lành và yêu thương vô cúng, và vì các tội ấy là nguyên nhân làm cho Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc chúng ta phải chịu nạn và chịu chết.

6.         Tại sao gọi là ăn năn tội cách trọn?

Thưa vì lòng ăn năn ấy phát xuất từ một động cơ trọn lành, nghĩa là tự lòng yêu mến của con cái đối với Chúa, và vì cách này làm cho chúng ta được tha tức khắc các tội đã phạm, cho dù có bổn phận phải xưng tội sau đó.

7.         Ăn năn tội cách chẳng trọn là thế nào?

Thưa là buồn phiền về các tội đã phạm vì sợ sa xuống hỏa ngục và những hình phạt đời này, hoặc cũng vì tội lỗi là xấu xa.

8.         Tại sao lại gọi là Ăn năn tội cách không trọn?

Thưa vì nó phát xuất từ những động cơ không trọn lành, những động cơ dành cho những nô lệ hơn là con cái, và vì nó không nhận được sự tha thứ các tội đã phạm trừ khi đi xưng tội.

9.         Có cần phải thống hối về tất cả các tội lỗi chúng ta đã phạm không?

Có, cần phải thống hối vế tất cả các tội chúng ta đã phạm, không trừ tội nào, và cũng nên ăn năn về cả các tội nhẹ mình phạm nữa.

10.       Tại sao cần phải ăn năn về tất cả các tội trọng của chúng ta?

Thưa vì mỗi tội trọng xúc phạm đến Chúa cách nặng nề, làm chúng ta mất ơn nghĩa thánh và làm chúng ta xa cách Thiên Chúa đời đời.

11.       Mục đích của việc đền tội là gì?

Mục đích của việc đền tội là quyết tâm vững vàng không bao giờ phạm tội nữa và cũng quyết tâm xa tránh dịp tội.

*******************************************************

BÀI 16: BÍ TÍCH GIAO HÒA

Thiên Chúa gọi mỗi người chúng ta lãnh nhận đời sống mới trong Người, đời sống ơn thánh hóa. Chúng ta lãnh nhận sự sống này lần đầu trong nước Rửa tội, được sạch tội và trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần. Nhưng còn về những tội chúng ta phạm sau khi chịu Rửa tội thì sao? Làm thế nào để được tẩy sạch lần nữa? Nhờ Bí tích Giải tội kỳ diệu (còn gọi là Hòa Giải) là ân huệ của tình thương và lòng lân tuất của Chúa đối với dân Người.

Trong đêm Chúa Giêsu phục sinh, Ngài đã hiện ra cho các tông đồ của Ngài và ban cho họ quyền năng để cử hành Bí Tích này. Thánh Gioan, một nhân chứng nhãn tiền của biến cố ấy đã thuật lại:

Vào lúc xế chiều, ngày thứ nhất trong tuần, nơi ở của các môn đồ các cửa đều đóng kín, vì sợ người Do Thái, Chúa Giêsu đã đến, đúng giữa họ và Ngài nói: Bình an cho các con! Nói thế rồi, Ngài cho họ thấy tay và cạnh sườn Ngài. Các môn đệ mừng rỡ, vì được thấy Chúa. Một lần nữa, Ngài nói với họ: Bình an cho các con! Cũng như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Nói thế rồi Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì tội họ được tha; các con cầm tội ai, thì tội họ bị cầm giữ. (Jn 20:19-23)

Bởi những lời này, Chúa Giêsu ban cho các tông đồ quyền tha tội, một quyền chỉ có Thiên Chúa mơí làm được! Điều ấy làm sao được? Vì Chúa Giêsu thông chia cho họ sứ mạng của Ngài là Đấng Cứu Thế. Họ phải đi khắp thế gian để tha tội như Ngài đã làm. Chúa Kitô đã thông chia cho họ quyền giảng dạy và cũng ban cho họ quyền năng biến bánh và rượu thành Thịt và Máu Ngài, thì bây giờ Ngài cũng ban cho họ quyền tha tội. Thánh Phaolô nhắc lại cho các tín hữu đầu tiên vế quyền năng này của chức linh mục: Chính Thiên Chúa là Đ6áng trong Đức Kitô mưu cuộc giao hòa chúng ta với chính mình Người và ban cho chúng tội sứ mạng loan báo ơn giao hòa. Việc này làm chúng tôi trở nên sứ giả của Chúa Kitô. Như thế, chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. (2Cor 5:19-20)

Tìm Hiểu Bí Tích Giao Hòa

Chúng ta có thể hiểu Bí Tích này hơn bằng cách suy niệm lại lời Chúa Giêsu đã dùng khi ban Bí Tích này cho Giáo Hội.

Bình an cho các con: Lời này nói lên rằng Chúa Giêsu ban cho ta Bí tích như là một phương thế để có bình an thật sự trong đời sống chúng ta. Nhờ Bí Tích này, Ngài xóa hết tội lỗi chúng ta, và giải thoát lương tâm tội lỗi của chúng ta đã làm chúng tamất sự bình an nội tâm.

Như Cha đã sai Con: Lời này nhắc chúng ta rằng Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa Cha. Sứ giả là người được người khác sai đi để nói ra một sứ điệp quan trọng. Sứ điệp mà Chúa Giêsu đem lại cho chúng ta là Tin Mừng Cứu Độ - là chân lý làm cho chúng ta được cứu khỏi tội lỗi và hỏa ngục nếu chúng ta muốn theo Người.

Vậy Ta cũng sai các con: Lời này nhắc lại đoạn thư Thánh Phaolô chúng ta vừa đọc, trong đó thánh Phaolô tự gọi mình và những linh mục là những sứ giả của Chúa Kitô. Như Cha đã sai Chúa Giêsu để tha tội chúng ta, thì bây giờ Chúa Giêsu cũng sai các linh mục của Ngài làm như vậy.

Hãy nhận lãnh Chúa Thánh Thần: Hãy nhớ lại chương về Bí Tích Thêm Sức nói đến Chúa Thánh Thần đầy quyền năng. Đây là quyền năng của Thiên Chúa và chỉ quyền năng ấy mới có thể tha tội. Khi đi xưng tội, linh mục tha tội cho chúng ta bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Linh mục không thể tự ý làm gì được, vì linh mục cũng là một người và cũng có tội như mọi ngươì, nhưng với tư cách là linh mục, ngài có quyền năng này.

Nếu các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha: Lời này nhắc chúng ta là: Chúa Giêsu có ban cho các tông đồ thật sự quyền tha thứ tội và gia hòa. Rồi đến phiên các ngài lại trao quyền này cho các linh mục khác cho tới ngày nay. Chúng ta không phải thắc mắc làm sao Thiên Chúa tha tội cho chúng ta khi đi xưng tội, vì chúng ta nắm vững lời Chúa Giêsu đã nói!

Nếu các người cầm buộc ai, thì tội người ấy bị cầm buộc: Lời này nhắc chúng ta rằng linh mục cũng có thể từ chối không tha tội cho chúng ta. Nếu ngài đòi chúng ta phải từ bỏ một việc làm tội lỗi là chúng ta nói không được, thì ngài sẽ không giải tội cho chúng ta. Tại sao? Vì việc đó chứng tỏ chúng ta không thật sự thống hối tội lỗi; và còn muốn phạm tội đó nữa. Tội chỉ được tha khi nào chúng ta có lòng thống hối thật sự và hứa sẽ tránh các tội ấy trong tương lai.

Dấu và Hiệu Quả của Bí Tích Giao Hòa

Cũng như các Bí tích khác, Bí tích Giải tội có dấu riêng của nó. Dấu của việc Sám hối, trước tiên là xưng tội, hay nói ra cho linh mục nghe những tội của chúng ta..tội, mà linh mục vừa đọc vừa làm dấu Thánh Giá trên chúng ta.

Dấu này nói cho biết Bí tích Giải Tội ban cho linh hồn chúng ta những hiệu quả nào. Dấu của việc khai thú tội cho thấy là các tội chúng ta vừa khai ra sẽ được tẩy sạch. Dấu của lời giải tội cho biết là các tội ấy đã được tha. Dấu Thánh Giá mà linh mục làm trên người chúng ta với tay của ngài nói lên rằng các tội lỗi được tha chỉ vì Chúa Giêsu đã chịu chết trên Thánh Giá vì các tội ấy. Nếu biết dọn mình đúng mức để lãnh nhận Bí tích này thì Chúa sẽ làm những sự lạ lùng cho chúng ta.

Thứ nhất, Người tẩy sạch các tội lỗi chúng ta đã xưng ra, và phục hồi đời sống ơn thánh cho linh hồn nếu chúng ta đã làm mất nó vì tội trọng. Nếu chỉ có những tội nhẹ để xưng, Chúa gi a tăng ơn thánh Người trong chúng ta và củng cố tình nghĩa của chúng ta với Người. Nếu không làm mất sự sống của chúng ta với Chúa vì tội trọng, thì cũng là việc tốt lành khi lãnh nhận bí tích Hòa Giải.

Thứ hai, Bí tích này còn xóa phần phạt mà chúng ta đáng chịu vì tội mình đã phạm. Dĩ nhiên hình phạt này được tha nhiều hay ít là tuỳ lòng thống hối của chúng ta nhiều hay ít và đã dốc lòng chừa tội trong tương lai đến mức nào. Hình phạt này giống như hình phạt cha mẹ ra cho chúng ta khi bất tuân lời các ngài. Nếu cha mẹ thấy chúng ta đang cố gắng thật sự ăn năn vì những gì đã làm ngịch lại sự mong đợi của các ngài và chúng ta đang cồ gắng đền bù lại sự bất tuân, thì các ngài sẽ giảm bớt hình phạt, hay còn có thể huỷ bỏ luôn nữa. Với tội đã phạm, chúng ta có thể đền bù hoặc ở đời này bằng lời cầu nguyện và những việc ăn năn, hoặc trong đời sau bằng chịu tẩy luyện ở luyện ngục.

Cuối cùng, trong Bí Tích Giao Hòa, Chúa ban cho chúng ta tất cả những hiện sủng cần thiết để có thể làm việc lành và tránh tội trong tươn glai. Người ân thưởng lòng trung thực của chúng ta khi đi xưng tội bằng những ơn trợ giúp cần thiết để lướt thắng nhữngt ham mưốn và hành động tội lỗi chúng ta đã xưng ra. Chẳng hạn, nếu chúng ta đã xưng tội nói dối và phạm những hành động lỗi đức thanh tịnh, Chúa sẽ ban sức mạnh để chúng ta trung thành và thanh tịnh trong những ngày sắp tới.

Phải Làm Gì Để Xưng Tội Nên

Cần làm 5 việc sau đây:

Xét Mình: trước khilãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. Việc này giúp nhìn nhận mọi tội lỗi của mình.

Thành thật thống hối ăn năn các tội đã phạm. Lòng thống hối thành thật căn cứ vào việc đã làm mất lòng Chúa, Đấng yêu thương ta vô cùng. Không có lòng thống hối chân thật, tội chúng ta sẽ không được tha.

Quyết tâm tránh xa tội lỗi và các dịp tội trong tương lai. Nếu không định chừa bỏ các ước muốn xấu xa và những hành vi tội lỗi, thì sẽ xưng tội không nên, và linh hồn vẫn còn mắc tội như cũ.

Thành thật xưng thú hết mọi tội lỗi với linh mục, không được cố ý dấu một tội nào vì hổ thẹn hay ngượng nghịu... Hãy nhớ rằng linh mục không rầy la hay nghĩ chúng ta là người xấu (và ngài tuyệt đối không được phép tiết lộ tội của chúng ta cho bất cứ ai, vì đó là ấn tín tòa giải tội). Ngài ngồi đó để ban cho chúng ta sự tha thứ của Chúa và ngài vui mừng vì chúng ta có lòng trung thực và can đảm mà đến tòa giải tội.

Làm việc đền tội mà linh mục ra cho. Thường thường là vài ba kinh đọc hoặc một việc làm giúp chúng ta đền bù tính ích kỷ khi phạm tội...

Nghi Thức Giải Tội

Giống như các Bí Thức khác, việc cử hành bí tích giải tội cũng theo một nghi thức. Luôn luôn có một cách thức chung phải theo, dù ngồi đối diện xưng tội với linh mục hay trong tòa kín.

Trước hết, khi bước vào tòa giải tội, linh mục đón chúng ta bằng một lời chào hỏi. Chúng ta bắt đầu làm dấu thánh giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen

Rồi linh mục có thể đọc một đoạn sách thánh; hoặc có thể mời chúng ta xưng tội ngay. Hãy nói đã xưng tội lần cuối cách đó bao lâu. Rôi khai thú các tội của mình, tội trọng trước, tội nhẹ sau, nếu có phạm. Cần phải nói đã phạm bao nhiêu lần và những chi tiết cần thiết khi phạm những tội đó.

Sau khi xưng tội xong, linh mục sẽ cho lời khuyên để sống đời Kitô hữu tốt hơn. Sau đó, linh mục có thể cho việc đền tội. Nếu là một kinh phải đọc, thì nên đọc trước khi ra về (tức ra khỏi nhà thờ). Nếu là một việc lành phải làm, hãy cố gắng làm việc lành ấy càng sớm càng tốt.

Trước khi ban Lời Tha Tội (absolution), linh mục sẽ yêu cầu người xưng tội tỏ lòng thống hối bằng việc đọc kinh ăn năn tội (hoặc nói ít lời thống hối với Chúa), rồi linh mục sẽ tha tội: (Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, đã giao hòa trần gian với Người qua cái chết và sự sống lại của Con Một Người; lại đã sai Chúa Thánh Thần đến để ban ơn tha thư tội lỗi. Qua thừa tác viên của Giáo Hội, xin Chúa ban cho con ơn tha thứ và bình an. Giờ đây cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen)

Linh mục sẽ chào từ giã với lời nguyệt tắt như: Hãy cảm tạ Chúa, vì Người là Đấng tốt lành. Người xưng tội đáp lại: Lòng thương xót của Người tồn tại đến muôn đời.

Những Chữ Nên Biết

Dấu của việc sám hối - Xưng tội - Giải tội - Tòa giải tội - Kinh ăn năn tội

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Giải tội là gì?

Giải tội là bí tích do Chúa Giêsu đã lập để tha thứ các tội chúng ta đã phạm sau khi chịu bí tích rửa tội.

2.         Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Giải Tội khi nào?

Thưa khi Ngài nói với các tông đồ, và qua các tông đồ, với các người kế vị họ rằng: Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. Các ngươi cầm buộc tội ai, thì tội người ấy bị cầm buộc. (Jn 20:22-23)

3.         Ai là thừa tác viên Bí Tích Giải Tội?

Thưa là một linh mục đã được đức giám mục ban quyền giải tội.

4.         Muốn xưng tội nên thì phải làm những gì?

Thưa phải làm 5 việc này:

-           Xét mình

-           Thống hối, ăn năn tội mình đã phạm

-           Dốc lòng chừa

-           Xưng tội mình ra với linh mục

-           Làm việc đền tội.

5.         Khai thú tội (xưng tội) là gì?

Thưa là nói những tội mà mình đã phạm (từ lần xưng tội trước) cho cha giải tội, để có thể lãnh nhận phép Giải tội.

6.         Phải buộc xưn gthú những tội nào?

Thưa buộc phải xưng hết các tội trọng từ trước đến nay chư axưng; hoặc chưa xưng đúng cách mà hội thánh dạy. Nếu có tội nhẹ mà xưng là một điều rất đáng làm.

7.         Phải xưng các tội trọng cách nào?

Thưa phải xưng cách đầy đủ, không để tính xấu hổ thắng ta, làm ta che giấu một vài tội trọng nào đó. Chúng ta cần phải khai thú về loại tội gì và số tội, cả những hoàn cảnh có thể làm ra một tội trọng mới.

8.         Nếu không nhớ rõ số tội trọng đã phạm thì phải làm gì?

Lúc đó phải nói cho Cha giải tội biết con số gần đúng nhất.

9.         Tại sao không được giấu tội vì xấu hổ?

Vì chúng ta xưng tội đó ra với Chúa Giêsu qua bản thân linh mục giải tội, và vị linh mục này không thể tiết lộ một tội nào cho dù phải hy sinh mạng mình. Hơn nữa nếu giấu tội trọng, thì sẽ không được tha về tội ấy và cũng sẽ xấu hổ trước mặt mọi người trong ngày phán xét chung.

10.       Khi giấu tội trọng vì xấu hổ hay vì bất cứ lý do gì, có xưng tội nên không?

Thưa sẽ xưng tội không nên, mà còn phạm thêm tội phạm sự thánh.

11.       Khi xưn g tội không nên thì phải làm gì?

Thư aphải đi xưng tội lại và cũng xưng tội phạm sự thánh mà mình đã phạm.

12.       Khi bỏ sót hay quên một tội trọng mà không cố ý, thì có xưng tội nên không?

Thưa vẫn xưng tội nên, nhưng buộc phải xưng tội quên hay sót đó trong lần xưng tội tới.

13.       Giải tội là gì?

Thưa là lời phán quyết bởi đó, linh mục nhân danh Chúa Giêsu tha tội cho người xưng tội, khi nói: Cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen

14.       Khi tội được tha bởi lời giải tội, phần phạt đáng chịu vì tội có được tha luôn không?

Khi tội xưng ra được tha bởi lời giải tội, thì phần phạt đời đời đáng chịu vì tội đã phạm cũng được tha luôn. Nhưng nếu không có lòng ăn năn hối cài cách trọn, thì thường vẫn còn phải đền bù cách nào đó ở đời này hoặc đời sau.

15.       Đền tội là gì?

Thưa là một việc lành do cha giải tội dạy làm để phạt và sửa trị người có tội và để xóa bỏ phần phạt đáng chịu vì tội đã phạm.

16.       Lúc nào là thời gian thuận tiện để làm việc đền tội?

Thưa nên làm càng sớm càng tốt, trừ khi cha giải tội ấn định thời gian đặc biệt để làm việc ấy.

***********************************************************

BÀI 17: BÍ TÍCH XỨC DẦU

Ngay quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh đã dạy chúng ta rằng đau khổ và bệnh tật là hậu quả của tội nguyên tổ. Trước khi có tội này, Adam và Eva không có đau khổ, bệnh tật hay phải chết.

Khi Chúa Giêsu đến trong thế gian, Ngài có một tình thương và sự ân cần đặc biệt đối với các bệnh nhân và những người sắp qua đời. Ngài đã làm nhiều phép lạ để cứu giúp những người đau khổ này. Ngài đã làm cho người mù được thấy, người câm nói được, gân cốt người bất toại được mạnh lại, và Ngài làm cho cả người chết được sống lại. Bạn có thể hình dung ra được nỗi vui mừng tràn ngập tâm hồn mọi người khi họ thấy những bạn bè đau yếu của họ được chữa lành hoặc các thân nhân của họ bị bại xụi lại đi được không? Chắc họ phải kêu lớn lên rằng: Tin Mừng đã đến với chúng ta thật rồi!

Nhưng đối với Chúa Giêsu, cứu chữa linh hồn còn quan trọng hơn nữa. Ngài đã không chữa cho tất cả mọi người, vì những lý do chỉ một mình Ngài biết thôi. Để tỏ cho thấy rằng Ngài không bỏ rơi những người bệnh và những người đau khổ, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhận. Nhờ bí tích này, Ngài ban cho những chi thể đau khổ của Giáo Hội sự nâng đỡ thiêng liêng hầu giúp họ biết lợi dụng sự đau khổ của mình mà đạt tới sự trọn lành về phần thiêng liêng, để chữa lành họ nếu đó là thánh ý Chúa, và để chuẩn bị họ chết lành khi giờ chết đến.

Chúa Giêsu Thông Chia Quyền Năng Chữa Bệnh Của Ngài

Trong thời gian Chúa Giêsu rao giảng tại thế, Ngài có một tình thương và sự ân cần đặc biệt đối với các bệnh nhân và các người sắp qua đời. Ngài đã làm nhiều phép lạ để cứu giúp những người đau khổ này. Ngài đã làm cho người mù được thấy, người câm nói được, gân cốt người bất toại được mạnh lại, và Ngài làm cho cả người chết được sống lại. Bạn có thể hình dung được nỗi vui mừng tràn ngập tâm hồn mọi người khi thấy những bạn bè đau yếu của họ được chữa lành, hoặc các bệnh nhân của họ bị bại xụi lại đi được không? Chắc họ phải kêu lớn lên rằng: Tin Mừng đã đến với chúng ta thật rồi!

Nhưng đối với Chúa Giêsu, cứu chữa linh hồn còn quan trọng hơn nữa. Ngài đã không chữa cho tất cả mọi người, vì những lý do chỉ mình Ngài biết mà thôi. Để tỏ cho thấy rằng Ngài không bỏ rơi những người bệnh và những người đau khổ, Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Nhờ bí tích này, Ngài ban cho những chi thể đau khổ của Giáo Hội sự nâng đỡ thiêng liêng để giúp họ lợi dụng sự đau khổ của mình đạt tới sự trọn lành về phần thiêng liêng, chữa lành họ nếu đó là ý Chúa, và chuẩn bị họ chết lành khi giờ chết đến.

Chúa Giêsu Thông Chia Quyền Năng Chữa Bệnh Của Ngài

Trong thời gian Chúa Giêsu rao giảng tại thế, Ngài đã thông chia cho các môn đệ quyền năng chữa bệnh của Ngài. Thánh Marcô, một bạn thân của thánh Phêrô tông đồ, đã kể lại việc này như sau:

Chúa Giêsu gọi nhóm mười hai lại và sai đi từng hai người một. Ngài ban cho các ông quyền trừ quỷ... Các ông đi rao giảng kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh. (Mc 6:7,12-13)

Sau khi Chúa Giêsu sống lại, các môn đệ của Ngài tiếp tục sử dụng quyền năng chữa bệnh này trong Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Thư thánh Giacôbê tông đồ kể lại rằng các linh mục thường dùng dầu thánh và đọc những kinh đặc biệt để tha tội cho bệnh nhân và ngay cả phục hồi sức khỏe cho họ nữa:

Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các vị kỳ mục của Hội thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh, người ấy sẽ được Chúa cho bình phục, và nếu đã phạm tội thì sẽ được Chúa thứ tha. (Giacôbê 5:14-15)

Nhiếu người Công giáo không nghĩ rằng bí tích này có năng lực chữa lành họ cả xác lẫn hồn. Dĩ nhiên, điều này còn tuỳ thuộc vào ý định mà Thiên Chúa đã có về sự sống của người bệnh nữa. Có thể sự đau khổ mà một người phải chịu, giúp họ đền các tội của họ và khi họ chết, họ có thể lên thẳng Thiên Đàng. Hoặc có thể đây là lúc họ phải rời thế gian này mà về quê thật của họ để ở cùng Chúa. Nhưng sự kiện này vẫn còn: đó là có nhiều linh mục đã chứng kiến Bí tích Xức Dầu có hiệu quả chữa lành cả thể xác thực sự.

Mục Đích Của Bí Tích Này

Suốt 12 thế kỷ đầu của Kitô giáo, Bí tích này được coi là một bí tích để chữa lành cả xác lẫn hồn. Các Kitô hữu lãnh nhận bí tích này mỗi khi bị bệnh năng hoặc trong cơn nguy tử có thể qua đời.

Nhưng rồi có vài người bắt đầu có thái độ kỳ lạ đối với việc xức dầu. Họ coi đó như một dấu hiệu chắc chắn phải chết, và vì thế họ không muốn mời các linh mục đến xức dầu cho các thân nhân đau yếu của mình nữa! Họ trì hoãn bí tích này đến giờ phút cuối cùng (có khi bệnh nhân hôn mê và sắp chết), và do đó, Bí tích này được gọi là “Nghi Thức Sau Hết!”

Ở thời đại chúng ta, Giáo hội muốn chúng ta không nên sợ việc xức dầu hoặc để hoãn lại đến phút sau cùng của giờ chết. Bí tích này có mục đích giúp bệnh nhân dọn mình chờ đón cái chết có thể xảy ra, bằng cách tẩy sạch tội và đem lại an bình cho tâm hồn bệnh nhân. Bí tích này giúp người lãnh nhận biết chập nhận ý định của Chúa về đời họ và giúp họ chết lành thánh, nếu đó là ý Chúa. Nhờ bí tích này, các bệnh nhân và những người cao niên được gặp gỡ Chúa Giêsu. Ngài đến để ban cho họ bình an và sự an ủi của Ngài. Công Đồng Vatican II xác định:

Bí tích Xức Dầu phải được cử hành, không phải lúc sắp chết, nhưng là khi người Kitô hữu bắt đầu có nguy cơ chết vì bệnh hay vì tuối già. (Sacrosanctum concilium, III, 73)

Dấu và Hiệu Quả của Bí Tích Xức Dầu

Dấu hiệu đặc biệt của Bí Tích này gồm có:

- Việc xức dầu với kẻ chết

- Kinh nguyện kém theo mà linh mục đọc đang khi xức trán và hai tay bệnh nhân:

Bằng việc xức dầu thánh này, xin Chúa nh6an từ cứu chữa con, nhờ ơn Chúa Thánh Thần. Amen. Xin Chúa giải thoát con khòi mọi tội lỗi, cứu chữa và làm cho bệnh tật con được thuyên giảm. Amen. (Nghi thức Xức Dầu)

Tứ dấu này, chúng ta có thể nói cái gì đang xảy ra cho người lãnh nhận bí tích này. Trước hết, người ấy được tăng cường sức mạnh thiêng liêng để chấp nhận ý định của Chúa về đời họ. Trong buổi sơ thời của Giáo Hội, “dầu” được coi như một vật ban sức mạnh. Các lực sĩ Hy Lạp thường dùng dầu để thoa trên các cơ bắp của họ trước khi chạy hay tham dự một môn thể thao nào.

Dấu đã được làm phép là một dấu chỉ sức mạnh của Thiên Chúa và quyền năng của Chúa Thánh Thần. Kế đến các tội nhẹ của bệnh nhân được tha hết.. . và cả các tội trọng nữa, nếu người ấy không thể xưng tội được- điều này chuẩn bị cho bệnh nhân để về Thiên Đàng khi họ chết. Khi linh mục xức dầu trên trán, nhắc chúng ta phải thống hối những tội về tư tưởng; và khi xức dầu trên hai bàn tay nhắc chúng ta thống hối về những tội trong hành động.

Nghi Thức Xức Dầu

Có thể cử hành Bí Tích Xức Dầu bất cứ nơi nào: trong bệnh viện, trong nhà thờ, tại nơi xảy ra tai nạn, hoặc trong nhà tư. Ta hãy thửa xem bí tích này cử hành trong nhà bệnh nhân như thế nào.

Khi mời linh mục đến, gia đình bệnh nhân trải một tấm khăn trắng trên một cái bàn nhỏ. Trên bàn đặt một cây thánh giá, hai cây nến cháy và một chén nước nhỏ. Linh mục sẽ đem các thứ khác lại.

Khi bước vào nhà, linh mục xin Chúa ban ơn lành xuống cho mọi người và rảy nước thánh phòng của bệnh nhân. Rôi Ngài giải thích mục đích và ý nghĩa của bí tích này cho cả gia đình nghe.

Tiếp đó, hoặc là bệnh nhân lãnh nhận bí tích giải tội hoặc là mọi người hiện diện tham dự nghi thức sám hối chung. Khi mọi người đọc kinh cáo mình rồi, thì đọc một đoạn trong Sách Thánh nói về việc chữa lành và ơn tha tội. Rồi đến lúc ban chính phép Bí Tích. Linh Mục xức dầu bệnh nhân với dầu kẻ liệt và đọc lời kinh chúng ta vừa đọc. Sau khi xức dầu, ngài cho bệnh nhân rước Mình Thánh Chúa và cũng cho những ai hiện diện tại đó muốn rước. Nghi thức làm phép Xức Dầu tại nhà kết thúc bằng phép lành của linh mục.

Các Ân Xá

Người ta thường lãnh nhận bí tích này vào lúc tuổi già. Nhưng chúng ta không nên chờ đến phút đó để chuẩn bị chết lành thánh. Chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ bằng việc cầu nguyện hằng ngày, bằng cách thường xuyên lãnh nhận các bí tích và tích trữ cho mình “kho tàng trên Trời,” (Mt 6:20) như Chúa Giêsu nói về tất cả lời cầu nguyện và các việc lành của chúng ta.

Một cách thức chúng ta có thể làm việc này là lãnh nhận các ân xá. Đó là những của cải thiêng liêng làm rút ngắn hay ngay cả việc xóa bỏ thời gian ở trong luyện tội để đền tội chúng ta đã phạm. Tất cả những kinh nguyện và việc lành của chúng ta đều làm Chúa vui lòng. Giáo hội nhắc chúng ta điều này khi đặt những ân xá vào một số kinh nguyện và việc lành. Khi chúng ta đọc những kinh nguyện này hoặc thực hiện những việc lành cách sốt sắng, chúng ta đang chứng tỏ lòng mến Chúa của mình và như thế Người sẽ giảm phạt các hình phạt đã phạm vì tội. Các ân xá chia làm ơn toàn xá (xóa hết mọi hình phạt) và ân xá thường (chỉ xóa một phần).

Những Chữ Nên Biết

Xức dầu- Dầu kẻ liệt - Dấu của việc xức dầu - Ân xá .

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Xức dầu bệnh nhân là gì?

Xức dầu bệnh nhân là bí tích được Chúa Giêsu thiết lập để ban sức mạnh thiêng liêng và cả sức mạnh phần xác cho người Kitô hữu bị bệnh nặng.

2.         Ai là thừa tác viên ban Bí tích Xức Dầu?

Thưa là linh mục, cha xứ của họ đạo hoặc một linh mục nào khác đã được phép của ngài.

3.         Linh mục xức dầu bệnh nhân cách nào?

Thưa ngài xức trên trán và hai bàn tay bệnh nhân với dầu oliu đã được Đức Giám mục làm phép hay một linh mục trong trường hợp khẩn cấp. Ngài vừa xức dầu vừa nói: Nhờ việc xức dầu thánh này, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần, xin Chúa nhân từ cứu chữa con. Amen. Xin Chúa giải thoát con khỏi mọi tội lỗi và làm cho bệnh con được thuyên giảm. Amen

4.         Bí tích Xức dầu sinh nhữnh hiệu quả nào?

Bí tích xức dầu:

- Tăng ơn thánh hóa,

- Tẩy sạch các tội nhẹ và kể cả những tội trọng, nếu bệnh nhân không thể nói ra

được, miễn là người ấy có lòng thống hối, tuy không trọn,

- Ban sức mạnh để nhẫn nại chịu đựng đau khổ người ấy đang chịu, để chống trả

mọi chước cám dỗ, và trong một số trường hợp, được chết lành thánh,

- Và sau cùng, bí tích này cũng giúp phục hồi sức khỏe phần xác, nếu việc này

có ích cho linh hồn.

5.         Khi nào có thể xức dầu bệnh nhân?

Có thể cử hành bí tích xức dầu bệnh nhân mỗi khi một người ở trong điều kiện sức khỏe nguy hiểm hoặc mắc bệnh nặng, hoặc vì tuổi già.

 

6.         Ân xá là gì?

Ân xá là sự tha phần phạt do tội đã phạm của chúng ta gây ra. Hội thánh ban ân xá theo những điều kiện nào đó cho những người đang sống trong ơn thánh Chúa, bằng cách áp dụng cho họ công nghiệp dư dật của Chúa Giêsu, của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh. Những công nghiệp này tạo thành kho tàng của Hội thánh.

7.         Có mấy loại ân xá?

Có hai loại: Ân toàn xá và ân xá thường.

8.         Ơn toàn xá là gì?

Là ơn tha hết mọi hình phạt do tội gây ra.

9.         Ân xá thường là gì?

Là ơn chỉ tha một phần hình phạt phần xác do tội chúng ta đã phạm.

10.       Muốn lãnh nhân ân xá phải có những điều kiện nào?

Thưa phải có ơn thánh trong linh hồn và phải làm những việc lành được chỉ định để lãnh ân xá. Ngoài ra còn cần phải: Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng; Xưng tội và rước lễ trong vòng 8 ngày; và không còn ham thích tội nhẹ nữa.

*******************************************************

BÀI 18: BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

Đến đoạn này chúng ta đã học được 5 Bí Tích: Rửa tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Giải Tội và Xức Dầu. Ba Bí Tích đ6àu được gọi là những Bí Tích khai tâm, vì nó dẫn chúng ta vào Hội Thánh và cho tham dự vào Hội thánh đầy đủ hơn. Hai Bí tích sau được gọi là những Bí tích chữa lành, vì xức dầu tăng cường cách đặc biệt tình bằng hữu với Chúa nơi những người đau yếu, và bí tích giải tội phục hồi sự sống Thiên Chúa trong linh hồn chúng ta, nếu có lần đã mất vị phạm tội trọng.

Trong hai chương này, chúngg ta sẽ học hỏi về những bí tích phục vụ: Bí tích Truyền Chức Thánh và Hôn Phối. Nhờ những nghi thức thánh này, người Công giáo được Chúa gọi vào phụng sự Người và truyền bá Tin Mừng hoặc với tư cách là linh mục hoặc với tư cách là những người có gia đình. Các linh mục phụng sự Chúa bằng cách rao giảng Lời Chúa và ban các phép Bí Tích cho người Công Giáo. Những người có gia đình phụng sự Chúa bằng cách xây dựng những gia đình làm chứng ta cho Chúa Giêsu và đời sống Công Giáo ở giữa thế gian này, và bằng cách giúp đỡ nahu sống một đời sống thánh thiện.

Chương này sẽ bàn về Bí tích Truyền Chức Thánh. Với công việc đem ơn cứu độ cho mọi người, chúng ta sẽ thấy chức linh mục Công Giáo quan trọng cho Hội Thánh thế nào.

Chúa Giêsu Ban Cho Chúng Ta Bí Tích Truyền Chức Thánh

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu làm cho 12 tông đồ trở thành những linh mục đầu tiên của Giáo Hội Ngài. Khi thành lập Phép Thánh Thể, Ngài nói với họ: Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. (Lc 22:19)

Lời truyền: Hãy làm việc này có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô đã ban cho họ được tham dự vào quyền năng tư tế của Ngài hầu họ có thể dâng lễ hy sinh trên bàn thờ. Cùng với chức linh mục, Mười hai cũng thành những Giám Mục. Các giám mục nhận lãnh từ nơi Chúa Giêsu sự sung mãn của chức linh mục và bổn phận truyền chức linh mục cho những người xứng đáng. Thánh Clêmentê thành Rôma, là một bạn thân của các tông đồ và là vị giáo hòng thứ tư, đã viết về việc truyền chức linh mục như sau:

Nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, các tông đồ biết rằng các ngài phải chỉ định những người khác để thay thế các ngài với chức vị Giám mục trong Hội thánh. Các ngài cũng dạy những vị này hãy chọn những kẻ kế vị họ.

Việc truyền chức thánh được gọi là Tông Truyền. Điều này làm chúng ta tin rằng các vị giám mục của chúng ta bây giờ đã lãnh nhận thừa tác vụ của các ngài trực tiếp từ tay Chúa Giêsu qua 12 vị tông đồ. Chính vì lý do đó mà chúng ta có thể coi các giám mục của chúng ta là những người kế vị các thánh Tông Đồ.

Một Vương Quốc Linh Mục

Thánh Phêrô nói rằng tất cả mọi Kitô hữu được tham dự vào chức linh mục của Chúa Giêsu. Trong thư thứ nhất của ngài gửi cho tất cả các tín hữu, Ngài nói: Còn anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, dân riêng của Thiên Chúa. (1Pet 2:9)

Điều này nhắc chúng ta rằng tất cả chúng ta đều thành linh mục trong Phép Rửa Tội, nhưng chúng ta phải nhớ rằng có nhiều cách để thực hiện chức linh mục chung này. Các giáo dân, bao gồm cả các nam nữ tu sĩ trong các cộng đoàn tu sĩ, thi hành chức linh mục của họ bằng cách dự Thánh Lễ và thờ phượng Chúa qua các kinh nguyện riêng tư. Sự kiện này được gọi là chức tư tế của giáo dân, và khác với chức linh mục được tấn phong mà một số người nhận lãnh qua việc truyền chức thánh.

Để được lãnh Bí tích này, người ta phải được Chúa kêu gọi. Phải có một sự kêu gọi đặc biệt vì đời sống linh mục rất khó khăn. Chỉ có những người được Chúa chọn để phụng sự Người trong đời sống này mới có thể sống trung thành.

Các Bậc Chức Thánh

Hầu hết các người Công Giáo không nghĩ được rằng chức thánh có ba cấp bậc khác nhau, và được gọi là Phẩm Trật, do từ ngữ Hy Lạp có nghĩa là những cấp bậc quyền bính.

Cấp bậc cao nhất của chức thánh là chức thánh của các Giám Mục. Các ngài lãnh nhận phẩm chức tư tế trọn vẹn. Chính vì thế chỉ có giám mục mới có thể tuyển chọn chức linh mục cho kẻ khác. Các ngài là bậc thầy chính thức giảng dạy về đức tin trong giáo phận của các ngài. Mọi người Công giáo phải tôn kính và vâng phục giám mục sở tại.

Cấp bậc tiếp theo là chức linh mục. Cha xứ và cha phó của bạn thuộc về cấp bậc này. Các ngài là những phụ tá của Đức Giám mục trong việc rao giảng Lời Chúa, giáo huấn đức tin và ban các phép bí tích. Mọi linh mục đều hức vâng lời giám mục của mình. Linh mục được gọi nên thánh vì con đường tốt để dẫn dắt những kẻ khác lên thiên đàng.

Những chi thể khác trong cấp bậc thấp nhất của chức thánh phó tế. Các phó tế là những người được truyền chức trước tiên trong Hội Thánh bởi các tông đồ, như thánh Luca đã thuật lại:

Trong những ngày ấy, bởi môn đồ đã nên đông đão, những người gốc Hy Lạp kêu trách rằng những người góa bụa trong nhóm họ đã bị bỏ quên trong việc phân chia thực phẩm hàng ngày, nếu so sánh với những người góa bụa nói tiếng Do Thái. Vậy nên 12 vị mới triệu tập đoàn thể các môn đồ lại mà nói: Nếu chúng tôi sao lãng Lời Thiên Chúa mà đi lo giúp việc bàn ăn thì là điều không phải lẽ. Vậy anh em hãy lựa chọn lấy giữa anh em bảy người được thừa nhận, đầy thần khí và khôn ngoan, để chúng tôi bổ nhiệm vào chức vụ ấy. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ lo chuyên chăm cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa. . . Họ đề cử những người ấy với các tông đồ, và các ngài đã cầu nguyện và đặt tay cho các ông. (Acts 6:1-4,6)

Sự kiện này chứng tỏ các phó tế được gọi để phục vụ Hội thánh bằng cách thực hiện những việc phúc đức. Nhưng các thầy cũng giúp trong các giáo xứ mà làm phụ tá cho các linh mục trong thánh lễ, cử hành bí tích Rửa tội, chứng giám các Hôn phối, cử hành lễ nghi An Táng, chôn cất và dạy dỗ giáo dân trong đức tin. Có hai hạng Phó Tế: Những thầy đang học để tiến đến chức linh mục và những thầy được gọi đến bực sống này với tư cách là những phó tế vĩnh viễn. Thường thường các thầy này là những người đã lập gia đình và đã được phong chức để phục vụ trong giáo phận của mình.

Dấu và Hiệu Quả của Các Chức Thánh

Như chúng ta đã thấy trong đoạn sách vừa kể của Thánh Luca, các tông đồ truyền chức bằng cách cầu nguyện trên những người sắp được phong chức và đặt tay trên họ.          Đó là cách mà bây giờ các thầy được truyền chức. Như đã thấy trong chương nói về Bí tích Thêm Sức, việc đặt tay là một nghi thức của thời xưa để chuyển thông một ân huệ thiêng liêng. Lời nguyện truyền chức cho chúng ta thầy rằng ơn huệ này là sự tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô. Lời nguyệïn ấy xin Chúa:

... ban cho những tôi tớ Chúa đây chức linh mục. Xin đổi mới thần linh thánh thiện trong họ. Nhờ ơn thánh của Chúa, xin cho họ đạt tới chức thứ nhì trong phẩm trật và xin cho họbiểu dương cách ăn ở ngay chính trong đời họ.

Từ kinh nghiệm này, chúng ta biết Chúa gia tăng thần linh của Người trong những người này, mà ban cho các ngài những quyền năng đặc biệt của chức linh mục. Sự sống Thiên Chúa được gia tăng trong các ngài, và các ngài lãnh nhận được tất cả các ơn cần thiết để trở nên những linh mục tốt lành và thánh thiện. Cũng như bí tích Rửa tội và Thêm Sức, bí tích Truyền chức thánh cũng ghi một ấn tích (dấu thiêng liêng) trên linh hồn. Điều này chứng minh với Chúa rằng các ngài đã được kết hiệp với Chúa Giêsu, linh mục Thượng Phẩm của chúng ta.

Một Ơn Gọi Kỳ Diệu

Việc Chúa gọi con người tơí chức linh mục là một điều rất kỳ diệu. Đó là một trong những danh dự lớn lao nhất mà con người có thể lãnh nhận ở đời này. Chúng ta phải nhớ cầu nguyện cho các cha xứ của chúng ta mỗi ngày; đồng thời cũng xin Chúa Giêsu sai đến Hội Thánh Chúa thêm nhiều đầy tớ tốt lành và thánh thiện.

Chúng ta phải luôn luôn tỏ lòng kính trọng các linh mục và biết rằng đời sống của các ngài dành hết cả thời giờ để dâng Thánh lễ, giải tội, khuyên nhủ giáo dân và lo đáp ứng những nhu cầu cần thiết của một giáo xứ đông đúc. Nếu các ngài sống trong lòng tin, cậy, mến Chúa, thì chắc chắn đời sống này sẽ dẫn đưa các ngài tới cõi hạnh phúc đời đời! Thánh Basiliô Cả, một giáo phụ của Hội thánh có lần đã nói: “Thừa tác vụ của chức linh mục là một công trình vĩ đại sẽ đem anh em đến Nước Trời.”

Những Chữ Nên Biết

Dấu của Bí tích Truyền Chức Thánh - Chức tư tế của giáo dân - phó tế linh mục - tông truyền - chức linh mục được tấn phong - giám mục

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Chức thánh là gì?

Thưa là bí tích ban cho quyền năng thi hành các viêc thánh có liên quan tới phép Thánh Thể và việc cúu các linh hồn, và khi khắc ghi ấn tích là thứa tác viên của Thiên Chúa.

2.         Ai là thừa tác viên truyền chức thánh?

Thừa tác viên truyền chức thánh là Đức Giám Mục, người trao ban Chúa Thần và các năng quyền thánh bằng cách đặt tay, vừa nói lời theo công thức đã ấn định.

3.         Tại sao bí tích làm nên những thừa tác viên của Chúa lại gọi lác các chức thánh?

Thưa vì nó bao gồm nhiều cấp bậc thừa tác vụ, chức này lệ thuộc chức kia, và làm thành Phẩm Trật Thánh.

4.         Có bao nhiêu cấp bậc trong phẩm trật thánh?

Các cấp bậc trong Phẩm trật thánh, phát xuất từ bí tích truyền chức thánh, chỉ có ba:

- Thứ nhất, chức phó tế, là cấp bật thừa tác vụ thấp nhất, mà công tác là phụ tá

và giúp các bậc tư tế cao hơn.

- Thứ hai, chức linh mục, ban cho quyền dâng Thánh lễ và quyền tha tội.

- Thứ ba, chức giám mục, là chức tư tế đầy đủ nhất, ban cho năng quyền truyền

các chức thánh và dẫn dắt cùng cai quản các tín hữu.

5.         Chức linh mục có phải là một chức cao cả không?

Thưa rất cao cả, vì có quyền năng trên Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô hiện diện trong Phép Thánh Thể, và vì có quyền năng trên Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, là Hội Thánh, mà chức tư tế điều khiển và cai trị, với sứ mạng cao siêu là dẫn dắt con người đến bậc thánh thiện và đến sự sống của những kẻ được chúc phúc.

6.         Người muốn lãnh nhận Chức Thánh phải có ý định gì trước nhất?

Ai muốn lãnh nhận chức thánh phải có ý định làm sáng danh Chúa và cứu các linh hồn.

7.         Người ta có thể tự ý mình vào lãnh nhận các chức thánh không?

Không ai có thể tự ý mình lãnh nhận Chức Thánh, nhưng phải được Chúa kêu gọi, ngang qua Đức Giám Mục của mình. Nói cách khác, người ấy phải có ơn gọi nhận các chức thánh, cùng có phong cách mà chức vụ thánh đòi hỏi.

8.         Nhũng bổn phận của các tín hữu đối với những người được gọi vào Chức Thánh là gì?

Thưa họ có bổn phận cho phép các con cái mình và các kẻ lệ thuộc mình được hoàn toàn tự do theo đuổi ơn gọi của họ. Hơn nữa, họ có bổn phận cầu xin Chúa ban cho những chủ chăn và những thừa tác viên tốt lành. Sau cùng, họ có bổn phận kính trọng những kẻ có chức thánh như những người được hiến dâng cho Thiên Chúa.

*********************************************************************

BÀI 19: BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Trong chương này, chúng ta sẽ bàn về Bí tích phục vụ thứ hai là bí tích hôn phối. Hôn nhân là hình thức cộng đoàn cựu trào nhất của nhân loại. Cộng đoàn này được Thiên Chúa ban cho ngay sau khi Người tạo dựng con người đầu tiên, khi Người nói:

Để con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một người đương đối với nó. . . Thế là Thiên Chúa giáng xuống trên con người một giấc ngủ đê mê, và trong khi con người ngủ, Thiên Chúa ấy một xương sườn của nó. . . Rồi trên xương sườn đã rút tự con người, Giavê Thiên Chúa đã tạo thành người đàn bà. Đoạn Thiên Chúa dẫn đến với con người, và nó đã nói: Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi, nàng sẽ mang danh là “đàn bà” vì đã rút tự đàn ông. Bởi thế đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình, và chúng sẽ nên một thân xác. Con người và vợ nó cả hai đều trần truồng mà chúng không hổ ngươi. (Gen 1:28)

Mục Đích Của Hôn Nhân

Từ hai đoạn lấy trong Sách Khởi Nguyên, và từ những giáo huấn của Chúa Kitô và của Hội Thánh, chúng ta thấy co hai mục đích đặc biệt của hôn nhân:

Chúa cho người nam và ngươì nữ làm bạn với nhau. Bởi tình thương yêu họ có lẫn nhau, họ nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Họ giúp đỡ nhau để nhận biết, yêu mến và phụng sự Chúa ở trần gian hầu mai sau được ở cùng Người trên Thiên Quốc. Sự chúng phần này thường được gọi là tình yêu mến lẫn nhau.

Mục đích thứ hai của hôn nhân là sinh sản con cái và giáo dục chúng trong một gia đình yêu đương. Nhờ sự trao thân cho nhau, người nam và người nữ hợp tác với Thiên Chúa để đem thêm vào thế giới những con người mới. Mục đích thứ hai này thường được gọi là sự sinh đẻ. Sự dấn thân trong hôn nhân giữa người nam và người nữ bảo đảm cho con cái của họ có một mái nhà và một gia đình để sống. Nó bảo vệ những mầm non này và lo chúng phát triển đúng mức như những con cái của Thiên Chúa.

Bí Tích Hôn Nhân

Ngay cả trước khi Chúa Giêsu đưa hôn nhân lên thành một bí tích, thì nó đã được coi là một sự kết hợp suốt đời giữa hai vợ chồng mà hai người đã thề hứa yêu thươn nhau và chung sống với nhau cho đến chết. Dĩ nhiên người phàm chúng ta không luôn sống đúng với chương trình của Thiên Chúa. Bản tính yếu đuối của con người đôi khi phá huỷ chương trình của Người về Hôn nhân bằng những việc như ly dị và ngoại tình. Nhưng điều này không thay đổi gì về mục đích của hôn nhân mà Chúa muốn có từ lúc ban đầu.

Một hôm, có vài người đầu mục trong dân Do Thái hỏi Chúa Giêsu về giáo huấn của Ngài về hôn nhân thế nào, Ngài trả lời họ rằng:

Các ông đã không đọc rằng từ khởi nguyên, Tạo Hóa đã dựng nên chúng là nam là nữ, và Ngừơi dã phán: Bơỉ thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình và khắng khít với vợ và cả hai chúng sẽ nên một thân xác sao? Cho nên họ không còn là hai, mà là một thân xác. Vậy điều gì Thiên Chú ađã phối hợp thì con người chớ có phân ly. . . Nay Ta bảo các ngươi, ai rẫy vợ mình và cưới vợ khác tức là phạm tội ngoại tình, và người đàn ông nào cưới một người đàn bà đã ly dị là phạm tội ngoại tình. (Mt 19:4-6,9)

Khi mới bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu có dự một tiệc cưới và đã làm phép lạ đầu tiên của Ngài. Ngài làm phép lạ ấy để chúc lành đôi hôn nhân với sự hiện diện của Ngài. Ngài đã làm cho hôn nhân thành một Bí tích và một dấu chỉ cho tình yêu của Ngài đối với Hội Thánh là thân thể của Ngài. Cũng như Chúa Giêsu luôn luôn yêu mến Hội Thánh của Ngài và không bao giờ từ bõ Hội Thánh thế nào, thì người chồng cũng phải luôn luôn yêu thương vợ mình và ở với vợ mình đến mãn đời như vậy.

Hôn Nhân Kitô Giáo là gì?

Muốn cho hôn nhân của đôi vợ chồng thành một bí tích Kitô giáo, cả hai người phải chịu phép Rửa tội trước. Họ phải có ý định sống cuộc đời Hôn nhân của họ hợp theo chương trình của Chúa, nghĩa là phải ăn ở với nhau suốt đời và sẵn sàng đón nhận mọi con cái Chúa sẽ gửi đến cho họ. Ngày họ làm lễ thành hôn, họ hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bịnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe.

Để giúp đôi lứa sống đời sống hôn nhân Kitô giáo tốt lành, Giáo hội đã đặt ra những luật lệ liên quan tới việc cử hành Bí tích này. Nếu người nam và người nữ không đồng ý cưới nhau đúng theo quy luật này, hoặc không hợp theo chương trình của Chúa, thì cuộc hôn nhân ấy được gọi là bất thành. Nghĩa là giữa hai người chưa có sự kết hợp thật sự, và trước mặt Chúa, họ vẫn còn là những người độc thân.

Nghi Thức Cử Hành Hôn Phối

Nghi thức Hôn phối được cử hành trong Thánh Lễ, nhưng điều này không buộc để có thể cử hành bí tích. Khác với các bí tích khác (trừ bí tích rửa tội vì trong lúc nguy cấp bất cứ ai cũng có thể cử hành được) linh mục không phải là người cử hành bí tích hôn phối cho đôi tân hôn. Ngài hiện diện ở đó để chứng kiến cuộc kết hôn này, thay mặt cho Giáo hội và để nhân danh Chúa chúc lành cho họ. Chính người nam và người nữ cử hành bí tích này cho nhau bằng những lời hứa kết hôn trọng thể.

Sau bài giảng trong Thánh Lễ, linh mục hỏi hai người xem họ có hoàn toàn tự do và thực lòng đến đó, chứ không bị ép buộc để kết hôn với nhau không. Rồi ngài hỏi xem họ có đồng ý sống đời hôn nhân của họ theo luật Chúa hay không. Nếu họ thành thực trả lời CÓ thì sẽ tiếp tục nghi lễ.

Hai người sẽ năm tay nhau và đọc lời thề hứa với nhau. Đó là dấu của bí tích. Như bạn đã biết, lời thề là một lời hứa trọng thể buộc làm những gì mình hứa. Phản bội lời ấy là phạm một tội trọng. Lời thề hôn phối thường như thế này:

Tôi (tên. . .) lấy em (anh) làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh), khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bịnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời tôi.

Sau đó, đôi tân hôn trao nhẫn cho nhau. Linh mục làm phép nhẫn, để chúng nên dấu tình yêu và sự trung thành của họ.

Thánh Lễ tiếp tục như thường lệ cho đến khi rước lễ thì linh mục đọc lời nguyện trên đôi tân hôn. Đây là lời chúc lành mà chỉ có người Kitô hữu mới được lãnh nhận. Lời nguyện xin Chúa ban cho họ đời sống thánh thiện, giúp họ sống trung thành với nhau, ban cho họ có con cái, và khi chết thì được về Thiên Đàng. Cuối Thánh Lễ, linh mục còn ban phép lành nữa và nghi thức kết thúc.

Qua Bí tích này, Thiên Chúa làm cho hai người trở nên một thân xác. Điều ấy có nghĩa là trước mặt Chúa, họ không thể phân ly nhau cũng như thân thể một con người khi bị phân ly thì không thể sống được. Chúa còn ban cho họ tất cả những ơn gọi cần thiết để sống trung tín với nhau, và để trở nên những người cha mẹ tốt. Chúa kêu gọi họ làm chứng ta cho Chúa Giêsu và cho đời sống Kitô hữu giữa các thân nhân và bạn bè của họ.

Thời Đại Này Đả Kích Hôn Nhân

Như đã nói ở phần trên, nhiều người thời nay không nghĩ về hôn nhân đúng như chương trình của Thiên Chúa. Là vì thế gian co những giá trị khác với những giá trị của Chúa Kitô. Họ tấn công bí tích hôn nhân nhiều kiểu nhiều cách. Cách nào? Bằng cách chấp nhận ly dị và ngoại tình, bằng phụng sự tiền bạc và của cái như những thần tượng trong xã hội, bằng dạy giới trẻ rằng giao hợp trước khi cưới nhau và thủ dâm là bình thường, bằng khuyến khích có một thái độ tiêu cực đối với gia đình đông con, và khuyến khích dùng thuốc ngừa thai.

Những anh chị công giáo... đã thành vợ chồng hay mới đính hôn, phải ý thức về những giá trị giả dối đó. Họ phải nỗ lực tìm hiểu chương trình của Chúa về hôn nhân bằng cách học hỏi những Giáo huấn của Giáo hội. Cầu nguyện chung với nhau hằng ngày sẽ giúp họ đủ sức để sống lời thề gắng bó với nhau suốt đời. Các bạn trẻ có thể chuẩn bị đời sống hôn nhân bằng cách xin Chúa ban cho họ những người bạn công giáo tốt. Như thế, họ sẽ không bị cám dỗ cưới bất cứ người nào khác, mà chỉ cưới người yêu họ và yêu Chúa thật tình. Chuẩn bị để lãnh nhận bí tích thánh thiện và kỳ diệu này không bao giờ là làm một việc sớm quá cả!

Những Chữ Nên Biết

Dấu của Hôn nhân - Tình yêu mến lẫn nhau - Hôn phối bất thành - Sự sinh đẻ - Lời thề hôn phối

Sinh Hoạt

Câu Hỏi

1.         Hôn nhân là gì?

Hôn nhân là bí tích kết hợp một người nam và một người nữ cách vĩnh viễn, như Chúa Giêsu và hôn thê của Ngài là Hôị thánh đã kết hợp với nhau, và nó ban cho hai người đặc sủng để sống thánh thiện và nuôi dưỡng cùng giáo dục con cái họ theo cách thức một gia đình công giáo.

2.         Ai là thừa tác viên bí tích hôn phối?

Hai người kết hôn với nhau lá thừa tác viên của Bí tích hôn phối của họ.

3.         Khi cử hành bí tích hôn phối, có buộc hai người làm lễ cưới, có ơn thánh Chúa trong lòng không?

Thưa có. Kho làm phép hôn phối, hai người buộc phải sống trong ơn nghĩa Chúa, nếu không, họ sẽ phạm sự thánh.

4.         Hôn nhân được ký kết như thế nào?

Hôn nhân được ký kết bằng cách tỏ sự ưng thuận cho nhau trước mặt cha xứ (hoặc một linh mục được uỷ nhiệm) và với hai nhân chứng.

5.         Phép hôn phối cử hành theo hình thức này có hiệu quả về mặt dân sự không?

Khi phép hôn phối được cử hành theo hình thức này, thì nó cũng có hiệu quả về mặt dân sự, nếu chính quyền công nhận bí tích hôn phối cũng có những hiệu quả về mặt dân sự.

6.         Làm thế nào mà phép hôn phối cử hành cách này có những hiệu quả như vậy?

Thưa là nhờ đăng ký vào sổ bộ quốc gia như pháp luật quy định, và điều này được thực hiện theo thỉnh nguyện của linh mục chánh xứ.

7.         Hai vợ chồng phải đảm nhiệm những bổ phận nào?

Hai người phải đảm nhiệm bổn phận sống chung với nhau một cách thánh thiện, giúp đỡ nhau bằng tình thương không bao giờ vơi, trong những nhu cầu vật chất và thiêng liêng; và bổn phận nuôi dưỡng và giáo dục con cái nên người tốt, quan tâm đến nhu cầu của linh hồn chúng không kém những nhu cầu vật chất thể xác của chúng; và trên hết mọi sự, đào tạo chúng về mặt tôn giáo và và các đức tính tốt bằng lời nói và việc làm của họ.

*********************************************************************

 

 

 

QUYỂN THỨ II

PHẦN TIẾNG ANH

 

CHAPTER 1: Saints in Our History: The first Thousand Years

            "And his gifts were that some should be apostles, some prophets, some evangelists, some pastors and teachers, for the equipment of the saints, for the work of ministry, for the building up the body of Christ, until we all attain to the unity of faith and of the knowledge of the Son of God" (Eph 4:11-13).         

            Almost two thousand years have elapsed since the founding of the Church and his birth on Pentecost. As we have seen, it began as a small community, but like the mustard seed in the parable, it has grown and spread throughout the world. During that time it has faced many difficulties and weathered many storms. Yet the Church has survived and is today the same Church of which Our Lord spoke when he said to Peter, ". on this rock I will build my Church, and the powers of death shall not prevail against it" (Mt 16:18).

            The church could not have survived without the constant guidance and protection of the Holy Spirit. In order to preserve the Church God has raised up many holy men and women who are today recognized as saints. With God's help they have been able to put their various talents and personalities in the service of the Church's special need.

            The virtuous lives of these saints are still a source of example and inspiration for us today. Let us now look at a few periods in the Church's history as they are reflected in the lives of some of her greatest saints.

Apostles and Martyrs

            The early days of the Church were marked by the apostles carrying our Lord's command: "Go therefore and make disciples of a nations" (Mt 28: 19). This missionary activity manifests the Church's universality. We have seen that right after Pentecost Peter went out to preach, and by the day three thousand persons were baptized. He was imprisoned, suffered, labored, performed miracles in the name of Jesus, and continued to preach and speak with authority.

            Later he went to Antioch and finally to Rome, where he stayed permanently. Peter thus became the first bishop of Rome. He was martyred under the Roman Emperor Nero around the year 64 or 67 ẠD. It is said that when they were crucifying him Peter said he was not worthy to die as his Master had died, and therefore he asked that the crucifix be turned upside down. He was buried on the Vatican Hill. St. Peter's Basilica was later built over his tomb. Pope St. Linus was elected to succeed him.

            The greatest missionary of these early days is the apostle St. Paul. From the time of his conversion, which is described in the Acts of the Apostles, St. Paul preached throughout Palestine, Syria, parts of Asia Minor (Modern-day Turkey), Greece, and Rome. During four missionary journeys he zealously preached the good news of Jesus Christ to the Jews and, most importantly, to the gentiles (non-Jews). In some places he endured bitter opposition - for example, he was stoned and imprisoned - but still he continued to preach.

            In the fourteen letters that he wrote to the communities where he preached, as well as in the accounts of his journeys found in the Acts, we can see St. Paul's great devotion to Christ. Because he so fully carried out Our Lord's command to teach all nations, he is called the "apostle to the Gentiles". Like many of the early Christians, St. Paul not only lived for Christ; around 68 ẠD. he died for him as well, as a martyr.

            Although the Church continued her missionary work, the next 250 years were characterized by the persecution of Christians. As their numbers INCREASED, AND Christianity spread throughout the Roman Emperor, the Roman government began to fear the Church. Under certain emperors over the next two centuries, many Christians were put to death for their faith in Christ. Those who died giving witness to their faith were called martyrs, the Greek word for witness. Many of them were young and only recently baptized, while still others had only heard and accepted the message but had not yet been baptized. Yet they all had one thing in common: they willingly accepted horrible tortures and death rather than deny Christ or his message.

            These martyrs were an inspiration both to their fellow Christians and too many Roman citizens. In fact, many people were drawn to the faith after seeing those who willingly died for it. They realized that the Christian faith must be great if so many Christians were willing to give up their lives for its sake. The rapid growth of the Church during this period led one early Christian writer to remark that the "blood of the martyrs is the seed of the Church."

Among those whose blood nourished the Church were two young women who lived in the early third century, St. Perpetua and St. Felicity. Perpetua, a young married woman, was from a wealthy family in Carthage, North Africa. Felicity was a young servant in her household. Shortly after perpetua gave birth to a baby, she and other members of her household, including Felicity, were arrested because they were Christians. Despite her familýs pleas that she give up her faith and return home to her child. Perpetua refused and remained strong.

Felicity, who was awaiting the birth of her own child, was eager to join Perpetua in facing death for Christ. The Roman law, however, would not allow a woman who was with child to be put to death. Because Felicitýs child was born soon after her imprisonment, she was martyred along with her mistress and the others who had been arrested with them. The willingness of both Perpetua and Felicity to die for Christ -- even though they were young women with children they loved - shows us that they placed God first in their lives.

We honor the memories of St. Perpetua and St. Felicity when we ask their intercession during the Eucharistic prayer of the mass. We also invoke the intercession of many of the other martyrs here. Among them ate the first martyr, Stephen; several early Popes: Linus. Cletus, Clement, and Sixtus; several holy women: Agatha, Lucy, and Cecilia; and the apostles.

In the same way that the early Christians were inspired by the faith of the martyrs, we too look to them as examples of courage. We also can look to the martyrs of our won times. For although the early centuries of the Church were the age of martyrs, we still have many people who have died -- and are dying -- for their faith.

Fathers and Doctors of the Church

The great age of martyrdom ended in the early fourth century, when the Roman emperor Constantine issued a decree allowing Christians to practice their religion freely. Once this occurred, Christians were able to preach the gospel in the open. Even though the Church was freed from one problem, she soon had to face others. Trouble now came from within the Church in the form of heresies. A heresy is a denial of a basic doctrine of the faith. Those who hold and teach heresies are called heretics.

At the same time when Constantine became emperor, a major heresy was being preached in Egypt by a priest name Arius. Arius taught that Jesus Christ, the Son of God, was not of the same nature as the Father. In other words, he said that Jesus was not God.

Because Arius was a forceful speaker and persuasive writer, his heresy, called the Arian heresy, spread rapidly through the Church and even deceived many bishops and priests. Because this heresy denied one of the most fundamental doctrines of our faith, it had to be stopped. The first step was the Church council that met in Nicaea in 325 ẠD.

One of the bishops who fought to defend the truth during and after that council was St. Athanasius. Athanasius was the bishop of Alexandria in Egypt. Where he defended the teaching of the Church against many Arian forces. He faced several threats to his life and was exiled for his defense of orthodoxy. Despite all of this, he never wavered in defending the truth that the Son of God is "one in being with the Father."

Many of Athanasius' writings concern the doctrine he defended throughout his life. One of his books, On the Incarnation, is a treatise on the mystery of the Second Person of the Trinity made flesh. When he died in 373 ẠD., Arianism had not been completely conquered. His efforts, however, were not in vain, and Arianism was finally defeated by 381 ẠD.

Other heresies, many of which also concerned the nature of Christ, followed the Arian heresy. Saints were raised up to defend the Church against these heresies as well. One of the greatest saints to defend the Church was St. Augustine, who was born near the end of Athanasius' life. Although Augustine became one of the greatest bishops. Teachers, and theologians (persons who study and teach about God) in the Church, his early life reminds us that even great sinners who repent can become saints.

Born in North Africa, Augustine was the son of a Roman official and a Christian woman named Monica. During his youth se showed that he had a brilliant mind and was recognized as a great student. In this adolescence, however, he acquired many bad habits and lived a wild life; he seriously broke the Commandment on purity. His mother patiently prayed for him, begging God to give him the grace to accept the faith and reform his life.

Her prayers were answered when, after many years of searching for the truth, Augustine was baptized at the age of thirty-three. Later he became a priest and eventually a bishop. During the remainder of his life he preached many sermons and wrote over one hundred books in defense of the faith. Among these books is his own story of his life and his conversion, the Confessions. Another book, which many consider his most famous work, is The City of God, which contrasts the life of the Christian with the evils of the world in which we must live. Lide St. Athnasius, St. Augustine, who died in 430 ẠD., is considered one of the Fathers of the Church.

The Monasteries

Later, in the fifth century, barbarian tribes began to threaten the stability of the Roman Empire. The barbarians were warlike, uncivilized tribes living in northern Europe outside the boundaries of the empire. As they expanded, they moved south and began invading the empire, once even threatening the city of Rome. The Church recognized the need to convert them to Christianity and to civilize them.

Much of this work was performed during the next three centuries by the monks and the monasteries.   Monks were men who lived a life of poverty, chastity, and obedience together in order to serve Christ. They lived according to a specific rule or way of live, in communities that were usually in remote area. Here they supported themselves through agricultural activity through these schools and their later missionary work that the monks were able to Christianize and educate much of Europe.

Although there were monks in the Church as early as the third century, the title of "Father of the Western Monasticism" is given to St. Benedict, who was born in 480 ẠD. He established the famous monastery at Monte Casino in Italy and is the founder of the Benedictine order. He composed a rule, which we call the rule of St. Benedict to guide the daily activities of his monks.

Benedict divided the daily activities of his monks into prayer and physical work. This became the motto of all Benedictines: Oar et Labora (pray and work). The daily prayer consisted of the Divine Office -- chanted together at seven specific hours of the day and night -and the daily Sacrifice of the Mass. The labor, which was also considered a form of prayer, was both manual -farming, building, and so on -- and intellectual -- copying of manuscript, writing books, educating, and the like.

As time passed, the monasteries were not only centers of learning but also missionary centers. From which monks set out to spread the faith. Among these missionary monks was St. Columban, an Irishman who preached the faith among the Franks (living in the area of modern-day France) during the end of the sixth century. Another great example was St. Boniface, a Benedictine monk from England. In the eight century he left England for the area of Germany. For many years Boniface preached there, spreading the faith and baptizing many from the Germanic tribes.

The Church Faces Problems

While the monks were busy Christianizing the barbarians in Europe, the Church was faced with other invasions as well. A new religion, Islam, had emerged in Arabia early in the seventh century and was now being spread throughout North Africa and the eastern portion of the old Roman Empire. The followers of Islam, called Moselems, eventually gained control of the Mediterranean Sea. As a result, Christians living in western Europe were physically separated from those in the East.

The event intensified problems that had existed for a long time. Christians in the two parts of the empire were divided by language and culture. There had also been a long-running debate over the wording of certain doctrines and over the authority of the bishop of Rome (the Pope). These problems were finally brought to a head in 1054 ẠD. In that year, the Church in the East formally separated itself from the Pope and the Roman Catholic Church. This is known as the Eastern Schism, or split. While some of the Eastern Christians have been reunited with the Church -- for example, the Byzantine Catholics, the schism still exists today.

This schism was only one great problem that the Church faced as it completed its first thousand years. A second was the great corruption of the clergy during the Dark Ages. This period, from about 850-1000 ẠD., was the result of the gradual collapse of the old Roman Empire. As the Empire collapsed, the Church was the only stable force remaining in the world. Because few laymen were educated, it was left to the clergy to take up the responsibility of governing civil society. Many Church leaders then exercised not only spiritual but temporal power as well.

After a while many bishops. Priests, and monks began to forget their roles as spiritual leaders. Unfortunately they became far too concerned with their temporal affairs or their own possessions and lost sight of their primary task. Sad to say, there were even Popes who, clergy became more and more urgent. Once again, many saints rose up during the next few centuries to guide the Church through its next crisis.

Words to Know

St. Arthanasius,           St. Augustine,                         St. Benedict,               gentiles,                       martyrs,

heresy,                         barbarian,                    monasteries,                theologian

****************************************************************

CHAPTER 2

Saints in Our History: The Second Thousand Years

Exactly as Christian communion between men on their earthly pilgrimage brings us closer to Christ, so our community with the saints joins us to Christ, from whom as from its fountain and head issues all grace and the life of the People of God itself" (LG.50).

As the Church moved into the twelfth centuries, one of its first concerns was reforming the corrupt clergy. Fortunately, the Church was blessed with several holy Popes, who were able to begin these reforms.

Other holy men began to reform the monasteries. The most important of these is St. Bernard of Clairvaux. As a young man Bernard joined a new monastic community known as the Cistercians, whose way of life was based on the rule of St. Benedict. But their way of life was simpler and stricter than that in most Benedictine communities of the time.

After he was ordained, Bernard was chosen to begin a new monastery following the Cistercian way of life. Bernard became the abbot of this monastery at Clairvaux and then founded sixty-eighty more monasteries according to the same rule. The new generation of monasteries corrected many of the abuses that had crept into monastic life during the Dark Ages, and these monasteries were a great source of hope.

St. Bernard

S own holiness was reflected in the life of Clairvaux and the other monasteries. He strengthened the faith by his sermons about devotion to Jesus and to his mother. So great were these sermons that people from all over Europe came to hear him. This St. Bernard was able to rekindle the faith of the Laity as well as that of his monks.

The Crusades

He had great influence on other matters in Europe as well. For example, St. Bernard preached the second crusade, encouraging many people in France and Germany to join. The Crusades were the response of the Church to a new difficulty that had arisen because of the Moslems.

Toward the end of the eleventh century, the Moslems seized control of the Holy Land (Palestine) and persecuted those Christians who traveled on pilgrimages to Jerusalem and the other holy places. The Crusades were military efforts to win back the Holy Land. They were carried on periodically during the next two centuries. The Knights and soldiers who fought those battles for the cause of Christ used the Cross as their symbol. Many who either led or fought these Crusades were truly saintly men.

On these courageous men was King St. Louis IX of France, who led the last two major Crusades. He is noted for being a holy man and a just ruler. His devotion to his faith was instilled in him at an early age by his mother. When he was growing up she often said to him, "I love you, my dear son, as much as a mother can love her child, but I would rather see you dead at my feet than that you should commit a mortal sin". Such lessons never left him, even when he became the king of France.

While he was king, he attended two Masses each day and spent much of his time in prayer. He frequently cared for the poor personally, after having them join his family at meals. And he taught his sons to love their faith as well. In his last words to his eldest son he wrote, ".the first thing I would teach thee is to set thine heart to love God".

For St. Louis, as for any saint, love of God came first. Thus, when it seemed necessary to fight a battle for Christ. St. Louis readily responded. He died on his way to fight his second Crusade. His last words echoed those of Our Lord on the Cross, "Into thy hands I commend my spirit".

Despite their great efforts, the Crusaders did not finally achieve their goal. The Holy Land was not freed from the Moslems. The Crusades did, however, strengthen the faith pf many in Europe and increase devotion to Christ and his saints. They also opened Western Europe many areas of knowledge in which the Moslems had advanced -- for example, navigation, medicine, and pelosophy. This provides the basis for many scholarly and scientific achievements during the next few centuries. The internal reforms of the Church, begun by St. Bernard and others grew and flourished during the thirteenth century. This was the height of the period known as the Miđle Ages.

New Religious Orders

During this century, two new religious orders were founded that were dramatically different from the traditional orders. The members of these communities did not live in monasteries isolated from society but lived instead in the towns where they worked. Unlike the monastic communities which owned large portions of land to support themselves, these new orders depended on the generosity or ordinary people for their basic needs. They are called mendicant orders, because they lived by begging. By living simply, these orders reminded Christians that the true role of the religious was to serve God.

The first of these communities was the Franciscan order, which was founded in Italy by St. Francis Assisi. Francis, the son of a wealth merchant in Assisi. Grew up with plenty of money, which he spent recklessly. He wanted to become a knight but realized that Christ was calling him to serve God in the religious life. Francis then decided to live as a poor man, discarding his fine clothes for those of a beggar and caring for the needy and the sick.

He began a live of prayer - preaching and serving the poor. His holiness attracted many young men, who joined him in his work. Eventually Francis wrote a simple rule for his followers. With the Popés blessing they were established as the Order of Friars Minor ("Little Brothers"). By the time of Francis' death, there were over fie thousand Franciscans in Europe.

Men were not the only one attracted to Francis's way of live. A rich young woman from Assisi also asked to join him, and thus with Francis' help St. Clare established a community for women, who also lived according to the Franciscan rule.

Another mendicant order for men was founded by a young Spanish pries. Dominic de Guzman. The order is known as the Dominicans, or Order of Preachers. As a young priest St. Dominic was sent to convert a group of heretics living in southern France, the Abigensians. To help him in this task, he gathered a group of young men who were willing to dedicate themselves to preaching. Like the Franciscans, they lived in simplicity and poverty. They spent their time in teaching and preaching. The Dominicans emphasized scholarly learning for their members, so that they would be able to preach more effectively. Consequently, many of the great university teachers of this age were Dominicans.

St. Thomas Aquinas

The greatest of these Dominican scholars and teachers was St. Thomas Aquinas. Thomas was born in Italy in 1225 ẠD. and began his education at the Benedictine monastery at Monte Cassino. His wealthy family hoped that one day he would become a Benedictine. Thomas went on to study at the University of Naples. Where he first met the Dominicans. Their simple life of poverty and study attracted Thomas, and, despite many vigorous objections from his family, he joined the oder.

He studied theology and philosophy with another Dominican, St. Albert the Great, and eventually became a teacher himself at the University of Paris.

Thomas studied the ancient Greek philosopher Aristotle, whose writings were among those brought back to Europe by the Crusaders. St. Thomas used Aristotlés ideas in his own work in theology. He taught that God's revelation to man is not contrary to reason but, rather, that reason is necessary to understand God more completely. While his method was based on Aristotle, his insights were based on the Scriptures and the writings of the Fathers. He wrote a large number of books, but the best known and most important of these is his Summa Theologiae. In this famous book he organized, explained, and defended all the doctrines of our faith. Thomas' writings have never been surpassed in the Church and remain today among the most important sources for Catholic theology.

Although Thomas' scholarly works were important to the Church, it was his love of God that made him a saint. His devotion to Christ and the Blessed Sacrament are reflected in some of the beautiful prayers and poems he composed for certain feasts. Christ and the Church were the center of St. Thomas' life, and he knew that his writings were unimportant compared to the infinite wisdom of God.

In 1274 ẠD. St. Thomas was asked by the Pope to attend the Church council in Lyon, France. While on his way he became ill and died on March 7, 1274. Before he died, he displayed his humility and love for God. As he prepared to receive the Eucharist for the last time, he said:

I receive thee, price of my redemption, Viaticum of my pilgrimage, for love of Whom I have fasted, prayed, taught, and labored. Never have I said a word against thee. If I have it was in ignorance and I do not persist in my ignorance. I leave the correction of my work to the Holy Catholic Church, and in that obedience I pass from this life.

St. Catherine of Siena

Although the Church flourished in the thirteenth century, it suffered many problems in the centuries that followed. During the fourteenth century debates between the Popes and the kings of France created a major crisis. For the first time since St. Peter, the Pope was not in Rome. For seventy years the Popes lived in the French city of Avignon. It was a woman from Siena, Italy, who finally persuaded the Pope that he must return to Rome.

St. Catherine of Siena was a young laywoman who had chosen to live a life of prayer and service to others, particularly the sick. Her reputation for holiness spread thoughout Italy, and many people turned to her for help and advice.

Several times Catherine wrote to pope Gregory XI, urging him to return to Rome for the good of the Church. Finally, she visited him in Avignon. Pointing out to him that many of the Church's problems stemmed from the absence of the Popes from Rome. Pope Gregory listed to her, returned to Rome, and began to reform the Church. Catherine died only a few years later at the age of thirty-three. Because of her many spiritual writings, Catherine was declared a Doctor of the Church.

Although St. Catherine helped the Church end one crisis, another, even greater, followed almost immediately. For the next forty years there were two men, one in Avignon and one in Rome, who claimed to be Pope. This confusion, known as the Great Western Schism, divided the church and weakened the role of the Pope. By the time it was resolved, the Church's unity was threatened.

 

Protestant Reformation

The fifteenth century also brought with it many new developments. This age is known as the Renaissance (rebirth) because of the renewed interest in the ancient Greek and Roman civilizations. During this time many of the clergy were once again corrupted by money and other luxuries. Also, the invention of the printing press made it possible for new ideas -- some heretical -- to spread more rapidly. By the beginning of the sixteenth century, the Church was once more in need of reform.

Unfortunately, some attempts to reform the Church led the "reformers" away form her. This is known as the Protestant Reformation. Beginning with Martin Luther, several groups rebelled and broke away from the Church. This was the beginning of the many Christian denominations we wee around us today.

The Tremendous upheaval was the reason that the Church called the Council of Trent. The Church did need reform, and she also needed to clarify the doctrines that were being challenged by the Protestants. The work of this council strengthened the church so that she emerged from her latest crisis stronger and more able to face the work ahead.

The period immediately following the council is known as the Counter-Reformation. Just as new religious orders had helped the Church to reform during the Miđle Ages. Likewise new religious orders helped the Church to renew herself at this time. For example, the Ursuline sisters, dedicated to teaching young women, were formed by St. Angela Merici. The most important of these new communities was the Society of Jesus (the Jesuits), founded by St. Ignatius of Loyola.

St. Ignatius of Loyola

St. Ignatius was a Spanish nobleman who was trained to be a soldier. During his career, he became noted for his bravery and loyalty to his king. In one battle he was seriously wounded and required several months's rest. During this time he read the only books that were available to him -- a life of Christ and some lives of the saints. By the time his leg had healed, his life had changed. St. Ignatius vowed to become a "soldier" in the service of Christ and his Church.

After a time of spiritual retreat, Ignatius began to study theology to prepare himself for his new work. While he was studying at the University of Paris, he was joined by other young men, and together they made their first vows of poverty and chastity. After a few years they formed themselves into an order and offered their services to the Pope.

The special work of the Society of Jesus was to defend the faith and serve the church in whatever way or place the pope asked them. At the beginning this took the form of defending the faith against the attacks of the Protestants. For example, many Jesuits were sent to Germany to preach against Lutheranism, and they were successful in bringing many people back to the church. As time passed, the Society began to establish its own universities, convinced that a strong Catholic education would ensure loyalty to the Church.

The motto of St. Ignatius and his Society was "Ad Majorem Dei Gloriam" ("to the greater glory of God"). He rally lived only for God's glory, and that eventually made him a saint.

Missionaries to the New World

In the centuries that followed, the Church, strong and healthy once more, began to spread even further. The European nations had begun to explore and colonige territories in Asia, Africa, and the Americas. The Church also was active, spreading the faith to the people in these areas. The greates missionary activity since the early days of the Church followed the Reformation.

One of the greatest missionaries at this time was a Jesuit, St. Francis Xavier.   He was among the original members of the Society of Jesus and was chosen by St. Ignatius to be one of the Societýs first missionaries. Like the great missionary St. Paul, Francis covered a vast territory in a very short time.

His preaching began in India. From there he traveled through Sri Lanka, Malaysia (Indonesia), and Japan, converting many as he went. He died before he could enter China, but future Jesuits who continued his work did preach the gospel in China. The work begun by St. Francis Xavier paved the way for later missionaries to the Orient.

Jesuit missionaries from France were among those who brought the message of Christ to the French territories in North America. St. Isaac Jogues and seven others are called the North American martyrs". They preached among the Indians and suffered martyrdom for their faith.

Spanish missionaries labored in the south-western and western portions of the North American continent. One of the most notable is the Franciscan priest Fr. Junipero Serra, who founded a series of mission s among the Indians in California.

With the work of the missionaries and Catholics who settled in America from Europe, the faith was planted on American soil. The first saint born in the United States was St. Elizabeth Seton, who was born in 1774.

Elizabeth was raised as an Episcopalian and married William Seton, a prosperous merchant from New York. They had five children. When Elizabeth's husband became ill with tuberculosis, they moved to Italy, where he died. In Italy Elizabeth became convinced that the Roman Catholic Church was the true Church.

When she returned home, Elizabeth became a Catholic, despite the strong objections of her family and friends. To support herself and her children she opened a school for other young children in her vicinity and later in Maryland. Her school was unusual because it was intended for any student, not just the children of the rich. This was the beginning of the Catholic school system in the United States.

Other young women joined her. In time this group became a religious community, the Sisters of Charity. Founded in 1809, this was the first religious order to be founded in America.

During this time of missionary expansion, the Church was challenged by the scientific, intellectual, and political revolutions taking place in Europe. The Church was constantly called upon to defend herself but was able to remain strong.

Modern Times

As the church entered the twentieth century, she was blessed with a saintly Pop, Pius X. A simple country priest, but also a great teacher, Pius was able to help the Church face one of the greatest heresies in her history -Modernism. Modernists think that teachings on faith and morals should change and evolve, and that there is no unchangeable, objective revelation from god on which Christianity is based. In ađition, modernists deny the reality of supernatural events, such as miracles, which support the Christian faith. Pope Pius X wrote two great encylicals summarizing and refuting these ideas.

Pope St. Pius served as a great shepherd of the Church. He encouraged frequent reception of Holy Communion. He reminded Catholics that the Eucharist is our spiritual food. He also lowered the age at which young children may first receive this great sacrament. In ađition, Pope Pius X encouraged the Catholic laity be become involved in charitable work among the poor. He died broken hearted as the First World War began, expressing his simplicity in his last will and testament. "I was born poor, I lived poor, I die poor".

Since his death, the Church and the world have faced more challenge -- particularly the spread of atheistic, totalitarian forms of government in various nations. The two world was since the death of Pius X remind us of the terrible evils of Nazism, communism, and fascism. In opposition to these evils, one of the great saints of this century, St. Maximilian Kolbe, shines forth as an example for our times.

Maximilian was born in Poland near the turn of the century. As a member of the Franciscan order, he devoted much of his time and intelligence to understanding the role of Our Lady in our salvation. Before he was ordained, he organized a group of the friars into what he called the "Knights of Mary Immaculate". Members of this group dedicated themselves to win the whole world for Mary. After his ordination, he also gathered lay people into his group. In order to spread his message further, in the early 1920s he began a magazine called The Knight of the Immaculaté. He had no financial backing, but the magazine thrived surprisingly, although it continually faced financial difficulties. He also established a community in Nagasaki, Japan, which later miraculously survived the atom bomb.

In 1936, after establishing the community in Japan, Maximilian returned to Poland. At this time Hitler came to power in Germany, and soon his armies invaded Poland. Maximilian was arrested by the Gestapo and imprisoned in Auschwitz in 1941.

Maximilian was immediately a source of strength for all imprisoned with him. Shortly after he arrived, some prisoners escaped from the camp. In retaliation, the Nazis randomly chose ten prisoners to be starved to death. One man who was chosen, Sgt. Francis Gajowniczek, began to cry for his wife and children. At this point Fr. Maximilian asked the guards if he could take the sergeant's place. When asked why he chose to do this. He answered, "I am a Catholic priest." With that Maximilian Kolbe began the road to his martyrdom. He prayed and gave courage to the other nine men in the starvation bunker. To the complete surprise of the Nazi guards, he was still alive after three weeks of neither food nor water, and they finally killed him. St. Maximillian died as he had lived -- offering his life to God.

In our times the Church continues to grow, as the faith is spread in places such as India and Africa. After two thousand years e wee that the Holy Spirit continues to guide the Church. Christ's promise continues: ".the powers of death shall not prevail against it."

Words to Know:

St. Francis of Assisi                            St. Catherine of Siena                         St. Dominic

St. Thomas Aquinas                                        Crusades                                 Miđle Ages

Great Western Schism                                             Renaissance                                Reformation

Counter-Reformation                             St. Ignatius of Loyola                      Modernism

*******************************************************************

CHAPTER 3

 

Separated Brethren

I therefore, a prisoner for the Lord, beg you to lead a life worthy of the calling to which you have been called, with all lowliness and meekness, with patience, forbearing one another in love, eager to maintain the unity of the Spirit in the bond of peace" (Eph 4:1-3)

The universality of the Church is manifested in our times buy the millions of Catholics throughout the world. At the same time, there are still many people who do not belong to believe in Christ, while others do not, even though they believe in the one, true God. There are others who may have some sort of religion but do not believe in the one, true God. All of these people are outside the visible Church, but in varying degrees. In this chapter we will consider their relationship to the Church.

Let us pray for all our brothers and sisters who share our faith in Jesus Christ, that God may gather and keep together in one Church all those who seek the truth with sincerity (General Intercession from the Liturgy of Good Friday).

Those closest to the Church are non-Catholic Christians who have been baptized. They are often referred to as our separated brethren. They are united in some way to the Mystical Body in virtue of their Baptism. This is because there is but "one Baptism for the forgiveness of sins", as we profess in the Nicene Creed. We are all baptized in Christ. Thus anyone who has received the sacrament of Baptism has been united to Christ and his Body, the Church.

What divides Christians, however, is the degree to which they accept the teachings and practices handed down through the apostles from Christ. It is only the Catholic church that teaches the full message of Our Lord. The divisions in belief and practice among Christians vary by degrees.

Those who are closest to the Church are the Orthodox Christians, who possess all of the sacraments but who have separated themselves from the authority of the Church. They did this, as we saw, one thousand years ago when they rejected the authority of the Pope.

In the next place are those denominations that broke away from the Church at the time of the Reformation-for example, the Lutherans. In ađition to separating themselves from the authority of the Church, these groups also rejected certain teachings and sacraments of the Church. The Lutherans, for example, rejected the need for the sacrament of Penance and taught that individuals may interpret the Scriptures without the guidance of the Church.

Finally, there are Christian denominations that have broken from these groups, rejecting still more doctrines of our faith. Since the Reformation, new Christian denominations have continued to appear, as people decided to keep certain parts of the message of Christ while rejecting others.

While all of these various Christian groups possess some parts of Christ's gospel, they are still separated from the fullness of his message.

The fullness of unity in the Church requires that all Christians be united again in doctrine and worship. The Church prays for this, especially in the Liturgy of God Friday. The message of the prayer is that those united to Christ, initially in Baptism, may be fully united with him in faith.

Almighty and eternal God, long ago you gave your promise to Abraham and his posterity. Listen to your church as we pray that the people you first made your own may arrive at the fullness of redemption (General Intercession from the Liturgy of Good Friday).

Then there are those people who do not believe in Christ, but who do believe in the one, true God. These are the Jews and the Moslems. The Jews, by virtue of their history, bear a closer relationship with the Church.

The Jews were the first chosen people. God first revealed himself to man when he made the Covenan with Abraham. He promised that Abraham's descendants would be his special people and that he would be their God.

Over the centuries God gradually revealed himself to these people, preparing them specially for his spiritual Kingdom, which was still to come. God revealed to his people that salvation would come to the world through them. God promised that he would restore to the world the harmony and closeness to God that had existed before the Fall. This would be accomplished by a descendant of Abraham--the Messiah.

When they had been instructed and formed, the Jews were ready to receive the fullness of God's revelation. They were ready to be transformed into the wholly spiritual people God had intended them to be. And so Jesus Christ, the Son of God, came into the world.

Many of the Jews, however, did not recognize him the Messiah. Because of this, they are separated form the Church today. They should be members of the Church, for salvation came form them. Jesus himself said to the Samaritan woman at the well, "Salvation comes form the Jews" (Jn 4:22). A special bond unites us with them. Jesus sprang from their own stock; he was "son of David". God still loves them with a special love. We pray that they may recognize in Our Lord their own Messiah promised by Godand thus once more become part of the People of God, as they had been destined to bẹ

Like the Jews, the Moslems also believe in the one, true God. However, unlike Judaism, their religion is not the preparation for Christianity. The Moslem religion - Islam -- developed in Arabia about six hundred years after Christ and draws form both Judaism and Christianity. They accept the revelation of God to the Jews found in the Old Testament but do not recognize Christ as the Messiah. They see him as one of the prophets, not as the Second Person of the Trinity. We pray that the Moslems, too, may see the truth and one day be fully united to the Church.

Almighty and eternal God, you created mankind so that all might long to find you and have peace when you are found. Grant that, in spite of hurtful things that stand in their way, they may all recognize in the lives of Christians the tokens of your love and mercy and gladly acknowledge you as the one true God and Father of us all (General Intercession from the Liturgy of Good Friday).

Then there are those people -- both the pagans and the atheists -- who do not believe in the one, true God at all. The pagans are those who do not believe in the only true God but may practice some for of idolatrous religion or even believe in many gods, which is called polytheism. The ancient Greek and Roman religions were of this sort. There are also those pagans who practice animism, believing that inanimate objects possess supernatural powers and can be controlled by us. The pagans then worship many gods. But not the one, true God.

There can be many obstacles that prevent these people from believing in God. We pray that God will remove these obstacles, so they too may come to believe in him.

As members of the Church we should work toward the reunion of all Christians with the Church and pray that all others outside the Church might fully become members of the Mystical Body. This is what is meant by ecumenism. As Catholics we have been given a great gift, and we should have longing to share this gift with others.

We know that salvation has come into the world through Christ. He lets us the Church to distribute to us the graces of salvation and to provide a secure guide for us. We have been blessed with the sacrament that help us on our path to Heaven. Christ also left us with a visible representative on earth, so that we might clearly see his message in the world. Those who are outside the Catholic Church do not have these great gifts. Does this mean, then, that those who are outside the visible Church cannot be saved?

The church teaches that "outside the Catholic Church there is no salvation". What exactly does this mean? The Church is necessary for salvation because Jesus Christ is necessary for salvation. Jesus and his message are found completely in the Church -- his Body.

The Church does not teach, however, that all of those who are outside the visible Church will not be saved. Only those who know that God wants them to be in full communion with the Catholic Church, yet who deliberately choose to remain outside the Church -- by willingly rejecting Christ and his message -- will not be saved. There are many people, though, who are outside the visible Church through no fault of their own. Fro example, there are many who have never heard the gospel or may have a distorted picture of it. If they live a good life, trying to do what God expects of the, they have hope of salvation.

But a problem still exists. Our Lord told us that Baptism is necessary in order to enter Heaven. When he spoke to the Parisee Nicodemus, he said:

Truly, truly I say to you, unless one is born of water and the Spirit, he cannot enter the Kingdom of God (Jn 3:5)

We have already seen that those Christians who are outside the Church are truly baptized in Christ, but what about those who have never been baptized -- can they enter into the Kingdom of God?

For those who do not know of the sacrament and its importance, or who are unable to receive it before they die, there are tow other means of receiving the sanctifying grace necessary to enter Heaven. The first is called Baptism of desire. This desire for Baptism can be explicit as in the case of someone who is preparing for Baptism but who dies before receiving the sacrament. Or it can be impolicit. The desire in implied in those people who faithfully and truly try to carry out God's will in their lives. Perhaps they do not know of the need for Baptism but would receive it if they did. God, knowing their thoughts and desires, does not punish them for circumstances beyond their control.

The second extraordinary means of receiving the grace necessary for Heaven is called baptism of blood. This is the 'baptism" grandted to those non-Christians who have been martyred for Christ. The fact that they are willing to die for Christ demonstrates their faith, and they ware welcomed into Heaven, although they have never received sacramental Baptism.

Now that we see the great gift we have been given by being baptized and raised as members of the Catholic Church, we would work to bring others into union with the Church. At the same time we should show respect for the religious of others, leading them with patience and compassion to see the truth.

We ought to see that we are unworthy to receive such a gift, and not think that this entitles us to feel smug and superior. Indeed we can learn form so many of our separated brethren.

The Eastern Orthodox venerate tradition. The splendor of their liturgy inspires in us deep reverence for the worship of God. Episcopalians have a great understanding for the beauty of ceremonies. Lutherans, Baptists, and Evangelicals read the Bible and are very familiar with it. Jews have a deep sense of the sacred, love the Commandments, and have the courage to stand up for their beliefs.

We Catholics must live our faith more seriously. Our love must increase, and each of us must personally convert, and turn away form sinful ways and follow Christ.

Words to Know:

Separated brethren                              chosen people                          atheist                          agnostic

Ecumenism                                          animism                                   polytheism

Exercises:

I.          Questions:

1.         Can another Church, besides the Roman Catholic Church, be the Church of Jesus Christ, or at least part of it?

            No church, outside of the Roman Catholic church, can be the Church of Jesus Christ, and not even part of it, because such a church cannot, live the roman catholic church, have the singular and distinctive qualities of the Church of Christ, that is one, holy, Catholic and apostolic, As matter of fact, none of the other churches which are called "Christian" have these distinctive qualities.

2.         Is it a serious loss to be outside the Church?

            It is a most serious loss to be outside the Church, because outside one does not have either the means which have been established or the secure guidance which has been set up for eternal salvation, which is the only thing truly necessary for man.\

3.         Will a person outside the Church be saved?

            A person outside the Church by his own fault, and who dies without perfect contrition, will not be saved. But he who finds himself outside without fault of his own, and who lives a good life, can be saved by the love called charity, which unites unto God, and in a spiritual way also to the Church.

*********************************************************************

CHAPTER 4

 

DOCTRINE OF GRACE

We have learned that God created each one of us to know, love, and serve him on earth, and to live with him for ever in Heaven. This is the purpose of our lives. So it must be very important that we learn how to do these things as best we can.

But this is an impossible task for us. How can we, who have been separated form God because of original sin, reach the greatness of Heaven? We cannot! That is, we cannot unless God comes to our help with his grace.

God's Greatest Gift: Sanctifying Grace

Because of original sin all of us are conceived without the gift of grace in our souls. There have been only two exceptions: Jesus, who being God was always full of grace, and his mother Mary, who received grace at the moment of her conception in her mother's womb.

Sanctifying grace makes us holy and pleasing to God; it makes us his adopted children and temples of the Holy Spirit. It gives us the right to live in Heaven. This is why it is called God's greatest gift to us. There is only one thing that can ever take this gift away from us: mortal sin.

Sanctifying grace gives us a share in God's life. There are different kinds of life in the world. A living tree has plant life by which it can grow, blossom, and bear fruit. A dog has animal life that makes it better than a tree. It can see, hear, and move about. People have human life that allows us to think, to love, and to communicate ideas. But God's life which comes to us through grace is the greatest of them all, for with it we can live in Heaven. Without it we cannot.

Along with giving us a share in God's life, sanctifying grace gives us three supernatural powers: faith, hope, and charity. We will learn about these three powers in the next chapter.

We receive sanctifying grace in the seven sacraments of the Church. Baptism first gives this new life to our souls and Confirmation strengthens it. The other sacraments, especially the Holy Eucharist, deepen this life of God, while Penance gives it back to us if we have lost it by mortal sin, and Anointing prepares us for physical and spiritual healing or the grace of a happy death.

The Gift of Actual Grace

Another kind of grace gives us all of the day-to-day helps that we need in order to do well and avoid evil; Actual graces come to us in the form of inspirations that enlighten our minds. Some examples of actual graces are the desire to pray or to read the Bible, and the urge to help someone who is sick or who needs help with homework. Whenever we say "yes" to these desires and carry out the good works they suggest, we become better Christiana and more pleasing to God.

Without the help of actual graces we could not avoid sin or do good works for others. These graces help us to treat other people with respect and show us the way to live a good Christian life.

Words to Know:

grace                supernatural                 sanctifying grace                     actual grace

Exercise

 

I.          Questions:

1.         What is sanctifying grace?

            Sanctifying grace is a supernatural gift which abides in our soul. Hence it is also called habitual grace. It makes us holy, that is, right with God, friends of God, adopted sons of God, brothers of Jesus Christ, and heirs of Heaven.

*************************************************************

CHAPTER 5

FAITH, HOPE, AND CHARITY

The previous chapter helped us to learn that grace, especially sanctifying grace, is God's most wonderful gift to the Christian. It fills us with God's life, making us his adopted sons and daughters. It makes us holy temples of the Spirit, who comes to live in our souls. When the Spirit comes to us he brings three virtues that help us to believe, trust, and love God. These are called the virtues of faith, hope, and charity.

A virtue is a permanent power that helps us to do good and avoid evil. It can be either natural (something we work for, such as the virtue or power to be honest) or supernatural (given directly by God without our having to work for it). Faith, hope, and charity are supernatural virtues given to our souls at Baptism along with sanctifying grace. These three powers are also called theological virtues. The word "theological" means "of God", so this name reminds us that faith, hope, and charity come from God and are meant to help us live for God.

Whoever is in the state of sanctifying grace (that is, a person who is baptized and has not lost this grace by mortal sin) has these power. But they are like muscles of the soul that need to be strengthened by exercise if they are to be in good shape and useful to us. The way we exercise these spiritual muscles is by good works and by prayer, especially the acts of faith, hope, and charity. You will find prayers for making these acts at the end of this book.

Let us now look at each of these virtues and see how they help us to live the Christian life.

The Power Of Faith

With the virtue of faith we receive the power to believe in God and in all that he has revealed through Christ and the Church. Faith helps us to see how all-good, all-loving, and all-truthful God is. It helps move us to give ourselves to him completely. Without faith, we would never be able to believe in God or in the revelation he has given us. Thus, we see right away that faith is necessary for salvation; it makes us just, or holy, in the sight of God as Saint Paul reminded the Christians in Rome: "Now that we have been justified by faith, we are at peace with God through our Lord Jesus Christ". (Rom 5:1)

There is a big difference between believing something and understanding something. The power of faith makes it possible for us to believe what God has revealed. This means that we say "yes" to the truth even if we don't fully understand it. For example, a judge or a jury believes the testimony of a witness in court. They were not present at the scene of the accident or crime but the witness was. They accept his word as true. We were not present during Christ's life but the apostles were. Through the supernatural virtue of faith we accept their testimony as true--that Jesus worked great miracles and rose form the dead. And God blesses this faith which we have in his Son, in his apostles, and in the Church: "Blessed are they who have not seen and have believed". (Jn 20:29)

For our faith to be true and pleasing to God it must be:

1.         Firm: We must place all our faith in God whom we know could never deceive us or lead us astray.

2.         Complete: We must accept all that God has revealed, not simply "picking and choosing" from among Our Lord's teachings.

The Power Of Hope

The virtue of hope makes it possible for Christians to trust in God. It helps us to find comfort in Jesus' promise of eternal life: "I am the resurrection and the life: whoever believes in me, though he should die, will come to life" (Jn 11:25-26). Hope has to do with things that seem impossible, such as salvation. Do you remember when Jesus said how hard it would be for a rich man to enter Heaven and the disciples asked him who could then be saved? (Mt 19:24-25). Well, Jesus' response to his disciples shows us what hope really means. He said, "for amn it is impossible; but for God all things are possible" (Mt 19:26). Hope tells us that God, who promised Heaven to us, will give us all the strength we need to get there. He is faithful to his word and so we can put our trust in him.

The Power Of Charity

Charity (also called love) is the greatest of the three supernatural virtues, as Saint Paul told the Christians of Corinth: "There are in the end three things that last: faith, hope, and love, and the greatest of these is love". (1Cor 13:13)

Charity is the power by which we love God above all things and our neighbor as ourselves. You will remember that Jesus called this the greatest commandment of God. It has such a high place of honor because it is the bond of friendship between God and man. Saint John, often called the "Apostle of Love", told us that by charity God dwells in our souls: "God is love, and he who abides in love abides in God, and God in him". (1 Jn 4:16)

But what is love? Some people think that it means feeling good about someone or something. They are very wrong! While it is true that we might feel good about someone we love, this is not what love means. True love means that we want only what is really good for the person. To love God means that we want to please him by doing good and avoiding sin.

To love our neighbors means that we want good thins for them, especially that they reach Heaven. This why Jesus told us that we must not wish evil things for others, not even our enemies! (Mt 5:43-48)

Words To Knows:

Theological virtues                  virtue                  faith                    hope                     charity

Exercise

 

I.          Questions:

1.         What is virtue?

            A virtue is an abiding disposition of the soul to do good.

2.         How many kinds of virtues are there?

            There are two kinds of virtues:

First: The natural virtues, which we acquire by repeating naturally good acts. These are called moral virtues of the natural order.

Second: The supernatural virtues, which we cannot acquire or even exercise by our own powers for they come to us as gifts from God and are the virtues proper to the Christian.

3.         What are the virtues proper to the Christian?

            The virtues proper to the Christian are the supernatural virtues, and in particular faith, hope, and charity. These last three are called the theological or divine virtues because they have god himself for their object and their motive.

4.         How do we receive and exercise these supernatural virtues?

            We receive these supernatural virtues together with scarifying grace, by means of the sacraments or by perfect charity. We exercise them with the help of actual graces, namely, the good thoughts and inspirations with which God moves and helps us in every good act that we dọ

5.         Which is the most excellent among the supernatural virtues?

            The most excellent among the supernatural virtues is charity:

- Because it is inseparable form sanctifying grace.

- Because it unites us intimately to god and to our neighbor.

- Because it moves us to perfect observation of the law and to do every good work.

- And finally because it will carry on into the life to come.

- Thus Christian perfection consists in charity.

6. What is faith?

Faith is the supernatural virtue by which we believe, on the authority of God, what he   has revealed and proposes to us for belief by means of the Church.

7.         What is hope?

            Hope is the supernatural virtue by which we trust in God and expect to receive eternal life from him and the graces necessary to merit this eternal life by our good works here on earth.

8.         What is the reason why we hope to receive eternal life form god and the graces necessary to merit it?

            We hope to receive eternal life and the graces necessary to merit it from God because he who is infinitely good and faithful has promised it to us through the merits of Jesus Christ. Therefore, whoever distrusts God or despairs of his own salvation, offends God in the highest degree.

9.         What is charity?

            Charity is the supernatural virtue by which we love God, for his own sake, above every other thing and our neighbor as ourselves for the love of God.

10.       Why must we love God?

            We must love God for him own sake because he is supremely good, the source of every good thing that we have. Therefore we must also love him above every other thing "with all our heart, with all our soul, with all our mind, and with all our strength" (Mk 12:30).

11.       Why must we love our neighbor?

            We must love our neighbor for the love of God because God commands it and because every human being has been created in the image of God, like ourselves, and hence is our brother.

12.       Are we obliged also to love our enemies?

            Yes, we are obliged also to love our enemies, forgiving the offenses we may have received, because our enemies are also our neighbor and because Jesus Christ has given us an explicit command to love our enemies.

13.       Is it good to make frequent acts of faith, hope, and charity?

            Yes, it is indeed good to make acts of faith, hope, and charity frequently, in order to preserve, to increase, and to strengthen these virtues which are so necessary to us, for they are, as it were, the living parts of the "spiritual man".

14.       How should we make acts of faith, hope, and charity?

            We should make acts of faith, hope, and charity with our heart, with our lips, and with the things that we do, giving proof of them in our behavior.

15.       How do we give proof of our faith?

            We give proof of our faith by professing it and defending it, when need arises, without fear and without human respect. We also give proof of our faith by living according to its teachings: "Faith without works is dead" (James 2:26)

16.       How do we give proof of hope?

            We give proof of our hope by not letting ourselves become disturbed by the difficulties, sorrows, and contradictions of life and not even by persecutions; buy by living in peaceful resignation to Providence, secure in the promises of God.

17.       How do we prove our charity?

            We prove our charity by observing the commandments of God and by practicing the works of mercy; and, if God calls us to it, by following the evangelical counsels.

********************************************************

 

 

CHAPTER 6: THE CARDINAL VIRTUES

Once we have received the gift of sanctifying grace we may not simply “sit back” and believe that we are saved. God calls each one of us to prove our love for Him by growing in prayer and good works. A most important way of showing our love is by living the virtues.

As we learned in the previous chapter, a virtue is a permanent power that we have by which we learn to do good and avoid evil. Faith, hope and charity are supernatural virtues given to us by God. There are other birtues that we must acquire by practice. The four main ones are prudence, justice, temperance, and fortitude. They are called the cardinal virtues because all of our good actions depend or “hinge” upon them. These four powers are the foundation of the good life. By practicing them we become virtuous and are strengthened to do great things out of love for God and neighbor.

The Virtue of prudence

Prudence is the ability to make the right choices in lofe. Many times we find ourselves in very difficult situations. We are not sure what Christ would do if he were in our shoes. Well, prudence shows us the way; It tells us what to do in order to be faithful to Jesus.

Saint Maria Goretti was a twelve girl who lived near Rome. One summer day, in July 1903, she was murdered by a teenage boy. This young man had wanted Maria to commit a sin against purity with him; he held a nife against her, ready to kill her if she refused. Prudence told Maria that the right thing to do was to sream for help while trying to get away from the attacker. She knew that death was very real possibility, but she also knew that moral sin was even worse. No one heard Maria's screams as she was being stabbed. She died the next morning after forgiven and prayed for her attacker. Today, Maria is honored throughout the world as a martyr of purity. Prudence showed her the right way - the way that leads to Heaven.

The Virtue of Justice

Jutice is the virtue which helps us to live honestly by respecting the rights of others. The just person gives to everyone what he deserves. To God he gives worship; to his parents, respect and obedience; to his friends, charity and loyalty. Jesus spoke to us about justice when he said: “Treat others the way you would have them treat you.” (Mt 7:12)

The unjust person thinks only about his own needs and desires. Pontius Pilate, the leader of the Romans in Palestine, was unjust to Our Lord. When Jesus was brought before him in trail he knew that Christ was innocent. But he also knew that the leaders of the Jews wanted Jesus dead and that it would riun his political career if he went against their wishes. Thinking only aout himself, Pilate condemned Our Lord to Crucifixion. He followed the wrong desires of the crowd instead of sticking up for the truth.

The Virtue of Temperance

Temperance is the power to control ourselves. We usually think of it only as having to do with food or drink, but temperance helps us in every situation.

Saint Dominic Savio was an Italian teenager who lived in the middle of the 1800s. He went to a Catholic high school where he soon become the most popular boy in his class. Everyone wanted to be with Dominic because he was so cheerful and good-hearted. After he died at fifteen years of age from a paintful illness, a great secret was discovered about Dominic:he had promised God that he would never commit even one mortal sin!

Dominic's confessor told the other boys that he had kept his promise, and these friends wondered how Dominic had done it. They all knew from experience how difficult it was to do good and avoid sin. They found out from their friends' confessor that Dominic was able to keep his promise because of temperance. He never overate, never overslept, never overdid anything. By keeping control over his physical needs Dominic had to control his selfish desires too.

The Virtue of Fortutude

Fortitude is the virtue that helps us to face every difficulty or danger with inner peace and courage. It allows us to carry our duties even if doing so might required great sacrifice and suffering.

All of the holy martyrs of the Church showed fortitude when they chose to remain loyal to Jesus, even though this meant being thrown to the lions or being killed in other terrible ways. Fortitude did not make it easy or take away their fears, but it strengthened them to do what was right no matter what.

There is one young martyr we should all know about. His name was Saint Pancreas, and he was only fourteen whne he died in the year 304 A.D. Pancreas was a very handsome boy and so strong that he always beat the other teenagers in wrestling matches. One day, he won a match against a young pagan boy who was very vain and conceited. To get even, this boy revealed to the Emperor that Pancreas was Catholic. This was forbidden by Roman law.

Well, the Emperor had been a good friend of Pancras' dead father and he wanted to spare the boy. He tried to get him to change his mind. The Emperor said: Just offer some prayers to our gods, and I will give you power in the Empire. But Pancras, even though afraid of being killed, refused to deny Jesus. He replied, By Baptism I am a son of God. I can never give up Jesus Christ, not even for an empire.

So Pancras was condemned to death. What a courageous he was, as he was led through the streets like a criminal. He did not cry out while the soldiers whipped him., nor did he change his mind as he heard the crowds joke about him. Instead he thought about Jesus being led through the streets of Jerusalem to Crucifixion. Before he was killed by the sword, Pancras said this prayer which showed his inner peace and fortitude:

         Thank you, Lord Jesus, for the suffering I am about to receive. I accept it with joy, knowing that my death will bring me to Heaven to be with you for ever. My God, save those who are about to kill me!

We do not have to be martyrs to practice such fortitude! We all have to be strong as we try to live as christians in a world that does not think much of our holy way of life. We all have to remain loyal to Jesus when students in our class want us to go out drinking or do other things that are wrong for a teenager. And each one of us can have the same peace and joy that filled Saint Pancras by loving Jesus more than anything else.

Practice Make Perfect

We will all face times in our lives when we will need to be prudent, just, self-controlled, and courageous. So we need to practice these virtues now or else they will not be there when we need them! Your parish priest can show you ways to do this; simply ask him the next time you go to confession.

By living the virtuous life we will be happy. Jesus assured us of this happiness in his Sermon on the Mount when he promised it to those who live the Christian life. That life is summed up in the eight Beatitudes as follows:

1.         Blessed are the poor in spirit, for theirs is the Kingdom of Heaven.

2.         Blessed are those who mourn, for they shall be conforted.

3.         Blessed are the meek, for they shall inherit the earth.

4.         Blessed are those who hunger and thirst for righteousness, for they shall be satisfied.

5.         Blessed are the merciful, for they shall see God.

6.         Blessed are the pure of heart, for they shall see God.

7.         Blessed are the peacemakers, for they shall be called sons of God.

8.         Blessed are those who are persecuted for righteousness' sake, for theirs is the Kingdom of Heaven.

Words to Know

           Cardinal - prudence - justice - temperance - fortitude - eight Beatutudes

Exercise

1.         What is moral virtue?

           A moral virtue is a habit of doing good, acquired by repeatedly doing good acts.

2.         What are the principal moral virtues?

           The principal moral virtues are: religion, by which we give God the worship owed to him,  

           and the four cardinal virtues: prudence, justice, fortitude, and temperance, by which we are

           able to live in an upright way.

3.       Why are these virtues called cardinal virtues?

           These virtues are called cardinal because they are the hinges, as it were, or the support of all the other maral virtues.

4.         What is prudence?

           Prudence is the virtue which directs our actions to the right kind of purpose and gives us the abitility to discern and to use right means for attaining that

           purpose.

5.         What is justice?

           Justice is the virtue which brings us to give each one what is due to him.

6.         What is fortitude?

           Fortitude is the virtue which brings us to confront without temerity or fear any difficulty or danger, even death itself, for the service of God and the welfare of

           our neighbor.

7.         What is temperance?

           Temperence is the virtue which hold our passions and disires under control, especially the sensual ones, and which brings us to moderation in using goods of

           senses.

8.         What are the passions?

           The passions are violent movements or impulses of the soul which, if they are not moderated by our reason, lead us to vice and often also to sin itself.

9.         What is a vice?

           A vice is habit of doing evil, acquired by bad actions.

10.       What are the principal vices?

           The principal vices are the seven capital sins. They are given this name because they are the source and the origin of other vices and sins. These are: pride,

           avarice, lust, anger, gluttony, envy, and sloth.

11.       What are the virtues opposed to the capital sins?

           The virtues opposed the capital sins are: humility, liberality, chastity, patience, sobriety, brotherliness, and diligence in the service of God.

12.       Did Jesus Christ recommend to us any particular moral virtues?

           Jesus Christ recommended certain moral virtues in a particular way, included in the eight evangelical Beatitudes, calling him happy and blessed who puts

           them into practice.

************************************************************************

CHAPTER 7: THE SEVEN SACRAMENTS

We know that Adam and Eve lost the gift of grace for all mankind by their disobedience to God's commands. God sent his only Son to bring grace back to the world. How? By dying on the Cross as asacrifice for our sins, a sacrifice accepted by the Father, who raised Jesus from the dead.

By this raises an important question: How did Jesus plan to give this grace to us, to every person who will evre live? The New Testament and Sacred Tradition give us the answer: Jesus gave us the seven Sacraments as the ways to receive the grace of God.

What is A Sacrament?

The sacraments are seven visible signs, or ceremonies, that were instituted by Christ to give us grace. They must not be thought of as “magical rites” that give grace as a vending machine would give soda! They are sacred ceremonies in which we are truly called by Jesus to accept his love and forgiveness, to grow in our relationship with him and with the whole Church, with our brothers and sisters in Christ.

Each of the sacraments has special words or actions that bear a message for us. Wea re all familiar with signs that are meant to give us a message. For example, when we see the flag of the United States, we know that it represents that country. We all understand a smile to be a message of joy, while tears are most of often a message of sorrow. Words are verbal signs. For example, If I say the word “dog” to you, you understand it as a message about a four-legged furry animal that barks.

The Signs Of the Sacraments

Well, the signs of the sacraments bring us their own special messages too. For example, the sign of Baptism tells us that someone is being freed from original sin and being made a child of God. The sign of the Holy Eucharist tells us that bread and wine are being changed into the Body and Blood of Jesus. Once we learn what the signs are, it is quite easy to remember what each of the sacraments does for our souls.

But unlike the ordinardy human signs, the sacraments received power from Jesus to do what they tell us. This can be quite confusing so let us look at it a little more closely. Consider the ordinary stop sign. Whenever we see this red eight-sided sign we stop at an intercession because this is what it reminds us to do. But it does not have the power to make us stop; we must do that ourselves. Well, if the stop sign had the power of a sacrament, it would be able to make us stop as we saw it.

This is difficult to understand because the sacraments are mysteries of Faith, like the Blessed Trinity or the Incarnation. We accept and firmly believe in them because God has revealed them to us. One of the most ancient titles for the sacraments (still used in the prayers at Mass) is sacred mysteries.

So when a priest performs the signs of a sacrament, the message they proclaim is also carried out. For example, when the priest says, “This is my Body. . . This is the cup of my Blood. . .” over the bread and wine at Mass, they really do become the Body and Blood of the Lord, because Jesus gave him the power to do this. Here is a chart that will help you learn the matter and the form of the Sacraments.

Baptism:

The pouring of water while saying: “I baptize you in the name of the Father, and the Son, and of the Holy Spirit.”

Confirmation:

The bishop's imposing his hand on the person and anointing him with chrism (blessed oil) while these words are said: Be sealed with the Gift of the Holy Spirit.”

Holy Eucharist:

The gift of bread and wine over which the priest says: This is my Body. . . This is the cup of my blood.”

Penance:

The verbal confession confession of sins to a priest, after which saying he says: “I absolve you from your sins in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit. Amen

Anointing:

Anointing with oil of the sick while saying: Through this holy anointing may the Lord in his love and mercy help you with the grace of the Holt Spirit. Amen, May the Lord, who frês you from sin, give you and raise you up. Amen

Holy Orders:

The bishop's laying on of hands followed by his saying: “We ask you, all-powerful Father, give these servants of yours the dignity of the presbyterate. Renew the Spirit of holiness withn them. By your divine gift may they attain the second order in the hierachy and examplify right conduct in their lives.”

Matrimony:

The exchange of wedding vows between the Christian man and a Christian woman.

The Gift Of Sacramental Grace

 

Besides giving us sanctifying grace the sacraments give us a special grace for our journey to Heaven. It is called sacramental grace, and it helps us in various ways depending upon from which sacrament it comes. The following chart shows us these different sacramental graces:

Baptism: Gives us the grace to live a holy life.

Confirmation: Gives us the grace to be strong in faith and loyal to Jesus as we journey to Heaven.

Holy Eucharist: Gives us the grace to love Jesus with all our hearts and to love our neighbors as    

                             ourselves.

Penance: Gives the grace to overcome our sinful desires and actions.

Anointing: Gives priests the grace to accept our sicknesses, anf to die a good death.

Holy Orders: Gives priests the grace to live good lives dedicated to preaching the gospel and

                         administering the sacraments.

Matrimony: Gives a husband and a wife the grace of loving each other until death and of being

                       good parents.

Words to Know:

               Sacraments - sign - sacred mysteries - sacramental grace

Exercise:

1.           What are the sacraments?

               The sacraments are efficatious signs of grace instituted by Jesus Christ to make us holy.

2.            Why are the sacraments efficatious signs of grace?

               The sacraments are signs of grace because those aspects of them which we can perceive with our senses signify for indicate that invisible grace which they

               confer; and they are efficatious signs.

3.            What kinds of grace do the sacraments give?

               The sacraments give sanctifying grace and sacramental grace.

4.            What is sacramental grace?

               Sacrament grace is a right to special grace which are necessary for us in achieving the special purpose of each sacrament.

5.            Who gave the sacraments the power of conferring grace?

               Jesus Christ, true God and true man, gave the sacraments the power of conferring grace, which he himself merited for us by his Passion and death.

6.            How do the sacraments make us holy?

               The sacraments make us holy either by giving us the first sanctifying grace which takes away sin or by increasing that grace we already possess.

7.            Which sacraments give us first grace?

               First grace is given to us by Baptism and Confession. Hence they are called “sacraments of the dead” because they give the life of grace to souls that had

               been dead through sin.

 

8.            What sacraments increase grace in us?

               The sacraments which increase grace in us are Confirmation, the Eucharist, the Anointing of the Sick, Holy Orders, and Matrimony. These are called

               “sacraments of the living” because when we receive them we ought to be spiritually alive by the grace of God.

9.            What should we do to preserve the grace of the sacrament?

               To preserve the grace of the sacrament we must cooperate by our way of living, doing good and avoiding evil.

10.       What things are required for a sacramnet?

             For a sacrament, these things are required: - the matter of the sacrament - the form of the sacrament - and the minister of the sacrament, who must have

             the intension of doing what the Church intends.

11.       What is the matter of a sacrament?

             The matter of a sacrament is the sensible element of which it is composed, such as water in Baptism.

12.       What is the form of a sacrament?

             The form of a sacrament is the set of words which the minister must pronounce in the very act of applying the matter of the sacmaent.

13.       What is the minister of a sacrament?

             The minister of a sacrament is a person who has the power to confer the sacrament in the name of Jesus Christ and by his authority.

**********************************************************************

 

CHAPTER 8: GOD CALLS US TO RECONCILIATION

In the letter to the Christians in Rome, the Apostle Paul tells us that the entire human race was separated from God because of the original sin of Adam. But he goes on to write that this separation has been brought to an end by Jesus our Sevior:

It is precisely in this that God proves his love for us: that while we were still sinners, Christ died for us. . . We were reconciled to him by the death of hid Son. (Rm 5:18,10)

This reconciliation, or reunion, of mankind with God in lovin friendship, is called the Good News of our salvation. Even though mankind had turned away from God by disobedience, he continued to love us and wanted us to be reunited with him. His love was so graet that he sent his only Son to earth in order to offer us forgiveness and new life, to call each one of us to reconciliation: “Yes, God so loved the world that he gave his only Son, that whoever in him may not die but have eternal life.” (Jn 3:16)

God Calls us Through His Church

God's call to reconciliation comes to us through the Catholic Church which Jesus founded to be his voice in the world. Through the Chirch God invites us to answer his call by receiving the sacrament of Baptism. At Baptism we are freed from the separation caused by original sin and are brought back into friendship with God.

When adults ask for Batism they are awre of God's call. Most of us were baptized as infants, however, our parents answered God's call for us. Now we are old enough to answer for ourselves. We can undrestand that God has asked us to receive his friendship through Christ and the Church.

 

Jesus Gave Us Baptism

One night a man named Nicodemus came to talk with Jesus. He was a secret follower of Our Lord who wanted to know more about Christ's teachings. During their conversation Jesus told Nicodemus that Baptism was necessary for those who wanted to go to Heaven, saying: “I solemnly assure you, no one can enter into God's Kingdom without being begotten (reborn) of water and the Holy Spirit.” (Jn 3:5)

In order to make this spiritual rebirth possible, jesus gave us the sacrament of Baptism. After the Resurrection he said to the apostles:

Go, therefore, and make disciples of all nations. Baptize them in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit. (Mt 28:19)

After receiving the Holy Spirit the apostles reached the importance of Batism to the people in Jerusalem. On that very first Pentecost Sunday, Saint Peter procleaimed to the crowds:

You must reform and be baptized, each one of you, in the name of Jesus Christ, that your sins may be forgiven; then you will receive the gift of the Holy Spirit. (Act 3:8)

Through the preaching of the apostles, thousands of people responded to God's call to reconciliation and received the sacrament of Baptism. Men, women, and children from every nation were reunited with God and became members of his Holy Church.

The Effects Of Baptism

Baptism is the first sacrament we receive. It can be received only once because it gives us a special unrepeatable sign called the Baptismal seal. This invisible mark shows God that we have been united to Jesus by Baptism and have become his adopted chidren. It can never be taken away, not even by mortal sin. We also receive Baptism first, because it gives us the right to receive the other sacraments.

Although Jesus did not need Baptism, because he was without sin, we can learn what this sacramentdoes for us by looking at his Baptism in the river Jordon. This baptism that Saint John the Baptist gave was a way of helping others to show their sorrow for sin.

The word baptism means “washing”. This reminds us that through Baptism, God washes away the effects of original sin form our souls. If the person being baptized is old enough to have sinned himself, it takes the offenses away and also the temporal punishment for those sins.

When Our Lord came up out of the water, the Holy Spirit descended upon him in the form of a dove. The Holy Spirit comes down upon us, too, and fills us with the new life of sanctifying grace. We become his holy temples just as the Apostle Paul said in his first letter to the Corinthians: “You must know that your body is a temple of the Holy Spirit, who is within - the Spirit you received from God.” (1Cor. 6:9)

When the Spirit came down upon Jesus the people heard the voice of God the Father saying: “This is my beloved Son. My favor rests on Him.” (Mt 3:17)

At our Baptism we become the beloved children of the Father. Sanctifying grace gives us this precious gift. And since we are his children, we also receive the right to live in our Father's heavenly Kingdom. He gives us the supernatural powers of faith, hope, and charity that help us live lives worthy of this Kingdom.

Batism Of Desire and Of Blood

You my wonder what happens to those people who have not receive Baptism. Do they go to Heaven, too? There are two other ways of getting to Heaven for those who do not know about the sacrament or who have not been able to receive it before they die.

One of these ways is called Baptism of desire. This means that those who are sorry for their sins and who try to please God as best they know how can be saved too. Perhaps these people cannot receive Baptism because there is no one to gi it to them; or maybe they are planning to be baptized but die before receiving it. Baptism of desire can also save those who are truly ignorant of the sacrament, but who would receive it if they knew that it was necessary for salvation.

The other way of getting to Heaven is called Batism of blood. It has happened many times when a no-Christian gives up his life in martyrdom for Jesus. Quite often, during times when Catholics were persecuted for the faith, many no-believers would be so moved by the martyrs' heroism that they would defend the believers and joint them in martyrdom. Thus, even though they had not received the sacrament, they showed their faith in Jesus and were saved.

Words to Know:

             Reconciliation - Baptismal seal - Baptism of desire - Baptism of blood.

Exercise:

-           What is Baptsim?

           Baptism is the sacrament which makes us Christians, that is, followers of Jesus Christ, sons of God, and members of the Church.

-           Whay is the matter of Baptism?

           The matter os Baptism is natural water.

-           What is the form of Baptism?

           The form of Baptism is the following words: I baptize you in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit.

-           Who is the minister of Baptism?

           Ordinary, the priest is the minister of Baptism; however, in case of necessity, the minister of Baptism can be anyone, even a heretic or infidel, provided he

           has intention of doing what the Church does.

-           How is Baptism given?

           Baptism is given by pouring water on the head of the person to be baptized, saying the words of the form at the same time.

-           What effects does Baptism produce?

           Bptism confers the first sanctofying grace and the supernatural virtues, taking away original sin and also personal sins if there are any, together with the entire

           debt of punishment which the baptized person owes for sin. Ina?ition, Baptism impresses the Christian character in the soul and makes it able to receive the

           other sacraments.

-           Does Baptism work a change in us?

           Yes, Baptism transforms a person spiritually, causing him to be as a reboen person, and making him a new man. Hence asuitable name is given to him at

           Baptism, that of a saint, who is an example for him and the protector of his Christian life.

-           If Baptism is necessary for all men, is no one saved without Baptism?

           Without Baptism no one can be saved. However, when it is impossible to receive Baptism of water, the Baptism of blood suffices, that is, martyrdom

           suffered for Jesus Christ; and also Baptism of desire suffices, which is the love of God by charity, desiring to make use of the means of salvation instituted

           by God.

-           What sacraments can be received only once?

           Baptism, Confirmation, and Holy Orders can be received only once.

-           Why is it that Baptism, Confirmation and Holy Orders can be received only once?

           Because they impress a permanent character upon the soul, causing a permanent consecration of the human being to Jesus Christ. This permanent

           consecration distinguishes such a person from others who have not received it.

-           What is this character?

           This character impressed upon the soul is a distinctive spiritual mark that will never be taken away.

-           What are the characters which Baptism, Confirmation and Holy Orders impress upon the soul?

           Baptism impresses upon the soul the character of being a Christian.

           Confirmation impresses the character of being a soldier of Jesus Christ.

           Holy Orders impress the character of being the minister of Jesus Christ.

********************************************************

CHATER 9: THE SACRAMENT OF CONFIRMATION

During the Last Supper the apostles knew that Jesus was saying farewell to them. He was talking about growing to someplace where they could not follow (Jn 13:36). Jesus knew that this saddened them, so he promised to send Someone who would give them comfort and strengthen their faith:

I will ask the Father and he will give you another Paraclite - to be with you always: the Spirit of Truth. . . He wil be with you (Jn 14:16-17)

The word Paraclete means someone who helps and guides others, an advocate. The Spirit of Truth, who is the third Person of the Blessed Trinity, was to come to the folollowers of Jesus as councelor to give inner strength and help their friendship with Jesus to remain alive. He would give them all the spiritual help they needed in order to spread the faith among others.

The Promise Fulfilled

After Jesus returned to the Father, the apostles and other disciples of Jesus spent nine days with Mary, the Mother of Jesus, in prayere, asking God to send the gift of the Holy Spirit. On Pentecost Sunday the promise was fulfilled as Staint Luke tells us:

When the day of Pentecost came it found them gathered in one place. Suddenly from up in the sky there came a noice like a strong, driving wind which was heard all thriugh the house where they were seated. Tongues as of fire appeared which parted and came to rest on each of them. All were filled with the Holy Spirit. They began to express themselves in foreign tongues and make bold proclamations as the Spirit prompted them. (Acts 2:1-4)

The anusual symbols of wind and fire reveal the powers which the Spirit gives us. Wind is an invisible but very real force: It can even lift houses and cars off the ground! Fire is something that cleanses things; for example, sometimes fire is used to clear a piece of land of shrubs and other rubbish so that new trees can be planted. So the Spirit is like an invisible power within us and it cleanses our hearts of sin and selfish desires. In other words, he makes us strong and muture Christians.

We Receive The Fullness Of The Spirit

While it is Baptism that gives the Holy Spirit, Confirmation increases his power within us. This sacrament strengthens the new life we have received as infants. It helps us to witness or stand up for Jesus among our friends and classmates.

The New Testament does not tell us just when Our Lord gave this sacrament to the Church, but the Day of Pentecost is usually seen as the first Confirmation, and throughout the Acts of the Apostles we see many instances of the apostles confirming new believers. When the followers of Jesus baptized people, they would send for one of the apostles to come and givr Confirmation to the new Christians, because usually the bishop is the minister of this sacrament, although he may delegate this faculty to priests.

The sign of Confirmation is the laying on of hands and the anointing with chrism. The laying on of hands shows us that the spiritual gift is being handed to the christians; the chrism reminds us of our share in Jesus' triple mission and connects this sacrament with Baptism. The words which bishop says: ... be sealed with the Gift of the Holy Spirit tells us what gift is being handed on.

The Effects Of Confirmation

Like Baptism, Confirmation gives us a seal, or spiritual mark, that shows we are Christians. It deepens the life of anctifying grace and increases it within us. While at Baptism we were spiritual infants, now we are made spiritual adults who are given the responsibility of spreading the faith to others. This is the special meaning and commitment of Confirmation.

In order to spread the faith the Spirit gives us special gifts which we will learn about in the next chapter. Like the Twelve Apostles we can be truly transformed into courageous followers of the Lord, who are willing even to lay down our lives for the love of God and the truths of the faith.

The Rite Of Confirmation

This beautiful Sacrament usually takes place during a special Mass of the Holy Spirit that is celebrated by a bishop. It is like other Masses except that the prayers and readings are all about the role of the Holy Spirit in the life of the Catholic Christian. The administration of the sacrament of Confirmation takes place after the homily.

First, since Confirmation is a strengthening of Baptism, the bishop leads everyone in the renewal of the baptismal vows. Once again we reject sin and Satan; we profess the Creed and profess our loyalty to Jesus. Then the bishop stretches out his hands over the group to be confirmed while praying:

All-powerful God, Father of our Lord Jesus Christ, by water and the Holy Spirit you freed your sons and daughters from sin and gave them new life. Send your Holy Spirit upon them to be their Helper and Guide. Give them the spirit of wisdom and understanding, the spirit of knowledge and reverence. Fill them with the spirit of wonder and awe in your presence. We ask this through Christ Our Lord. Amen (Rite of Confirmation)

After this comes the actual administration of the sacrament through the anointing with chrism and the laying on of hands. Each candidate, together with his sponsor, comes before the bishop. The bishop dips his thumb into the chrism and places his hand on the head of the person being confirmed, making the sign of the Cross with the chrism an the forehead of the candidate, while saying:

(Confirmation Name), be sealed with the gift of the Holy Spirit.

The confirmed answers: Amen

The bishop the says: Peace be with you

The newly confirmed answers: And also with you.

Through this sacred rite the person has been sealed with the Spirit and filled with his powerful gifts. (Of course, to receive this gift most fruitfully, we must come to our Confirmation in the state of grace and with a spirit of faith in God). The Mass then continues as usual, at the end a special blessing is given to the newly confirmed Catholics.

Living As Mature Christians

The closing prayer for the Mass of the Holy Spirit reveals how we are to live as mature followers of Jesus:

God Our Father, complete the work you have begun and keep the gifts of your Holy Spirit active in the hearts of your people. Make them ready to live his Gospel and eager to do his will. May they never be shamed to proclaim to all the world Christ crucified, living and regning for ever and ever. Amen. (Rite of Confirmation)

This is a very big mission for the new adult Christians! But the Holy Spirit helps us to carry it out. One way he does this is by giving us the good examples of the saints. They hsows us that everyone, no matter what age or situation in life, can live the gospel, do God's will, and proclaim Jesus to others. This is the main reason why we receive Baptismal, and sometimes Confirmation, names. We are placed under the spiritual protection of one of God's saints to whom we pray and who prays for us and inspires us by the example of his or her life. This holy person becomes our partron saint.

Words to know

Paraclete - Witness - Sign of Confirmation - Patron saint

Exercise

1.         What is Confirmation?

             Confirmation is the sacrament which s and soldiers of Jesus Christ.

2.         What is the matter of Confirmation?

           The matter of Confirmation is the sacred chrism, that is, the oil mixed with balsam which the bishop has consecrated on Holy Thursday.

3.         What is the form of Confirmation?

           The form of Confirmation is the following words: Be sealed with the gifts of the Holy Spirit.

4.         Who is the minister of Confirmation?

           The original and ordinary minister of Confirmation is only the bishop. However, special faculties are also extended to priests as extraordinary ministers.

5.         How does the bishop minister Confirmation?

            The bishop extends his hands over the one to be confirmed, invoking the Holy Spirit; then he anoints the forehead of each one with sacred chrism, in the

           form of a cross, pronouncing the words of the form. At the end the bishop blesses all of the confirmed in a solemn manner.

6.         How does Confirmation make us more perfect Christian?

           Confirmation makes us more perfect Christians and witnesses of Jesus Christ by giving us an abundance of the Holy Spirirt, of his grace and gifts, which

           confirm or strengthen us in the faith and in the other virtues, against our spiritual enemies.

7.         What dispositions should be those of a person who is going to be confirmed?

           A person to be confirmed should be in the grace of God, and if he has the use of reason, he ought to know the principal missteries of our faith, approaching

           the sacrament with devotion and deeply aware of the meaning of this rite.

8.         What does the sacred chrism signify?

           The sacred chrism, with the oil which expands and strengthens, signifies the abundant grace of Confirmation; and with the balsam which is sweet-smelling

           and preserves from corruption, signifies the good odor of virtues that the anointed one should posses. Avoiding the corruption of the vices.

9.         What does the anointing on the forehead in the form of a cross signify?

           The anointing on the forehead in the form of the cross signifies that the person who is confirmed, as brave witness of Jesus Christ, ought to walk without

           being ashamed of the Cross and without fear of the enemies of the faith.

2.         Who are the sponsors in Confirmation?

           The sponsors should be good Christians, in order to give good example and spiritual assistance to those who are confirmed.

*****************************************************************

CHAPTER 10: THE GIFTS OF THE HOLY SPIRIT

At the Last Supper Jesus spoke about a very special gift that he was going to give his followers:

Anyone who loves me will be true to my word

And my Father will love him

We will come to him

And make our dwelling within him (Jn 14:23)

Jesus tells us that God will actually come to live within those who love him and obey his commands! And where the Father and Son are, of course, the Spirit will be there also. This gift of God-within- us is called the indwelling of the Trinity. As long as we are in the state of sanctifying grace, God will live in our souls. Saint Paul wrote about this in his first letter to the Corinthians: Are you not aware that you are the temple of God, and that the Spirit of God dwells in you? The temple of God is holy, and you are that temple". (1 Cor 3: 16-17)

The mystery of God-within-us is often mentioned in the New Testament by Saint Paul. He

reminds us that this presence makes us more than God's creatures -- it makes us his children: "The proof that you are sons is the fact that God has sent forth into our hearts the spirit of his Son which cries our 'Abba!' ('Father')" (Gal 4: 6).

The Gifts Of The Holy Spirit

Along with this holy presence of God, the Spirit brings seven gifts to our souls at Confirmation. They are the same spiritual powers that were poured out upon Jesus as he began his mission of preaching the Good News of salvation. The prophet Isaiah foretold these gifts eight hundred years before Jesus was born:

The spirit of the Lord shall rest upon him (the Messiah)

A spirit of wisdom and understanding

A spirit of counsel and of strength

A spirit of knowledge and of fear of the Lord

And his delight shall be the fear of the Lord. (Is 11: 2-3)

Let us look carefully at each of these important gifts, to learn what they are meant to do for our lives:

1. Wisdom

   Helps us to see that the world is only a temporary place for us, that Heaven is our true home. It helps us to set our hearts on the things that really count in life, such as God, virtue, and prayer.

2. Understanding

Gives us an insight into the mysteries of faith and helps ua to explain the faith to others.

3. Knowledge

   Helps us to see everything in life in relation to God and eternity.

4. Counsel

   Helps us to make correct decisions about God's will for our lives.

5. Fortitude

   Gives us the strength to be faithful to Christ even when it is difficult to do so.

6. Piety

   Inspires us to worship God and to love him as our Father.

7. Fear of the Lord

   Shows us the evil of sin and helps us to live in God's grace. It is also called “wonder and awe” in

   God's presence because it reminds us that he is great and all-powerful.

Many people wonder if they really have these gifts; they don't seem to be present in their lives. Perhaps these Christians have looked upon the gifts as some kind of magic -- they expect them to “pop up” when needed. But this is not how the gifts work in us. Like faith, hope, and charity, we have to exercise our spiritual muscles in order to use these wonderful powers. We must pray to the Holy Spitit asking him to show us how to use them. Try to memorize these gifts and then ask God to help you use them when a need arises. For example if you are strongly tempted to go to a party where drugs or alcohol will be used, ask for the gift of fortitude to help you overcome the temptation. The Holy spirit will answer your prayer and show you what to do.

The Fruits Of The Holy Spirit

As we grow in prayer and in the use of these seven gifts, we will see certain effects taking place in our lives. These are called the fruits of the Holy Spirit. When we see a tree that is blossoming and producing delicious fruit, we know that it is a healthy plant. It is the same with the Christian life. We will know that our spiritual life is healthy if we see these fruits in our relationships with God and others.

The twelve fruits of the Spirit are:

I. Charity: Love for God and for others.

2. Joy: Happiness in living the Christian life.

3. Peace: Inner calmness, even in difficulties.

4. Patience: Kindly putting up with the faults of others.

5. Kindness: Sympathy and concern for the needs of others.

6. Goodness: Giving good example in all that we do.

7. Continence: Proper balance in our desire for pleasure.

8. Mildness: Being gentle in our words and deeds toward others.

9. Fidelity: Loyalty to God and the people we are committed to, such as one's parents, spouse, good

   friends.

10. Longsuffering: Extraordinary patience in enduring suffering.

11. Modesty: Respecting ourselves and others in conversations, dress, etc.

12 Chastity: Proper attitude toward others and control over our sexual desires.

Jesus told us that we will produce these fruits of the Spirit only if we are united with him through prayer and the sacraments. He compared himself to a vine which carties sap to its branches; the 'sap' is a symbol for his grace and power:

I am the vine; you are the branches. He who lives in me and I in him will produce fruit abundantly. For apart from me you can do nothing. (Jn 15: 5)

Words To Know:

Indwelling seven gifts twelve fruits of the Holy Spirit

For The Teacher

• To explain and to appreciate the indwelling presence of God;

• To define the gifts of the Holy Spirit in general

• To explain and exemplify each of the gifts of the Holy Spirit

• To explain and exemplify the fruits of the Holy Spirit

• To summarize the teachings on the gifts and fruits of the Holy Spirit

The following table is the definition and example for each of the fruits.

GIFT - DEFINITION - EXAMPLE

Wisdom

Seeing what is truly valuable in life and judging according to God's standards

Missing a TV. show to go to a novena or missing a party to help a sick friend

Understanding

Insight into the faith

Understanding mysteries to some degree, in contrast to people who, in lacking this gift, do not understand them at all

Knowledge

Spiritual know-how --

knowing the spiritual value sod use of created things

Knowing your faith and what things are useful for heaven and what things prevent us from going to heaven (for example, knowing that watching 5 hours of TV. every night prevents me from making a better use of my time)

Counsel

Seeing what is best for others its relatioonship to God giving the right advice to someone

Fortitude

Strength for God

Courage to give up wealth, friends, and family for Christ; giving up your life for Christ (martyrdom is the climax of fortitude)

Piety

Affection for God ss our Father who loves us and who is worthy of worship. St. Therese often spoke of her heavenly Father and placed so much trust in his

mercy (she is famous for her gift of piety)

Fear of the Lord

Fearing the judgment of and having a healthy respect for Almighty God a movement within us which stops us from sinnints out of healthy fear.

GIFT - DEFIMTION - EXAMPLE

Charity

Constant, generous self-forgetfulness and concern for God and others rarely talking about themselves or feeling sorry for themselves because of their great concern for God and others

Joy

Cheerfulness in the Lord and in his gifts to us always trying to make others happy by their own cheerfulness

Peace

Reflection of trust in God rarely worrying, always trusting in the Lord and his Mother

Patience

Bearing with others' faults - Never expressing irritation and always excusing the faults of others, unless there is a duty to correct

Kindness

Being tender-hearted and sensitive to the needs of others - Being thoughtful about little things; always being there when there is some need

Good

Love that just flows out to others - Love that just flows out to others Being someone who can be depended upon to do the right thing

Continence

Self-control - Knowing when to stop and say no to pleasure

Mildness

Being ever gentle with others - Being aware of the feelings of others; not being contradictory to others

Fidelity

Being dependable - Never speaking behind someone's back

Long-suffering

Putting up with suffering in imitation of Jesus - Never complaining when sick

Modesty

Holy reverence toward others and themselves

Chastity

Self-control about sexual desires - Holding themselves with dignity, not trying to “show off' - Being faithful to one's husband/wife saying no” to X-rated movies, immoral suggestions,

***************************************************

CHAPTER 11

THE SACRAMENT OF THE HOLY EUCHARIST

One day during his public ministry, Jesus found himself in the midst of more than five thousand people. They had all come to hear him preach about the Good News of salvation. Before they knew it, it was dinnertime, and the people were extremely hungry. Jesus looked with love upon them and said to his apostles, 'Where shall we buy bread for these people to eat?. (Jn 6: 6)

Now Jesus knew exactly what he was going to do, but he wanted to test his friends' faith in him. Philip reminded Jesus that it would cost over half a year's wages to feed such a crowd. Andrew brought the Lord five loaves of bread and a couple of dried fish, but wondered what good they would be for so many. Jesus blessed these small portions and told the apostles to hand them out to the crowd. A miracle! There was more than enough food, with twelve full baskets left over!

Jesus, The Bread Of Life

The people were amazed and wanted Jesus to do this again. Why not send bread (manna) down from Heaven just as God did for our people during the Exodus, they asked. Jesus revealed to them that God was going to give his people a much greater bread; he was telling them about the Holy

Eucharist:

I am the bread of life.

Your ancestors ate manna in the desert, but they died.

I myself am the living bread come down from Heaven.

If anyone eats this bread he shall live for ever.

The bread I will give is my Flesh, for the life of the world....

Let me solemnly assure you.

If you do not eat the Flesh of the Son of Man and drink his Blood.

You have no life in you.

He who feeds on my Flesh and drinks my Blood has life eternal.

And I will raise him up on the last day. (Jn 6: 48.54)

The listeners were horrified! Eat his flesh and drink his blood! Does he think we are cannibals?, they wondered. Even having seen this great miracle, they did not trust Jesus enough to know that he would not ask auch a thing. He was going to change bread and wine into his Fleah and Blood. It would still taste like ordinaty food, but it would really be Jesus himself. Many disciples left Our Lord that day, but the Twelve Apostles remained firm in their faith. They awaited the day when he would give them this holy bread of life.

Jesus Gives Us The Holy Eucharist

At the Last supper, Jesus kept his promise and gave God's people the bread of eternal life. The evangelist Saint Matthew, who was an eyewitness of this event, tells us about it in his Gospel:

During the meal Jesus took bread, blessed it, broke it, and gave it to his disciples. 'Take this and eat it;ă he said, this is my Body. Then he took a cup, gave thanks, and gave it to them. All of you must drink from it, he said, ắfor this is my Blood, the Blood of the covenant, to be poured out in behalf of many for the forgiveness of sins' (Mt 26: 26-28)

Just as he had changed water into wine at the beginning of his ministry, so now he was changing bread and wine into his very Body and Blood. This was the first Holy Mass, or Eucharist as we often call it today. The word eucharist is from the Greek word for thanksgiving, and it is used as a name for the Mass because Jesus gave thanks to the Father while consecrating the bread and wine. There are many other names by which this holy Sacrament is known: Lord's Supper, Blessed Sacrament, Sacrament of the Altar, Bread of Life, Holy Communion, and Holy Sacrifice of the Mass.

The Sign Of The Sacrament

We can learn the most obvious purpose of the Eucharist by looking at the signs which are used: bread and wine, together with the words of Consecration ('This is my Body.... This is the cup of my Blood...'). They tell us that food is being given to us, but it is supernatural food -- the Flesh and Blood of the Son of God!

These two sources of nourishment were an important part of the diet of the people of the Holy Land. Bread was their main food and wine was the most common beverage. To them these two items meant life and health for the body; Jesus made them the life and health of the soul as well. Without the Holy Eucharist our souls would starve to death!

Today, with so many different kinds of foods available to us, we do not see the importance of bread and wine as clearly as our ancestors did. But if you think about it, you will realize that so many of our favorite foods are made out of wheat flour, which earth has given and human hands have made (Offertory prayer over the bread). And even to this day wine is used as the celebration drink at weddings, parties, and many other get-togethers.

The Mystery Of The Eucharist

At the Consecration of the Mass, the priest changes the bread and the wine by the power which he has received at ordination. This change is known by a rather large word: transubstantiation Well, at Mass the 'thing' are bread and wine, so the word is simply saying that these change into Jesus Christ.

Our Lord chose appropriate means by which we could receive this Sacrament: he gave it to us under the appearances of bread and wine. When we go to Holy Communion we see and taste ordinary food, but our faith in Jesus tells us that it is not what it seems. We are really ắeating the Flesh of the Son of Man and drinking his Blood. (Jn 6: 53)

This is why the Eucharist is called the Mystery of Faith. We can only accept it on God's word. At every Mass, right after the Consecration, the priest says to us, Let us proclaim the Mystery of Faithă. He invites us to recite a prayer of faith in the Real Presence of Jesus in this Sacrament.

The bread and wine are not changed into Jesus' Flesh and Blood lust for a time during Mass. They remain the Body and Blood of the Lord after Mass, and the I-lost is reverently kept in the tabernacle in the church. This is a special, solid, immovable container that is decorated with symbols of Jesus. A vigil lamp (candle) is kept burning before the tabernacle day and night as a way of honoring Jesus in the Eucharist.

Saint Cyril of Jerusalem (d. 386 AD.) was a holy bishop and doctor (exceptionally great teacher) of the Church. He used to encourage the Catholics in his diocese to have faith in the Real Presence saying:

When Christ says, 'This is my Body, who should dare to doubt him? when he says, This is my Blood, who dares to say that it is not? Once he changed water into wine. Does he not deserve our faith in being able to change wine into his Blood? Do not think of the Blessed Sacrament as ordinary bread, for according to the words of Christ, it is his Flesh. Even though your senses do not convince you, let your faith strengthen you that you do not judge according to your taste (Cat. 4 snyst)

The Effects Of The Holy Eucharist

When we receive the Blessed Sacrament worthily -- that is, free from mortal sin, having fasted from food and drink (except water and medicine) for one hour beforehand, and approaching the altar with faith -- Jesus does wonderful things for our soul. He increases the life of grace within us and takes away our venial sins. He actually makes us one with him. He is truly within us after Holy Communion. He unites us with one another, for we all are made one with the same Eucharistic Lord. Holy Communion helps us to love one another. He helps us to overcome our faults and sinful desires. By the frequent reception of the Eucharist we are given the power to give up all our sins and even our selfish desires.

With each Holy Communion Christ's life increases in us. Those who receive the Eucharist often and worthily will have a deeper relationship with Jesus in Heaven.

Lastly, Our Lord prepares us for the resurrection of the dead. The Creed tells us that everyone will rise from the dead at the end of the world. Those who go often to Communion with faith, hope, and love will be more sure of being in Heaven, body and soul, someday. But if we do not receive him properly, we will nor profit from this Sacrament. As a matter of fact, to receive Communion with a mortal sin is one of the worst offenses against the Lord. It is called a sacrilege and must be confessed as soon as possible.

Words To Know

sign of the Holy Eucharist - transubstantiation - Mystery of Faith - tabernacle sacrilege - Exercise

Questions

   Real Presence

1. What is the Eucharist?

The Eucharist is the Sacrament which contains really present the Body, Blood, soul, and divinity of Our Lord Jesus Christ, under the appearances of bread and wine, for the nourishment of souls.

2. What is the matter of the Eucharist?

The matter of the Eucharist is bread made of wheat and wine made of grapes.

3. What is the form of the Eucharist?

These words of Jesus Christ are the form of the Eucharist:

This is my Body.... This is my Blood.... It will be shed for you and for all so that sins may be forgiven

4. Who is the minister of the Eucharist?

The minister of the Eucharist is the priest, who changes the bread into the Body and the wine into the Blood of Jesus Christ by pronouncing at Mass the words which Jesus spoke.

5. When did Jesus Christ institute the Eucharist?

Jesus Christ instituted the Eucharist at the Last Supper, before his Passion, when he consecrated and changed bread and wine into his Body and Blood and distributed it to the apostles, commanding them to do the same in his memory.

6. Why did Jesus Christ institute the Eucharist?

Jesus Christ instituted the Eucharist so that in the mass there would be a permanent Sacrifice of the new covenant and in Holy Communion a spiritual food for our souls, for the perpetual remembrance of his love and of his Passion.

7. Is the same Jesus Christ present in the Eucharist who is in Heaven and who was born on earth of the Virgin Mary?

Yes, the same Jesus Christ is present in the Eucharist who is in Heaven and who was born on earth of the Virgin Mary.

8. Why do you believe that Jesus Christ is truly present in the Eucharist?

I believe that Jesus Christ is truly present in the Eucharist because he himself said that the consecrated bread and wine are his Body and Blood and because the Church teaches this, but it is a mystery, a great mystery.

9. What is the host before the Consecration?

Before the Consecration the host is bread.

10. After the Consecration what is the Host?

After the Consecration the Host is the true Body of Our Lord Jesus Christ under the appearance of bread.

11. What is contained in the chalice before the Consecration?

Before the Consecration wine with a small amount of water is contained in the chalice.

12. What is in the chalice after the Consecration?

After the Consecration the true Blood of Our Lord Jesus Christ is in the chalice under the appearance of wine.

13. When do the bread and wine become the Body and Blood of Jesus?

Ố The bread and wine become the Body and Blood of Jesus at the moment of the Consecration.

14. After the Consecration is there nothing left of the bread and the wine?

After the Consecration neither bread nor wine is present any longer, but there remain only the ắspeciesă or appearances, without their substance.

15. What are the 'species' or appearances?

The species or appearances mean everything that comes under the perception of the senses, such as the shape, color, odor, and taste of the bread and the wine.

16. Is only the Body of Jesus present under the appearances of bread andonly his Blood under the appearances of the wine?

No, under the appearances of the bread Jesus Christ is present whole and entire, in Body, Blood, sou and divinity; and the same under the appearances of the wine.

**************************************************************

CHAPTER 12: THE EUCHARISTIC SACRIFICE

A.s a sacrament, we think of the Eucharist as a holy meal which Jesus told us to celebrate in memory of him. The Mass look like a meal for it has a table (altar) covered with a cloth, bread, wine, water, and people praying, eating, and drinking together as one family in Christ.

But the Mass is also a Sacrifice. It has everything that is required for this act of worship to God: an altar dedicated for sacrifice, a priest who does the offering, and precious gifts to be offered At the Last Supper Jesus made the Mass a spiritual reliving of his sacrifice on the Cross. How? By the words he used. Think about the most important words at Mass, the words of Consecration which come to us from Christ himself:

This is my Body which will be given u for you. This is the cup of my Blood, the Blood of the new and everlasting covenant. It will be shed for you and for all so that sins may be fotgiven. See how they remind us of a sacrifice -- a body to be given up and blood to be shed? Of course Jesus was talking about his sacrifice on the Cross; but the Mass he gave us is closely connected with it. The Sacrifice of the Mass is not a new sacrifice or another sacrifice. It is really the same one that Jesus offered once for all upon the Cross. How can this be? Well, in both events there is only one priest doing the offering (Jesus) and there is only one victim or gift being offered (Jesus). So if you have the same priest and the very same offering, it must be the same sacrifice? This is hard to understand, but again we must remind ourselves that it is a mystery that we believe by faith alone.

The Sacrifice Of The Mass

Of course there is some difference in the way the sacrifice of Jesus was offered on the Cross and in the Eucharist. Upon the Cross, Jesus offered himself in pain and bloody suffering. In the Mass he offers his Body and Blood without pain, under the appearances of the consecrated bread and wine. But it is the same Jesus. . . Also, upon the Cross Jesus offered his sacrifice by himself. At Mass he offers it with his Church -- through the priest and the congregation. Saint Paul reminds us that the Eucharist is a reliving of the sacrifice of the Cross. In his first letter to the Corinthians he tells us:

Every tim then, you eat this bread and drink this cup, you proclaim the death of the Lord until he comes again!'. (1 Cor 11: 26)

We can also see that the Mass is a sacrifice by looking at the prayers used during its celebration: Lord God, we ask you to receive us and be pleased with the sacrifice vie offer you with humble and contrite hearts. (Priesfs Offertory prayer)

May the Lord accept the sacrifice at your hands, for the praise and glory of his name, for our good and the good of all his Church. (People's Offertory prayer)

We offer you, God of glory and majesty, this holy and perfect sacrifice: the bread of life and the cup of eternal salvation. (Eucharistic Prayer I)

Lord, may this sacrifice, which has made our peace with you, advance the peace and salvation of all the world. (Eucharistic Prayer III)

Looking forward to his coming in glory, we offer you his body and blood, the acceptable sacrifice which brings salvation to the whole world. (Eucharistic Prayer IV)

The Mass In Our Lives

The Mass, or celebration of the Eucharist, is the greatest worship we can offer to God. If we remember that being at Mass is very much like standing with Our Lady beneath the Cross of Jesus, we will be sure to pray with love and devotion. You may hear someone say that he doesn't get anything out of the Mass. Well, first of all, we should never look upon the Mass as something we go to in order to get something. But we will get more from Mass if we put something of ourselves into it: If you want the Mass to help you ow in your friendship with Christ you must epare yourself for it every week.

Words To Know

words of Consecration - Sacrifice of the Mass

Preparing for Mass

1. One good way to prepare fot Mass is to go to Confession frequently to receive God's help in overcoming your faults.

2. Spend a few minutes reading the Gospel passage that will be used at Mass. This will help you to learn about Jesus and his teachings.

3. Get to church a few minutes before Mass begins and ask the Blessed Virgin Mary to help you pray the Mass with fait hope, and love.

4. Finally, do not rush out of church after Mass but try to spend a few minutes in private prayer with Jesus, whom you have just received. Speak to him in your own

   words as you would to a best friend, for he wants to be that to you.

Exercise

1. Is the Eucharist only a sacrament?

. No, the Eucharist is not only a sacrament; it is also the permanent Sacrifice of the new covenant, and as such it is called the Holy Mass.

2. What is a sacrifice?

. Sacrifice is the public offering to God of a thing which is destroyed to profess that God is the Creator and Supreme Master to whom everything belongs.

3. What is the Holy Mass?

. The Holy Mass is the Sacrifice of the Body and Blood of Jesus Christ, which is offered on the altar by the priest to God, undet the appearances of bread and wine, in memory of the sacrifice of the Cross and in renewal of the sacrifice of the Cross.

4. Is the Sacrifice of the Mass the same sacrifice as the Cross?

The Sacrifice of the Mass is the very sacrifice of the Cross; the only difference is in the manner of performing it.

5. What is the difference between the sacrifice of the Cross and the Sacrifice of the Mass?

There is this difference between the sacrifice of the Cross and that of the Mass:

- On the Cross Jesus Christ sacrificed himself by giving his own blood voluntarily, and thus he merited all grace for us.

- On the altar, on the other hand, Jesus Christ sacrifices himself and annihilates himself mystically by the ministry of the priest, without shedding his blood again, and he applies to us the merits of the sacrifice of the Cross.

6. For what purposes is the Mass offered to God?

The Mass is offered to God to give him the supreme wotship of adoration. To thank him for his blessings to us. To placate him and to do satisfaction for our sins. And to obtain graces for the welfare of the faithful, living and dead.

7. Is the Mass not also offered to the saints?

No, the Mass is not offered to the saints, but to God alone, even when the Mass is celebrated in honor of the saints, sacrifice is due only to the Creator and Supreme master.

8. Are we obliged to hear Mass?

We are obliged to hear Mass on Sunday and on the Holy days of Obligation. But it is good also to attend Mass frequently, in order to participate in the greatest act of religion, the one which is most pleasing to God and most meritorious for us.

9. What is the most proper way of attending Mass?

The most proper way of attending Mass is to offer it to God in union with the priest, reflecting upon the sacrifice of the Cross, that is, on the Passion and death of the Lord, and by receiving Holy Communion. For Holy Communion is our actual and real union with the spotless Victim that is offered, and hence the fullest participation in the Holy Sacrifice.

***************************************************************

CHAPTER 13: THE EUCHARIST IN OUR LIVES

 

The Second Vatican Council called the Holy Eucharist the source and ceases of the Christian life. This means that it is the most important part of our faith. Why? Because the Eucharist is not only a way to receive grace but it is Jesus himself, the source of all grace? There is not one saint in the Church who did not treasure the Blessed Sacrament as the greatest gift of God to the Church. All of these holy men and women, reenagem, and children knew how necessary Holy Communion is for growing in our relationship with Jesus, so they tried to attend Mass as often as possible.

The Eucharist And The Other Sacraments

Because of the Real Presence of Jesus under the appearances of bread and wine, the Eucharist is called the greatest of sacraments. As the famous teacher and saint, Thomas Aquinas, said: The noblest sacrament is that in which Christ's Body is really present. The Eucharist crowns all the other sacraments.

Baptism makes us members of the Church and gives us the right to receive the Eucharist. The gifts of the Holy Spirit, received at Confirmation, help us to know and love the Blessed Sacrament as mature Catholic Christians. Penance takes our sins away 50d helps us to go to Holy Communion with pure hearts. Anointing strengthens and cleanses us and prepares in a special way those who are about to receive Jesus for the last time on earth. Holy Orders gives us priests who will celebrate Mass and consecrate the gifts of bread and wine, changing them into the Body and Blood of Jesus. In Matrimony a husband and wife show their love by giving themselves to each other; this reminds us of the Eucharist in which Jesus shows his love by giving us his Body and Blood.

Receiving The Eucharist Properly

We will grow in grace only by receiving the Blessed Sacrament prOperlY Someone can go to Communion a hundred times, but if he does not have faith in Jesus and the desire to love him, these Communsons will not do him any good. So a very important question is this: How can I best prepare myself to receive Jesus in the Eucharist? The Church has made some wise rules to help us.

First, we must never receive Jesus if we have a mortal sin our souls. We must first confess to a priest and be freed from this sin. If we have committed venial sins, we should ask God to forgive them during the Penitential Rite of the Mass.

Second, we must have faith in Jesm' Real Presence and tell him that we believe in it. Saint Paul told the Christians in Corinth: 'Whoever eats the bread or drinks the cup of the Lord unworthily sins against the Body and Blood of the Lord.... He who eats and drinks without recognizing the Body eats and drinks judgment on himself'. (1 Cor 11: 27,29)

Last, we must keep the Euchastk fest. This means that we do not eat or drink anything (except water or medicine) for one hour before receiving Our Lord. This is a small sacrifice we offer to Jesus, to show him that we honor his Body and Blood as special food and drink. (Those who are advanced in age or who suffer from any infirmity, as well as those who take care of the can receive the holy Eucharist even if they have taken something during the previous hour).

Devotion To The Blessed Sacrament

Since the Real Presence of Jesus remains irs the Blessed Sacrament after Mass, the consecrated bread is placed in the tabernacle for safekeeping, for use at other Masses, and for bringing Communion to the sick. But Jesus is not kept in our churches for practical purposes only. He is there so that we can come to him at any rime during the week. Whenever we want to adore or thank God, we can go to the church to worship him in the tabernacle. Person to person, we can tell him our needs and ask him to bless our studies, our friendships, our hopes, and our dreams.

Sometimes the Eucharist is taken out of the tabernacle and put into a special container called a motranee. It has a little glass window that allows us to see the Host, the eonsecested bread. Often, a special prayer.service is held during which the priest holds up the monstrance and blesses the people with Jesus. This is called Benediction. These signs of love toward the Eucharist are known as devotions to the Blessed Sacrament. They are greatly recommended to us by the Pope and the bishops of the Church.

Words To Know:

Eucharist fast - monstrance - Host Benediction

Exercise

1.What things are necessary for the worthy reception of Holy Communion?

   For a worthy reception of Holy Communion thrƠ things are necessary:

First: To be in the grace of God

Second: To realize and to consider whom we are about to receive

Third: To observe the Eucharistic fast.

2. What does 'being in the grace of God’ means?

. 'Being in the grace of God' means to have one's conscsence free of all mortal sin.

 

3. If a person receives Communion knowing that he is in mortal sin, does he receive Jesus Christ?

He who receives Communion knowing that he is in mortal sin, does indeed receive Jesus Christ, but not his grace; in fact, he commits a fearful sacrilege and makes

himself worthy of damnation.

4 What does it mean ắto recognize and to consider whom one is about to receive'?

To recognize and to consider whom one is about to receive means that we should approach Our Lord Jesus Christ in the Eucharist with a living faith, with an ardent

desire, and with deep humility and modesty.

5. In what does the fast before Communion consist?

The Eucharistic fast at present requires only an abstinence of one hour from solid foods and all beverages, whether alcoholic or not, except water and medicine.

6. May one drink water or take medicine before Holy Communion?

Yes, one may drink water or take medicine before Holy Communion, because water and medicine do nor break the Eucharistic fast.

7 In danger of death, may one receive Holy Communion even without fasting?

Yes, in danger of death one may receive Holy Communion without fasting.

8. Is there an obligation to receive Holy Communion?

Yes, we are obliged to receive Holy Communion every year at Easter time and also in danger of death as Holy Viaticum, which strengthens the soul for the journey into eternity.

9. At what age does the obligation of Easter Communion begin?

The obligation of Easter Communion ('Easter Duty') begins at the age when a child has the capacity of keeping this duty with the proper dispositions, that is, at about seven years of age.

10. Is it a good and useful thing to receive Holy Communion frequently?

It is a very good thing and most useful to receive Holy Communion frequently, even every day, provided it is done always with the tight dispositions.

11. How long does Jesus Christ remain with us after Communion?

After Communion Jesus Christ remains within us as long as the Eucharistic species remain.

12. Is Jesus Christ found present in all the consecrated Hosts of the world?

Yes Jesus Christ is present in all the consecrated Hosts of the world.

13. Why is the Most Holy Eucharist kept in the churches?

The Most Holy Eucharist is kept in the churches:

- So that the faithful may adore it.

- So that they may receive it in Communion.

- And so that they may recognize in the Holy Eucharist the perpetual assistance and presence of Jesus Christ in the church.

***********************************************************

CHAPTER 14: SIN AND MANKIND

We learned that when God had created the first human beings he gave them sanctifying grace and other special gifts. But Adam and Eve sinned by disobeying God. As a result, they lost the gift of God's life in their souls. They now found it very difficult to obey God's commands because sin made selfishness rule in their hearts. We, the descendants of Adam and Eve, share in this same difficulty. We all experience the frustration of a fallen human nature, that is, a body and soul that are weakened because of sin. Saint Paul revealed how much this bothered him:

I cannot even understand my own actions. I do not do what I want to do but what I hate.... What happens is that I do not the good that I will to do, but the evil I do not intend. (Rom 7: 15, 19)

Like this great saint and apostle, so often we cannot understand our behavior. Why did I disobey my parents? Why did I lie to my friends?. Why does it seem to be so hard to obey the Ten Comrnandmeflti? The answer to these questions can be summed up in two words: original sin. It has weakened us and inclines us to choose our own desires over those of God. It leads us to think of ourselves as the most important person in existence. In other words, it is nothing but bad news.

But Jesus brought us GOod News -- the news that we can be free of original sin and overcome its bad effects? All we have to do is accept Baptism, receive the sacraments, obey his teachings, and grow in prayer. He will do the rest. But there are still a few things that we have to watch out for as we try to live this life in Christ: temptation and sin.

The False Promises Of Temptation

Temptation is the enticement to sin. It always comes before sin and tells us that what is wrong will actually be good for us. There ate three things that lead us into temptations: the world, the flesh, and the devil.

 

1. World

The world means those persons or created things that lure us away from Jesus' teachings. Perhaps you have a friend who has no use for Christ or his Good News. He thinks that parties and the misuse of sexuality are more important than God or religion. Whenever you are with him you seem to do more wrong than usual. In your heart you know he is a bad influence on you. This person would be one example of how we are tempted by the world.

2. Flesh

The flesh means our own inner urges. There are seven basic disordered inclinations that lead us to sin:

I. Pride: An exaggerated opinion of oneself.

2. Greed. An uncontrolled desire for earthly goods, such as money, clothes, etc.

3. Lust: An uncontrolled desire for sexual pleasure.

4. Anger: An uncontrolled feeling of displeasure and antagonism..

5. Gluttony: An uncontrolled use of food and drink.

6. Envy: Unhappiness or discontentment over the good fortune or success of others.

7. Sloth: Laziness or carelessness in doing right and practicing vsrtue because of the work and effort needed to do so.

3. Devil

The devil means Satan and the other bad angels who try to make us disobey God and who hate the Christian life. Saint Peter warned all believers to be on guard agasnst Satan and his spiritual attacks: Stay alert. Your opponent the devil is prowling like a roaring lion looking for someone to devour. Resist him, solid in your faith. (1 Pet 5: 8.9)

Temptations often come to us through occasions of sin. These are persons, places, or things that may easily cause us to sin. Some examples are:

- Friends who do not respect religion.

- Movies or magazines that promote sexual excess and the wrong use of our sexual powers.

- Parties at which drugs and alcohol are used by friends.

The first step in overcoming sin is to know what leads you into it. Then you will know what or who to avoid if you really want to reach Heaven.

Sin and Its Evil Effects

Sin is an offense against God in thought, wotd, actions, or neglect of action. For example:

- A real hatted for someone in your mind is a sin of thought.

- Using God's name disrespectfully is a sin by word.

- Getting drunk or stealing something would be a sin by action.

- Not going to Sunday Mass without a good reason (such as illness) would be a sin by omission or neglect of action.

There are two kinds of sin, original and actual. Original sin, as we have seen, means the first offense committed by Adam. We all share in it because we are all their physical descendants. Actual sins are those which we personally commit. Actual sins can be either mortal or vensal.

Mortal sin

Mortal sin is the worst evil there is in the world because it kills God's life within us. Think about the most terrible evils there are on earth: wars, floods, earthquakes, disease, etc. None of these are as bad as a mortal sin. Why? Because they can only kill the body, as horrible as that can be. Mortal sin, however, kills the supernatural life of the soul and takes away the possibility of entering Heaven. The person who dies in mortal sin has only one place to go:

Hell. This is because even one mortal sin tells God that we want nothing to do with him or his holy law. And God respects our free will: he will allows us to suffer for ever in Hell if that is what we want.

Since this is such a terrible evil, it is very important that we know what makes something a mortal sin. There are three things that make a sin mortal:

1. The offense must be seriously wrong, or at least we think it is seriously wrong. Seriously to disobey the Ten Commandments or the teachings and laws of the Church is a mortal sin. For example, missing Mass on Sunday is a mortal sin unless we have a good excuse such as illness or no church in the area. It is seriously wrong because God commands us to worship him and the Church says that we do this by assisting at Mass on Sunday.

2. We must know clearly that what we chose to think, or do, or say, or not do is seriously wrong. For example, if your really did not know that Sunday Mass was a serious duty, then you did not commit a mortal sin by not attending.

3. You must freely choose to commit the sin. Continuing with the example about Sunday Mass, if you miss Mass because the car breaks down on the way to church, you didn't choose not to go, and therefore you have not committed a sin. But if you are lazy and just do not want to get out of bed on time, and this causes your to miss Mass, then you have freely chosen not to go and so you are at fault.

Venial sin

Venial sins are offenses that are not serious breaks with God's holy law. They weaken our relationship with God, but they do not destroy it as mortal sins do. We should try to do away with these smaller sins, however, because they can form a bad attitude in us and even lead us on to commit worse sins. We should strive to love God so perfectly that we will not offend him even in small ways.

The Role Of Conscience

The Catholic Church has always said that ioen must follow thesr consciences in order to do good and avoid sin. By conscience we mean the ability everyone has to judge right from wrong in human actions. Since we are to act in accord with our consciences it is very important for us to form a goad conscience. We do this by learning what the Church teaches and by listening to those whom God has placed over us to guide us, such ai our parents, our priests, and our teachers. If yen are confused abour what is right or wrong, you should ask your parents or a priest about it. Growth in knowing what is good f rum what is evil is an important part of the sacrament of Penance.

Words To Know

Sin - temptation - occasions of sin - mortal sin - venial sin - conscience

Exercise

I. What is sin?

Sin is an offense done to God by disobeying his law.

2. 'What is mortal sin?

Mortal sin is an act of disobedience to law of God in a serious matter, done with full knowledge and deliberate consent.

3. 'Why is serious sin called mortal?

Serious sin is called mortal because it takei divine grace away from the soul, which is the life of the soul, robs the soul of its merits and of the capacity to earn new merit, and makes it worthy of everlasting punishment, eternal death, in Hell,

4. What is venial sin?

Venial sin ia an act of disobedience to the law of God in a lesier matter or also in a matter in itself serious, but done without full knowledge and consent.

5. Why is a un which is not serious call venial?

A sin which is not serious is called venial, that is, forgivable because it does not take grace away and because it can be forgiven by repentance and good works, even without sacramental confeision.

6. What is an occasion of sin?

An occasion of sin is anything that puts us in danger of sinning, whether it be a person or thing.

7. Arc we obliged to avoid the occasions of sin?

Yes, We obliged to avoid the occasioni of sin because we are obliged to avoid sin itielf. He who does not avoid the occasion ends up falling because, He who loves the danger will perish in it. (Sir 3: 25)

*************************************************

CHAPTER 15: GOD'S MERCY AND FORGIVENESS

 

In Jesus' time some of the religious leaders of the Jews seems to forget the loving forgiveness that god had shown their ancestors. Instead, they kept reminding the people only about God's justice, especially that he punishes every sin that we commit. They spoke of God as if he were a merciless judge who found joy in condemning everyone -- except the most learned and religious of people!

But when Jesus preached to these people he told them that God is full of mercy and forgiveness. Mercy means that God has love and tenderness toward weak mankind. Our Lord, God-become-man, showed this mercy in his dealings with sinners.

When sinners came to Jesus he never ignored them or treated them as outcasts. He made them feel wanted and loved; he made friends with them. He even called one of them, Matthew, to be an apostle; and another; Mary Magdalen, to one of his closest disciples! Jesus' kind attitude toward sinners made the leaders of the Jews very upset. One day they complained to his disciples: 'What reason can the Teacher have for eating with tax collectors and those who disregard the law!'. (Mt 9:11)

Jesus overheard this remark and said to them: 'People who are in good health do not need a doctor; sick people do .... I have come to call, not the seif-tighteous, but sinners'. (Mt 9:12-23)

What Jesus meant was that he was like a doctor who is concerned with the health of people. He is the Divine Physician who has come to heal the sickness of sin in our souls. He has come to offer forgiveness and freedom from sin to each one of us.

God Loves The Sinner But Hates The Sin

Some people think that the friendships which Jesus made with sinners mean that he approved of their sinful desires and actions. This is far from the truth! He loved each person because he was created by God, who commands us to love all men. But he hated each sin and never told anyone that he approved of his sinfulness. Do you remember the story in the Gospel about the woman caught in the act of adultery? Some of the scribes and pharisees were about to kill this woman. But Jesus reminded them that they, too, were guilty of sins. Then he said to her, ắgo, and sin no mor&'. (in 8:11)

We All Need A Change Of Heart

 

Like the woman mentioned above, all of us stand before Jesus as sinners who come to him for forgiveness. We go to him in Confession and leave rise sacrament freed from sin. How can we 'go and sin no more'? By having a change of heart. This means that we honestly try to do good and avoid sin, even when it is difficult. It means that we try to see things as Jesus would: giving first place in life to God, second to out neighbor, and last to ourselves.

One of the ways to have a change of heart is to spend a few minutes every night in thinking about the way we spent our day. We briefly review the Commandments of God and see if we have obeyed them. By doing this we get to know which sins we commit most often. This will help us to avoid these sins in the future. There is a very good Christian practice called the examination of conscience that helps us to discover our sins and work on a change of heart. You can find an examination of conscience by the end of this chapter.

Another way of growing in this change of heart is to remember that at death we will have to stand before God to be judged. Then there will be no more time for us to change our way of living. We will go to one of three places: Heaven, Purgatory, or Hell. Heaven is for those who have tried to know, love, and serve God with all their heart and all their strength; it is never-ending happiness in God's presence. Purgatory is for those who wanted to love God and serve him on earth, but who did nor really try as hard as they could. It purifies them of their selfishness and prepares them to enter Heaven. Hell is for those who died without any love for God. In life they tried only to satisfy their selfish desires and gave little thought to loving God or obeying his commandments. Hell is never-ending punishment for sin; those in Hell are separated from God for ever.

The best way to change our hearts is to go to Confession often, at least once a month. In this way we will have our sins forgiven, and we will receive the strength we need to avoid them in the future. Although Confession is necessary only when we have committed mortal sin, confessing our venial sins gives us the sacramental grace which helps us particularly in avoiding the sins we have confessed, even venial sins, The priest will also give us good advice on how to live a better Christian life.

Take Up Your Cross And Follow Me

One day, Jesus said to his disciples: ắIf a man wishes to come after me, he must deny his very self, take up his cross, and begin to follow meă (Mt 16:24). He calls us to do the same thing. This means that we must learn to deny our selfish desires by doing little acts of penance. Some examples of penance are not eating between meals or volunteering to do the dishes after dinner even if it is not your turn to wash them. By doing little things that are not appealing to us, for the love of God, we strengthen our wills. Then, when temptations to sin come along, we will be better prepared to say 'noă to them.

Saint Dominic Savio, the popular teenager we read about in Chapter 17, was able to accomplish a change of heart in this way. He learned to hate sin and love God by examining his conscience nightly, by going to confession weekly, by receiving the Eucharist often, and by denying his selfish desires through acts of penance. You can have a change of heart too!

Words To Know:

Mercy - change of heart - examination of conscience - penance

Exercise

1. How is the examination of conscience made?

The examination of conscience is made by recalling to mind the sins we have committed in thoughts, words, acts, and omissions against the Commandments of God, against the Precepts of the Church, and against the obligations of our own state in life, beginning from our last good confession,

2. In the examination should we seek to know the number of our sins?

In the examination we should, indeed, seek with diligence to know the number of our mortal sins.

3. What is Sorrow?

Sorrow or repentance is displeasure and hatred for the sins we have committed, which bring us to form the intention of not sinning again.

4. How many kinds of sorrow are there?

There are two kinds of sorrow: perfect sorrow, called contrition, and imperfect sorrow, called attrition.

5. What is contrition, or perfect sorrow for sin?

Contrition, or perfect sorrow for sin, is a hatred of the sins we have committed because they offended God, Our Father, infinitely good and

lovable, and were the cause of the Passion and death of Our Redeemer, Jesus Christ, the Son of God.

6. Why is contrition perfect sorrow?

Contrition is perfect sorrow because it arises from a perfect motive, namely, the filial love of God or charity, and because it obtains the pardon of our

sins immediately, although the obligation of confessing them remains.

7. What is imperfect sorrow or attrition?

Imperfect sorrow or attrition is a displeasure for the sins we have committed, because of fear of the eternal and temporal punishments for sin or also

because of the ugliness of sin.

8. Why is attrition imperfect sorrow?

Attrition is imperfect sorrow because it arises from less perfect motives, those proper to slaves rather than sons, and because it does not obtain the pardon

of our sins except by means of the sacrament of Penance.

9. Is it necessary to be sorry for all the sins we have committed?

Yes, it is necessary to have sorrow for all the mortal sins we have committed, without exception, and it is fitting to have sorrow also for our venial sins.

10. Why is it necessary to be sorry for all our mortal sins?

It is necessary to be sorry for all of our mortal sins because each one of them offends God seriously, causes us the loss of grace, and merits fur us to remain

separated from God for ever.

11. What is the purpose of amendment?

The purpose of amendment is the steadfast will not to commit sins ever again and to avoid the occasions of sin.

Sorrow

Perfect Contrition Imperfect Attrition

from Jove frlm Fear

 

EXAMINATION OF CONSCIENCE

Come, 0 Holy Spirit, and help me to remember my sins. Give me the honesty I need to reflect upon my thoughts, words, and actions of this day. Amen.

First Commandment

I am the Lord your God. You shall not have strange gods before me. This Commandment forbids us to worship anyone or anything besides the one true God,

the Father, Son, and Holy spirit. We worship him by Acts of Faith, Hope, and Charity; by prayer, and by self-denial.

1. Do I truly love God more than anyone or anything else?

2. Do I say my prayers every morning and night?

3. Are there false gods such as popularity, fashionable clothing, horoscopes or other superstitious practices, that I worship by giving them more attention than I give to the true God?

Second Commandment

You shall not take the name of the Lord your God in vain. This Commandment forbids us to misuse God's name (God, Jesus, Christ, Lord) in cursing

or swearing. We must respect this Holy Name at all times and the names of his holy ones too.

I. Did I use any swear words that included God's name?

2. Did I use the name of Jesus Christ as an expression of surprise or anger?

3. Did I joke about God or religion, including Mary and the saints?

Third Commandment

Remember to keep holy the Lord's Day. It reminds us that any unnecessary work or shopping should be avoided on these days. This Commandment tells us to attend Holy Mass on Sundays and Holy Days of Obligation.

1. Have I been faithful to Sunday and Holy Day Masses (which can also be celebrated on Saturday evenings or on the night before the Holy Day)?

2. Have I prepared for Sunday Mass, especially by going to Confession if I have sinned?

Four Commandment

Honor your father and mother.

This commandment orders us to show respect and loving obedience to our parents and also to honor others in authority over us, such as teachers and government leaders (as long as they do not tell us to do things which are against God's law).

1. Have I shown love and respect for my parents, even when they punish me?

2. Do I help my parents by doing my chores and obeying their orders? Do I pray

   for them?

3. Do I listen to my teacher(s) and do the homework they assign?

4. Do I obey civil laws, including those which forbid the use of drug or alcohol

   for minors?

Fifth Commandment

You shall not kill. This Commandment forbids, not just actual murder, but even those actions that are dangerous to the life of the body and the life of the soul.

1. Do I have a serious thoughts of anger and hated to toward others?

2. Do I do what I can to oppose murderous actions such as abortion, suicide, or euthanasia (the taking of the life of someone who is incurably ill or dying)?

3. Have I gotten drunk or used drugs? These things threaten human life.

4. Have I neglected the life of my soul by keeping company with those who lead me to

   Sin?

Sixth and Ninth Commandments

You shall not commit adultery;

you shall not covet your neighbor's wife. These two Commandments deal with our human sexuality. Adultery means sexual relations between two persons one or both of whom are married, but not to each other. Here to covet means that we desire or want the spouse of another person. Although these are things that happen to adults, they carry a message for you too.

1. Do I respect the gift of sex and the human body, both my own and those of others?

2. Do I realize that sex is for married people so that they can have children and show

   their love for one another?

3. Do I encourage the wrong use of sexuality by myself or among my friends by looking at magazines or movies that misuse the human body and show people

   having sex? Do I realize that this ss wrong because sex is a very loving and private activity for the married?

4. Do I try to be chaste in my thoughts, words, and actions by myself and with others? Do I realize that masturbation and sex between unmarried persons are mortal

   sins?

5. Do I realize that it is dangerous to my soul to spend time in impure daydreaming about sexual activities? This can easily lead me to commit sins by myself or with

   others.

6. Do I realize that sexual desires are good and are given to me by God so that I will one day use them properly in marriage?

7. Do I remember to pray to the Virgin Mary and Saint Joseph who are models of purity? Do I ask them to show me a healthy respect for human sexuality? To help

   me when I am tempted to sin against chastity?

Seventh and Tenth Commandments

You shall not steal; you shall not covet your neighbor's goods. These two Commandments deal with respecting the rights and property of others. They

forbid es to take what does not belong to us, and to avoid even the desire to take things.

1. Have I shoplifted?

2. Have I destroyed the property of others: painted on buildings, purposely broken a window, or ripped up someone's homework?

3. Have I taken someone else's possesssons: records, cassette tapes, books, magazines, clothing?

4. If I have a job, do I do it properly or do I waste time on the job? This is like stealing by boss's money since I do not really work for it.

5. Am I envsous about the things my friend's have and show this by my unkind words to them or to others about them

6. Do I dislike someone simply because I am envious of his good looks, his talent in sports or school, or his popularity?

Eighth Commandment

You shall not bear false witness against your neighbor. This Commandment tells us always to be honest and truthful; it forbids us to say anything that would damage the good reputation of others.

1. Do I have the habit of lying?

2. Do I lie in order to avoid punishment or to make myself look great in the eyes of my friends? Am I afraid I will not be accepted by others unless I make myself

   seem better than I am?

3. Do I gossip and spread rumors about others, even if I think they are true? Do I find pleasure in telling my friends about the sins and faults of other students?

4. If a friend tells me a secret, do I keep it to myself or do I let someone else 'in' on it? Do I know that telling the secrets of others is a misuse of friendship and a

   sin?

   You do not have to use this enter examination of conscience every night. It may be more helpful to choose one Commandment each night and think about it in

   your life.

*************************************************

CHAPTER 16: THE SACRAMENT OF PENANCE

God calls each one of us to receive new life in him, the life of sanctifying grace. We first received this life in the holy waters of Baptism, which takes away sin and makes us temples of the Holy Spirit. But what about the sins we commit after Baptism? How can we be washed clean again? By the wonderful sacrament of Penance (also called Reconciliation or Confession) -- the gift of God's love and mercy to his people.

On the night he rose from the dead, Jesus appeared to his apostles and gave them the priestly power to celebrate this sacrament. Saint John, who was an eyewitness at this event, describes it for us:

On the evening of the first day of the week, even though the disciples had locked the doors of the place where they were for fear of the Jews, Jesus came and stood before them. Peace be with you, he said. When he had said this, he showed them his hands and his side At the sight of the Lord the disciples rejoiced. Peace be with you', he said again. As the Father has sent me, so I send you. Then he breathed on them and said: Receive the Holy Spirit. If you forgive men's sins, they are forgiven them; if you hold them bound, they are held bound. (in 20: 19-23)

By these words Jesus gave the apostles the power to forgive sins, something only God can do! How can this be? Because Our Lord shared with them his mission as Savior. They were to go throughout the world forgiving sins just as he had done. Christ had shared his teaching authority with them and also gave them the power (at the Last Supper) to change bread and wine into his Body and Blood, so now he gives them the power to forgive sins. Saint Paul reminded the early Christians about this power of the priesthood: All this has been done by God, who has reconciled us to himself through Christ and has given us the ministry of reconciliation.... This makes us ambassadors of Christ, God as it were appealing through us. (2 Cot 5: 19-20)

Understanding The Sacrament Of Penance

We can better understand this sacrament by looking mote closely at the words Jesus used when he gave it to the Church. Peace be with you': This tells us that Jesus was giving the sacrament as a way to have true peace in our lives. Through it he takes away our sins. This helps us to free our guilty conscience which robs the soul of inner peace.

As the Father has sent meă: This reminds us that Jesus was the ambassador of God the Father. An ambassador is someone who is sent by someone else with an important message to deliver. The message Jesus brought to us was the Good News of salvation -- the truth that we can be saved from our sins and from Hell if we follow him.

So I send you: This reminds us of the passage we just read from Saint Paul, where he calls himself and other priests Ambassadors of Christ. As the father had sent Jesus to take away sins, so now Jesus sends his priests to do the same thing.

Receive the Holy Spirit: You will remember from the chapter on Confirmation that the Spirit is full of power. This is the power of God which alone can take away sins. When we go to Confession, the priest forgives our sins by the power of the Holy Spirit. He cannot do this on his own because he is a sinful man just as we ar but as priest he has this power.

If you forgive men's sins, they are forgiven themă: This tells us that Jesus did give the ministry of forgiveness and reconciliation to the apostles. They, in turn, passed this work on to other priests down to our own day. We do not have to wonder whether God forgives us when we go to Confession, for we have Jesus word that he does!

If you hold them bound, they are held boundă: This reminds us that the priest can also refuse to forgive us our sins. If he asks us to give up a sinful action and we say ắnoă, then he will not give us absolution. Why? Because this shows that we are not really sorry for the sin; we still want to commit it. Our sins can be forgiven only if we are truly sorry and promise to avoid them in the future.

The Sign And Effects Of Penance

As with all the sacraments, Penance has its own sign. The sign of Penance is, first, the confession, or telling of sins to the priest, and, second, the words of absolution, or forgiveness, which the priest says while making the Sign of the Cross over us.

The sign tells us what effects this sacrament has on our souls. The sign of our private confession shows that the sins we are revealing will be taken away. The sign of absolution tells us that they are taken away. The cross which the priest makes over us with his hands reminds us that sins can be forgiven only because Jesus died on the Cross f or them. If we have properly prepared ourselves for this sacrament, God does wonderful things for us.

First, he takes away the sins we have confessed and restores the life of grace to our souls if we had lost it by mortal sin. If we had only venial sins to confess, God increased his grace within us and strengthens our friendship with him. So you can see that it is good to receive this sacrament even when we have not broken off our life with God by mortal sin.

Second, he even takes away the punishment our sins deserve. Of course, this punishment is taken away according to how great our sorrow is and how determined we are to avoid sin in the future. It is similar to the punishment we receive from parents when we disobey them. If they see that we are really sorry for having gone against their wishes and that we are trymg to make up for our disobedience, they may shorten our punishment or even cancel it altogether. With sin, we can either make up for it in this life by prayer and acts of penance or in the next life by being purified in Purgatory.

Last, in the sacrament of Penance God gives us all the actual graces we need in order to do good and avoid sin in the future. He rewards our honesty in going to Confession by giving us the help we need to overcome the sinful desires and actions we have confessed. For example, if you confess to lying and committing impure actions, God will give you even more strength to be truthful and pure in the days ahead.

How To Make A Good Confession

You need to do five things in order to make a good Confession:

I. Examine your conscience before receiving the sacrament. This helps you to recognize all of your sins clearly.

2 Have true sorrow for having sinned. True sorrow is based on having offended God, who loves us so much. Without true sorrow our sins will not be forgiven.

3. Make a firm resolution to do all you can to avoid sin and occasions of sin in the future. If you do nor plan to give up your sinful desires and actions, your

   confession will be a bad one and your sins will remain on your soul.

4. Confess your sins to the priest honestly, not trying to hide anything out of shame or ernbarrassrrsent. Remember that the priest will not yell at you or think you are

   a terrible person. He is there to give you God's forgsveness, and he is glad that you have had the honesty and courage to come to the sacrament.

5. Do the penance which the priest gives you. This is usually a few prayers or a good deed to help to make up for the selfishness of your sins.

The Rite Of Penance

Like the other sacraments there is a special rite, or ceremony involved in the celebratson of Penance Whether you go to Confession 'face to faceă or privately, it always follows this general plan.

First, Upon entering the confessjoI the priest will greet you. You make the Sign ot the Cross while saying the words that go with it: in the name of the Father, and of cha Son, and of the Holy Spirit. Amen.

Then the priest may read a short passage from the Bible, or he may simply tell you to begin confessing your sins. You start by saying how long has been since your last Confession. Then you reveal your sins, the mortal ones first, if you have committed any. You must tell the priest how many times you committed a sin and any information that is relevant.

Ater you have finished confessing, the priest will give you some advice on living a better Christian life. At this rime he will also give you your penance If it is prayer, you should say it before you leave the church, if it is a good deed, try to do it as soon as possible.

Before giving you absolution, he will ask you to show your sorrow by reciting an Act of Contrition. He will then say the words of forgivenss.

God, the Farher of mercies, through the death and Resurrection of his son has reconciled the world to himself and sent the Holy Spirit among us for the forgiveness of Sins; through the ministry of the Church may God give you pardon and peace, and I absolve you from your Sins, in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit. Amen.

He will say goodbye to you with a short prayer that says: Give thanks to the Lord, for he is good, and you reply: His mercy endures for ever.

Words To Know:

Sign of Penance confeision of sins, absolution, confessional, Act of Contrition.

Exercise:

1. What is Confession?

Confession is the sacrament instituted by Jesus Christ to forgive the sins committed after Baptism.

2. When was the sacrament of Confession instituted by Jesus Christ?

The sacrament of Confession was instituted by Jesus Christ when he said to the apostles and in them to their successors: Receive the Holy Spirit. If you forgive men's sins, they are forgiven them; if you hold them bound, they are held bound', (in 20: 22-23)

3. Who is the minister of Confession?

The minister of Confession, or the sacrament of Penance, is priest approved by the bishop.

4. How many things are required to make a good confession?

To make a good confession five things are required:

- a. Examination of conscience.

- b. Sorrow for sins.

- c. The intention of not committing sin again.

- d. The accusation of our sins,

- e. Satisfaction or penance,

5. What is the accusation of sins?

The accusation of sins is the declaration of our sins made to the priest-confessor, in order to receive absolution.

 

6. Of what sins are we obisged to accuse ourselves?

We are obliged to accuse ourselves of all our mortal sins which have not been confessed as yet or which were nor confessed in the right way; but it is also

well to confess venial sins.

7. How should we accuse ourselves of our mortal sins?

We must accuse ourselves of our mortal sins completely, without allowing ourselves to be overcome by a false shame so as to hide any sins, and we must

declare the kind and the number of our mortal sins, and also the circumstances which may have added a new serious guilt.

8. What should a person do if he does not remember the precise number of his mortal sins?

He who does not remember the precise number of his mortal sins must indicate to the confessor the number which seems closest to the truth.

9. Why must we not allow ourselves to hide a mortal sin through shame?

We must not allow ourselves to be overcome by shame so as to hide a mortal sin because we are confessing it to Jesus Christ, in the person of the

priest-confessor, and the priest cannot reveal any sin, even at the cost of his own life; furthermore, were we to hide a mortal sin, we would not obtain

pardon for it, and we would be shamed before all men at the General Judgment.

10. Does he make a good confession who through shame or through some other motive hides a mortal sin?

He who through shame or through some other wrong motive hides a mortal sin does not make a good confession, but commits a sacrilege.

11. What must one do if he has made a bad confession?

He who knows that he did not make a good confession, must make his confession over again and also accuse himself of the sacrileges which he has

committed.

12. Does he make a good confession who unwittingly omits or forgets a

mortal sin?

He who unwittingly Omits or forgets a mortal sin makes a good confession, but the obligation remains with him to accuse himself of it in his next confession.

13. What is absolution?

The absolution is the judgment by which the priest, in the name of Jesus Christ, forgives the penitent his sins, saying: I absolve you from your sins in

the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit. Amen.

 

14. When sins have been forgiven by absolution, is all punishment which we deserve also taken away?

When sins have been taken away by absolution, the eternal punishment merited for mortal sin is taken away; but if one has not had a most perfect

contrition, ordinarily there remains a debt of temporal punishment to be undergone either in this life or in the life to come.

15. What is the satisfaction, or the penance, given in the sacrament?

The satisfaction or sacramental penance is a good work imposed by the confessor for the punishment and correction of the sinner and to take away

the temporal punishment which we merited by sinning.

16. When is it proper to do the penance given in the sacrament of

Penance?

It is fitting to do the sacramental penance as soon as possible, unless the confessor has assigned a particular time for it.

*************************************************

CHAPTER 17: THE SACRAMENT OF ANOINTING

The very first book of the Bible teaches us that suffering and sickness are the result of original sin. Before this sin, Adam and Eve were kept free trom pain, illness, and death.

When Jesus came to earth he showed special love and kindness for the sick and dying. Many of his miracles were performed for these suffering people. He gave sight to the blind, speech to the mute, strong muscles to the paralyzed, and he even raised the dead to life. Can you imagine the joy that leapt up in the people's hearts as they saw their sick friends cured or their paralyzed relatives walking? Truly Good News has come to us, they must have exclaimed!

But more important to Jesus was the curing of souls. For reasons known to himself he did not cure everyone. To show that he did not abandon the sick and suffering Jesus gave us the sacrament of Anointing, also called the Sacrament of the Sick. Through this sacrament Jesus gives to the Church's suffering members the spiritual aid to enable them to use their pain for their spiritual perfection, to heal them if it is God's will, and to prepare them for death when the time comes.

Jesus Shares His Healing Power

During his ministry on earth Jesus shared his healing power with his disciples. Saint Mark, who was a close friend of the Apostle Peter, tells us about this:

Jesus summoned the Twelve and began to send them out two by two, giving them authority over unclean spirits. They went off, preaching the need of repentance. They expelled many demons, anointed the sick with oil, and worked many cures. (Mak 6; 7, 12-13)

After his Resurrection, Jesus' disciples continued to use this healing power in the sacrament of Anointing. The letter of Saint James the Apostle tells us that the priests would use holy oil and special prayers to forgive the sins of the sick and even to restore them to health:

Is there anyone sick among you? He should ask for the presbyters (priest) of the Church. They in turn are to pray over him, anointing him with oil in the name of the Lord. This prayer uttered in faith will reclaim the one who is ill, and the Lord will restore him to health. If he has committed any sins, forgiveness will be his. (James 5: 14-15)

Many Catholics do not realize that sacrament has the power to cure them in body as well as soul. Of course, this would depend upon the plan thar God has for the sick person's life. Perhaps the suffering a person experiences helps him to do penance for sins so that he can go strasght to Heaven when he dies. Or maybe it is simply his time to leave this earth and go to his true home with God. But the fact remains that many prsests have witnessed actual bodily cures as a result of the sacrament of Anointing.

The Purpose Of This Sacrament

For the first twelve hundred years of Christianity, this sacrament was seen as one of healing for both body and soul. Catholics received it whenever they were seriously ill or in danger of death.

But then some people began to develop a strange attitude toward Anointing. They saw it as a sure sign of death, and so they would not call a priest to anoint their sick relatives! They would put the sacrament off until the last moment of life, and it began to be called the ắLast Ritesă.

In our day the Church wants us to understand that Anointing is not to be feared or put off until death is certain. It is meant to help a person prepare for possible death by taking away sins and giving peace to the soul. It helps the person who receives it to accept God's plan for his life and to die a holy death if this is God's will. Through this sacrament, the sick and the elderly encounter Jesus, who comes to give them his peace and comfort. The Second Vatican Council told us:

The Sacrament of the Sick should be given, not at the point of death, but as soon as a Christian begins to be in danger of death from sickness or old age. (Sacrosanctum concilium, III, 73)

The Sign And Effect Of Anointing

The special sign of this sacrament consists of:

1. Anointing with blessed oil of the sick.

2. And the following prayer which the priest says while touching the sick person's forehead and hands with oil:

Through this holy anointing may the Lord in his love and mercy help you with the grace of the Holy Spirit. Amen. May the Lord, who frees you from sin, save you and raise you up. Amen. (Rite of Anointing)

We can tell from this sign what is happening to the person who receives it properly. First, he is strengthened spiritually to accept God's plan for his life. In the early days of the Church, oil was seen as sosnethsng that gave strength. The Greek athletes would rub it on their muscles before a race or other sports event.

Blessed oil is a sign of God's strength and the power of the Holy Spirit. Second, the person's venial sins are forgiven -- and his mortal sins if he is unable to confess - which prepares him to go to Heaven when he dies. When the priest anoints the forehead, he reminds us to be sorry for sins of thought; the touching of the hands reminds us of those sins committed by deeds.

 

The Rite Of Anointing

The Sacrament of the Sick can be give anywhere: in the hospital, in a church, at the scene of an accident, or in one's home. Let us see how it is celebrated in the house of the sick person.

After the family has called the priest, they should cover a small table or nightstand with a white cloth. On this is put a crucifix, two candles, and a small bowl of water. The priest will bring everything else.

Upon entering the home, the priest calls down God's blessing and sprinkles the sick person's room with holy water. Then he explains the purpose and meaning of the sacrament to the family.

Then, either the sick person receives the sacrament of Penance or else everyone joins in a penitential rite. After all recite the prayer ắI confess...' there is a reading from the Bible that deals with healing and forgiveness. Then it is time for the actual administration of the sacrament. The priest anoints the person with the oil of the sick and says the prayer we have already read. After the anointing he gives Holy Communion to the person and to those present who also wish to receive. The home ceremony closes with a blessing from the priest.

Indulgences

While this sacrament is usually received in old age, we should not wait until then to prepare ourselves for a good and holy death. We can begin now by praying daily, receiving the sacraments often, and storing up for ourselves 'treasure in Heavenă (Mt 6: 20), as Jesus called all of our prayers and good works.

One way we can do this is by gaining indulgences. These are spiritual riches which shorten or even take away the time we must spend in Purgatory making up for our sins. All of our prayers and good works make us more pleasing to God. The Church reminds us of this by attaching indulgences to certain prayers and works. By saying these prayers or performing these actions devoutly, we show our love for God, and he lessens the punishment we will receive for our past sins. Indulgences can be plenary (which take all our punishment away) or partial (which take some of it away).

Words To Know:

anointing oil of the sick - sign of Anointing - indulgence - Exercise

Questions:

1. What is the Anointing of the Sick?

The Anointing of the Sick is the sacrament instituted for the spiritual and also the bodily strengthening of Christians who are gravely ill.

2. Who is the minister of the Anointing of the Sick?

The minister of the Anointing of the Sick is a priest: the pastor of the parish or another priest who has his permission.

3. How does the priest administer the Anointing of the Sick?

The Anointing of the Sick:

- Increases sanctifying grace.

The priest administers the Anointing of the Sick by anointing the forehead and the hands of the sick person with olive oil (or other similar vegetable oil) blessed by the bishop or by any priest in case of necessity and by saying:

'Through this holy anointing may the Lord in his love and mercy help you with the grace of the Holy Spirit. Amen. May the Lord, who frees you from sin, save you and raise you up. Amen.

4. What effects does the Anointing of the Sick produce?

- It takes away venial sins and also the mortal sins if the sick person is unable to confess them, provided he has attrition.

- It gives strength to bear patiently the evil he suffers, to resist all temptations, and, if such is the case, to die a holy death.

- And finally it also helps to regain bodily health, if this is good for the soul.

5. When can this Anointing of the Sick be given?

This Anointing of the Sick can be given whenever a person is in a dangerous condition of health, either on account of an illness serious in itself or on account simply of old age.

6. What is an indulgence?

An indulgence is the remission of the temporal punishment due to our sins, which the Church grants under certain conditions to persons in the state of grace, applying to them the superabundant merits of Jesus Christ, of the Blessed Virgin Mother, and of the saints. These merits constitute the treasury of the Church.

7. How many kinds of indulgences are there?

There are two kinds of indulgences, plenary and partial.

8. What i.s a plenary indulgence?

A plenary indulgence is one which remits all the temporal punishment due to our sins.

9. What is a partial indulgence?

A partial indulgence is one which remits only a part of the temporal punishment which is due to our sins.

10. What is required to obtain indulgences?

To obtain indulgences it is necessary that we be in the state of grace and that we carry out the good works prescribed for the indulgence. In order to obtain a plenary indulgence it is also necessary:

- a. To pray for the intentions of the Holy Father.

- b. To make a sacramental confession and receive the Eucharist within eight days.

- c. And to have no attachment to venial sin.

***************************************************

CHAPTER 18: THE SACRAMENT OF HOLY ORDERS

Up to this point we have studied five sacraments: Baptism, Confirmation, Holy Eucharist, Penance, and Anointing. The first three are called sacraments of initiation, for they bring us into the Church and give us full participation in it. The other two are known as sacraments of healing, because Anointing strengthens in a special way for those who are ill their friendship with God and Penance restores God's life to our souls if we have destroyed it by mortal sin.

In the next two chapters we shall look at the sacraments of service: Holy Orders and Matrimony. Through these sacred ceremonies, Catholics are called by God to serve him and spread the gospel either as priests or as married couples. Priests serve God by preaching his holy word and giving the sacraments to Catholics. Married people serve God by raising families who will witness to Jesus and the Christian way of life in the world and by helping each other live holy lives.

Our present chapter is on the sacrament of Holy Orders. In it we will see how very important the Catholic priesthood is to the Church as it works to bring salvation to all men.

Jesus Gives Us The Sacrament Of Holy Orders

At the Last Supper Jesus made the Twelve Apostles the first priests of his Church. While instituting the Holy Eucharist he said to them: 'Do this as a remembrance of me'. (Lk 22: 19)

The command to 'do thisă meant that Christ had given them a share in his own priestly power so that they could offer the Holy Sacrifice of the Mass. Along with being priests, the Twelve were also made bishops. Bishops receive from Jesus the fullness of the priesthood and the duty of ordaining other worthy men to the priestly ministry. Saint Clement of Rome, who was a friend of the apostles and the fourth Pope, wrote about this passing on of the priesthood:

The apostles knew, through Our Lord Jesus Christ, that they were to appoint other men to take their place as bishops in the Church. They told these men to choose successors as well.

This passing on of Holy Orders is called apostolic succession. It assures us that our Catholic bishops today have received their ministry directly from Jesus through the Twelve. This is why we are able to say that our bishops are the successors of the apostles.

A Royal Nation Of Priests

We learn from Saint Peter that all Christians share in the priesthood of Christ. In his first letter to all believers he says: ắYou, however, are a chosen race, a royal priesthood.., he claims for his own. (1 Pet 2:9) This reminds us that we are all made priests in Baptism, but we must remember that there are different ways of carrying out this common priesthood. Lay people, including Sisters and Brothers in religious communities, carry our their priesthood by attending Mass and by worshipping God through private prayer. This is known as the priesthood of the faithful. This is different from the ordained priesthood which men receive through Holy Orders.

To receive this sacrament, a man must be called by God. This special calling is necessary because a priest's life is very demanding. It can only be lived. faithfully by those who are chosen by God to serve him in this way of life.

The Levels In Holy Orders

Most Catholics do not realize that Holy Orders has three different levels or parts. These are called hierarchies, which is from a Greek word that means degrees of authority. The highest degree of Holy Orders is that of the bishops. They receive all the power of the priesthood. This is why only they can ordain men to the priesthood. They are the official teachers of the faith in their diocese. Every Catholic owes respect and obedience to the bishop of his diocese.

The next level is the regular priesthood. Your pastor and his associates belong to this degree. They are the bishop's helpers in preaching the Word of God, teaching the faith, and administering the sacraments. Every priest makes a promise of obedience to his bishop. The priest is called to become holy because this is the best way of leading others to Heaven.

The members of the lowest level in Holy Orders are the deacons. Deacons were first ordained in the Church by the apostles, as Saint Luke tells us:

In those days, as the number of disciples grew, the ones who spoke Greek complained that their widows were being neglected in the daily distribution of food, as compared with the widows of those who spoke Hebrew. The Twelve assembled the community of the disciples and said, ắIt is not right for us to neglect the Word of God in order to wait on tables. Look around among your own number, brothers, for seven men acknowledged to be deeply spiritual and prudent, and we shall appoint them to this task. This will permit us to concentrate on prayer and the ministry of the Word...'. They presented these men to the apostles, who first prayed over them and then imposed hands on them. (Acts 6: 1-4, 6)

This shows us that the deacons are called to serve the Church by carrying out works of mercy. But they also help our in parishes by assisting the priest at Mass, administering Baptism, distributing the Eucharist, assisting at marriages, officiating at funerals and burial services, and instructing people in the faith. There are two kinds of deacons: those who are studying for the priesthood and those who are called to this way of life as permanent deacons. These are often married men who are ordained for service in their own dioceses.

The Sign And Effects Of Holy Orders

As we saw in the passage from Saint Luke, the apostles ordained men by praying over them and laying hands upon them. This is how men are ordained today. As we learned in the chapter on Confirmation, the laying on of hands is an ancient symbol of passing on a spiritual gift. The words of the ordination prayer tell us that this gift is a share in the priesthood of Christ. It asks God to: give these servants of yours the dignity of the presbyterate (priesthood). Renew the Spirit of holiness within them. By your divine gift may they attain the second order in the hierarchy and exemplify right conduct in their lives.

We learn from this prayer that God increases his spirit in these men, giving them the special powers of the priesthood. The life of God is increased within them, and they receive all the graces they need to become good, holy priests. Like Baptism and Confirmation, Holy Orders puts a sacramental seal (spiritual mark) on the soul. This shows God that they have been united to Jesus, our High Priest.

A Wonderful Calling

The call of God to the priesthood is very wonderful. It is one of the greatest honors which a man can receive in this life. We should pray for our parish priests every day and also ask Jesus to send the Church more good, holy servants. We should always show respect to our priests and realize that their lives are very hard. They spend all their days celebrating Mass, hearing confessions, counseling people, and attending to the needs of a busy parish. But their life, if it is lived in faith, hope, and love for God will surely lead to everlasting happiness! The holy Father of the Church, Saint Basil the Great once said: 'The ministry of the priesthood is a great work which will bring you to the Kingdom of Heaven.

Words To Know:

sign of Holy Orders - deacon - priest - apostolic succession - priesthood of the faithful - ordained priesthood - bishop

Exercise

1. What is the Holy Orders?

Holy Orders is the sacrament which gives the power to carry our the sacred actions regarding the Holy Eucharist and the salvation of souls, and which impresses the character of minister of God.

2. Who is the minister of Holy Orders?

The minister of Holy Orders is the bishop, who gives the Holy Spirit and the sacred powers by imposing hands, saying the words of the form which are prescribed.

3. Why is the sacrament which makes ministers of God called 'Holy Orders?

The sacrament which makes ministers of God is called Holy Orders because it includes various degrees of the ministry, one subordinated to the other, which constitutes the Sacred Hierarchy.

4. What are the degrees of the Sacred Hierarchy?

The degrees of the Sacred Hierarchy, emanating from the sacrament of Holy Orders, are only three:

- First, the diaconate, which is a lower degree of ministry, assisting and helping the higher degrees of the priesthood.

- Second, the simple priesthood, or presbyterate, which gives the power of consecrating the Holy Eucharist and of forgiving sins.

- Third, the episcopate, the fullness of the priesthood, which gives the power 0f conferring Holy Orders itself and of directing and governing the faithful

5. Is the priesthood a great dignity?

The dignity of the priesthood is very great, because of its power over the real Body of Jesus Christ which is made present in the Holy Eucharist and because of its power over the Mystical Body of Jesus, the Church, which the priesthood rules and governs, with the sublime mission of leading men to holiness and to the life of the blessed.

6. What purposes must he have in view who talces Holy Orders?

He who takes Holy Orders must have as his purpose only the glory of God and the salvation of souls.

*************************************************

CHAPTER 19: THE SACRAMENT OF MATRIMONY

In this chapter we are going to look at the second 'sacrament of service', Matrimony. Marriage is the oldest form of community among man. It was given to us by God right after he created the first man, saying:

It is not good for the man to be alone. I will make a suitable partner for him... So the Lord God cast a deep sleep on the man, and while he was asleep, he took out one of his ribs. The Lord God then built up into a woman the rib he had taken from the man. When he brought her to the man, the man said This one, at last, is bone of my bones and flesh of ray flesh; this one shall be called 'woman', for out of 'her man' this one has been taken'. That is why a man leaves his father and mother and clings to his wife, and the two of them become one body. The man and wife were both naked, yet they felt no shame. (Gen 2 1 21-25)

After having joined Adam and Eve as husband and wife, God said to them:

Be fruitful and multiply; fill the earth and subdue it. (Gen 1: 28)

The Purpose Of Marriage

From these two passages from Genesis and from the teaching of Christ and his Church we learn that there are two special purposes of marriage.

God gave the man and wife to each other as partners. By their love for each other they support one another in life. They help each other to know, love, and serve God on earth so that they will live with him in Heaven. This partnership is often called mutual love.

The other purpose of marriage is the bearing and bringing up of children in a loving family. Through the holy gift of their bodies to one another, husband and wife cooperate with God in bringing new human life into the world. This second purpose is often called procreation. The marriage commitment of the man and woman makes sure that the children will have a home and family to grow up in. It protects the little ones and provides for their true development as children of God.

The sacrament Of Matrimony

Even before Jesus made marriage a sacrament, it was seen as a life, long union of husband and wife, in which they promised to love each other and live with one another until death. Of coutse, we human beings do not always go along with God's plan. Our weak human nature sometimes destroys his plan for marriage by such things as divorce and adultery. But this does not change the purpose of matrimony as our Creator meant it to be.

One day, some leaders of the Jews asked Jesus what his teaching on marriage was. He answered them, saying:

Have you not read that at the beginning the Creator made them male and female and declared, For this reason a man shall leave his father and mother and cling to his wife, and the two shall become as one'? Thus they are no longer two but one flesh. Therefore, let no man separate what God has joined.... I now say to you, whoever divorces his wife and marries another commits adultery, and the man who marries a divorced woman commits adultery. (Mt 19: 4-6, 9)

At the beginning of Jesus' public life, he attended a wedding feast and worked his first miracle there. He did this in order to bless the marriage with his presence. He made marriage a sacrament and a symbol of the love he has for his body the Church. Just as Jesus will always love his Church and never leave her, so the husband must always love his wife and stay with her until death.

What Is Christian Marriage?

In order for a couple to have a sacramental Christian marriage, both of them must be baptized. They must intend to live their marriage according to God's plan, which means a lifelong relationship and openness to whatever children God may send them. On their wedding day they agree to remain with one another through good times and bad, in riches or in poverty, in sickness or in health.

To help couples love a good Christian marriage the Church has made some laws concerning the celebration of this sacrament. If a man and woman do not agree to marry according to these rules or with respect for God's plan, then their marriage is called invalid. This means that a true union never took place, and they are single people in the eyes of God.

The Rite Of Matrimony

The wedding rite, or ceremony, usually takes place during Mass, but this is not required for the celebration of the sacrament. Unlike the other sacraments (except Baptism which can be administered by anyone in case of emergency), the priest is not the one who administers the sacrament to the couple. He is there to Witness it for the Church and to bless it in God's name. The man and wife are the ones who give the sacrament to each other by the words of the solemn wedding promises.

After the homily at Mass, the priest asks the couple if they have come to the wedding freely, without anyone or anything pressuring them to do so. He then asks if they agree to live their marriage according to God's plan. If they can truly say ắyesă, then the ceremony continues.

The bride and groom join hands and pronounce the vows to one another. This is the sign of the sacrament. As you know, a VOW is your solemn promise to do what you say. To break it would be a mortal sin. The wedding VOWS are usually worded like this:

1, (name), take you, (name), to be my wife (husband). I promise to be Cue to yoU in good times and in bad, in sickness and in health. I will love you and honor you all the days of my life. (Rite of Matrimony)

After this, the newlyweds usually give rings to one another. The prit blesses these rings so that they may be signs of their love and fidelity.

The Mass continues as usual until before Holy Communion when the Nuptial wedding) 1essing is given. This is a special blessing which only two Christians may receive. It asks God to make their life holy, to keep them faithful to one another, to send them the gift of children, and to bring them to Heaven when they die. At the end of the Mass another blessing is given and the ceremony ends.

Through this sacrament God makes the two people one flesh. This means that they cannot be sepasated in his eyes, any more than a human body can be separated and still live. God also gives them all of the graces they will need to be faithful to each other and to be good parents. He calls them to be witnesses for Jesus and the Christian life among their relatives and friends.

Modern Day Attacks On Marriage

As we discussed earlier in this lesson, many people today do not think of marriage according to God's plan. This is because the world has different values from those of Christ. It attacks the sacrament of Matrimony fl many ways. How? By approving of divorce and adultery, by worshipping money and possessions as false gods in society, by teaching young people that premarital sex and masturbation are not wrong; by encouraging a negative attitude toward large families, and by encouraging the use of contraceptives.

Every Christian couple -- married or engaged -- must be aware of these false valu. They should try to understand God's true plan for marriage by studying the teaching of the Church. Daily prayer together will help them to be strong as they try to live out their lifelong vows. Young people can prepare themself for marriage by asking God to send them good Christian friends. In this way they will not be tempted to marry just anyone, but only someone who really loves them and who loves God. It is never too early to prepare yourself for this holy and wonderful sacrament.

Words To Know:

sign of Matrimony - invalid marriage - procreation - mutual love - wedding vows

Exercise

1. What is Matrimony?

Matrimony is the sacrament which unites a man and a woman indissolubly, as Jesus Christ and his Spouse, the Church, are united and which gives them special grace in order to live in a holy way and to raise and educate their children in a Christian manner.

2. Who is the minister of Matrimony?

The spouses who contract Matrimony are the ministers of the sacrament.

3. Must the spouses be in the grace of God when they contract the sacrament of Matrimony?

Yes, the spouses when contracting Matrimony must be in the grace of God: otherwise they commit a sacrilege.

4. How is Matrimony contracted?

Matrimony is contracted by expressing the mutual consent before the pastor (or before a priest delegated by him), and two witnesses.

5. Does Matrimony celebrated in this form obtain also the civil effects?

When matrimony is celebrated in this form it obtains the civil effects as well, if the civil government recognizes the sacrament of Matrimony as producing the civil effects.

6. How does Matrimony celebrated in this manner acquire the civil effects?

Matrimony celebrated in this form obtains also the civil effects by means of its legal inscription in the registry of the civil state, carried out at the request of the pastor.

7. What duties do the spouses assume?

The spouses assume the duty of living together in a holy way; of helping each other with unfailing affection in their temporal and spiritual necessities; and of raising and forming their children well, taking no less care of their souls than of their bodies, forming them above all in religion and virtue by word and example.