• Register

GIÁO LÝ TÂN TÒNG VÀ THÊM SỨC

(Gồm cả Tiếng Việt và Tiếng Anh)

PHẦN TIẾNG VIỆT

QUYỂN III: ĐỂ SỐNG ƠN CỨU ĐỘ GIỮA LÒNG THẾ GIỚI

 

BÀI 1:   CHÚA BAN LỀ LUẬT CHO CHÚNG TA

Nếu chúng ta quan sát thế giới chung quanh chúng ta, sẽ thấy có một trật tự hay một sự nhất quán nào đó trong các biến cố lớn nhỏ xảy ra trong vũ trụ. Khi tung một hòn đá lên trời, nó sẽ rơi lại xuống đất. Ta nói đó là định luật về trọng lực. Những con ngỗng trời bay hàng ngàn dặm mỗi năm, rồi trở lại cùng một chỗ để làm tổ và ấp ra những con ngỗng khác. Ta nói chúng làm theo bản năng. Và nếu quan sát những con người đang sống và đã sống qua các thời đại, trên những đất nước khác nhau với những văn hóa khác nhau, ta thấy họ luôn luôn có một quy luật về điều phải và điều trái: Hãy làm lành và tránh làm ác. Mọi con người trên khắp thế giới đều có quan niệm rằng họ nên có cung cách ăn ở nào đó.

Vậy sự khác biệt giữa quy luật trong cung cách ăn ở giữa loài người và định luật về trọng lực hay bản năng là thế này: Định luật về trọng lực hay bản năng nói cho ta biết các sự vật đang xảy ra thế nào. Còn quy luật về cách ăn ở giữa con người với nhau nói cho ta biết chúng ta phải làm gì. Nói cách khác, hòn đá hay con ngỗng trời không có sự lựa chọn trong vấn đề này. Hòn đá không quyết định rơi lại xuống đất...nó phải rơi thôi! Nhưn gkhi quy luật về cách ăn ở giữa con người có thể bảo chúng ta biết điều gì là phải và điều gì là trái, chúng ta vẫn còn tự do để quyết định điều gì chúng ta định làm.

Điều này nêu ra một vấn đề, hay đúng hơn hai vần đề: Vấn đề thứ nhất: tuy mọi người đều có thể đồng ý phải làm điều lành và tránh điều ác, họ không luôn luôn phải đồng ý về cáci gì là điều lành và cáci gì là điều ác trong hành động của con người. Trong thực tế, người ta thường lầm lẫn về cách ăn ở thế nào là tốt và thế nào là xấu. Thế thì làm sao có thể biết một cách chắc chắn được?

Vấn đề thư 1hai liên quan đến những động lực thúc đẩy chúng ta tuân theo luật ăn ở giữa con người với nhau. Khác với hòn đá phải theo luật trọng lực, con người thì không bị bắt buộc phải hành động theo quy luật. Nhưng họ có thể tự do lựa chọn, thế tại sao họ làm như thế?

Sơ Đồ Tổng Thể

Chúng ta có thể tìm ở đâu lời giải đáp cho những vấn đề này?   Thì như bạn có thể biết được, cách tốt nhất là nhìn lên Đấng Chủ sơ đồ tổng thể và xem Người đã có ý muốn gì?

Như chúng ta đều biết, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và là chủ cả đất trời. Trong sự khôn ngoan cao cả của Người, Người đã làm ra vũ trụ và cải quản nó. Như Người đã đặt ra luật trọng lực và bản năng, thì Người đã dựng nên mọi người và cho họ khái niệm về điều lành nên làm và điều ác nên tránh. Nhưng Người cũng dựng nên mọi người với quyền tự do, cho phép họ tự quyết định điều gì họ thích làm.

Chúng ta còn nhớ điều gì đã xảy ra khi Ađam đã làm một sự lựa chọn. Một trong những hậu quả của tội nguyên tổ là con người không dễ dàng biết được điều gì là tốt, điều gì là xấu nữa, và xử sự ra sao cho phù hợp. Và nếu đọc lại đoạn đầu của Cựu Ước, ta có thể thấy được rằng ngay từ đầu con người đã làm rối beng khi họ hành động theo ý riêng mình.

Nhưng Thiên Chúa đã hứa với Ađam rằng Người sẽ không bỏ rơi chúng ta, và sẽ ban cho chúng ta một phương cách để được cứu độ. Vì thế Người đã kêu gọi ông Abraham, và làm cho ông trở nên cha của một dân tộc được Người tuyển chọn. Và khi Thiên Chúa muốn thiết lập giao ước của Người với dân Do Thái, để cho thấy Người muốn làm Chúa của họ và họ sẽ là dân của Người, thì Người đã ban cho họ Thập Giới (Mười Giới Răn) Chúa muốn dân Người biết điều gì là phải, điều gì là trái, và điều gì làm Người vui lòng, vì Người đang chuẩn bị để họ đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử cứu độ. Có vài người nghĩ rằng Chúa chỉ muốn người ta vâng lời theo một bộ luật nào đó thôi. Nhưng điều Người muốn thật sự chính là một dân tộc đặc biệt. Người đã ban cho dân Người một bộ luật, để dạy dỗ và dẫn dắt họ trong mọi nẻo đường của cuộc sống.

Sự Chu Toàn Lề Luật

Khi Chúa Giêsu đến thiết lập giao ước mới, Ngài không gạt bỏ lề luật cũ là Mười Giới Răn, nhưng đã kiện toàn nó. Ngài nói: Đừng nghĩ rằng Ta đến để bãi bỏ lề luật và các tiên tri. Ta đến không để huỷ bỏ, nhưng để kiện toàn nó. (Mt 5:27) Chúa Giêsu dạy rằng nền tảng của mọi lề luật là tình yêu: Yêu mến Chúa trên hết mọi sự, với tất cả trí khôn, với tất cả con tim và với tất cả linh hồn mình, và yêu mến anh em như chính mình. Chúa Giêsu muốn mọi người qui hướng lòng trí họ về Chúa với tất cả lòng yêu mến. Bất tuân một giới răn nào trong Mười Giời Răn là không yêu mến Chúa hay anh em mình.

Những Chữ Nên Biết

Giao Ước - Mười Giới Răn - (Thập Giới)

“Anh em đừng tưởng rằng Thầy đến để bãi bỏ Lề Luật và giáo huấn của các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. (Mt 5:17)

Mười Giới Răn:

1.         Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi: người sẽ không có thần lạ nào trước nhan Ta.

2.         Ngươi sẽ không sử dụng Danh Ta cách vô cớ.

3.         Hãy nhớ thánh hóa ngày của Chúa.

4.         Hãy thảo kính cha mẹ ngươi.

5.         Ngươi sẽ không giết người.

6.         Ngươi sẽ không phạm tội ngoại tình.

7.         Ngươi sẽ không trộm cắp.

8.         Ngươi sẽ không làm chứng gian cáo tội người đồng loại.

9.         Ngươi sẽ không ao ước vợ chồng người đồng loại.

10.       Ngươi sẽ không ham muốn của cải của người đồng loại.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Chúng ta phải làm gì để sống đúng theo ý Chúa?

Để sống đúng theo ý Chúa, chúng ta phải tin những chân lý mà Người đã mạc khải và tuân giữ các giới răng của Người, với sự trợ giúp của ơn Thánh Người ban, điều mà chúng ta nhận lãnh được, nhờ các bí tích và cầu nguyện.

2.         Những giới răn của Chúa là gì?

Những giới răn của Chúa được gọi là Thập Giới, là những luật luân ;ý mà Thiên Chúa đã ban cho ông Môsê trên núi Sinai thời Cựu Ước, và Chúa Giêsu đã kiện toàn nó trong Tân Ước.

3.         Nền tảng của tất cả các bổn phận của chúng ta phải có đối với Chúa và tha nhân là gì?

Thưa là Đức Ái, như Chúa Giêsu đã giải thích: giới răn lớn nhất và trên hết là kính mến Chúa, và giới răn thứ hai là yêu mến tha nhân; tất cả lề luật và giáo huấn của các tiên tri đều phụ thuộc vào hai giới răn này.

4.         Chúng ta có buộc phải giữ các giới răn của Chúa không?

Có, chúng ta buộc phải giữ các giới răn của Chúa, vì các giới răn này được Chúa ban cho ta, Người là Đấng lập luật tối cao, và lý trí lành mạnh có thể biết những giới răn này.

5.         Ai không tuân giữ các giới răn của Chúa có phạm tội cách nặng không?

Kẻ nào cố tình không tuân giữ dù chỉ một giới răn của Chúa trong một vấn đề nghiêm trọng là đã phạm tội chống Chúa cách nặng, và như thế là đáng sa hỏa ngục.

***************************************************************

BÀI 2: LỀ LUẬT VÀ LƯƠNG TÂM

Lề luật thật là thánh và điều răn cũng thánh, đúng và tốt. (Rm 7:12)

Khi nhìn thế giới quanh ta, chúng ta thấy mọi sự hoạt động thể theo một kế hoạch hay một trật tự nào đó. Chẳng hạn sông ngòi thì chảy ra biển, chim muông làm tổ cho con chúng mỗi độ xuân về, và khi ném một hòn đá lên thì nó rơi xuống đất. Là Đấng Tạo Hóa dựng nên thế giới này, Thiên Chúa đã lo liệu cho mọi tạo vật của Ngài. Trong sự quan phòng của Ngài, Ngài cai quản mọi sự bằng cách chỉ huy và sắp đặt cho mỗi tạo vật đạt tới cứu cánh hay mục đích của nó. Đó là định luật vĩnh cửu và định luật ấy chi phối tất cả mọi tạo vật có trên địa cầu này.

Luật Thể Lý

Luật vĩnh cửu của Thiên Chúa trước hết được phân chia ra thành luật thể lý và luật luân lý, cũng còn được gọi là luật tự nhiên, là những luật chi phối bản chất và sự hoạt động của tất cả những vật thể chất và những lực thiên nhiên. Luật trọng lực hay những luật vật lý và hóa học là những ví dụ về các luật thể lý. Bản năng các động vật làm chúng hành động theo một cách nào đó cũng là những luật thể lý. Những luật chi phối thế giới vật chất thì không thể không tuân theo hay hủy bỏ được.

Còn những luật điều khiển ý chí chúng ta hướng về điều tốt thì gọi là những luật luân lý. Nhưng vì con người có tự do, nên các luật điều khiên các hành động của ta có thể không được con người tuân giữ. Chúng ta luôn luôn có tự do để chọn điều tốt hay điều dữ. Những luật như thế giúp chúng ta hướng ý chí của mình đạt tới mục tiêu đích thực của nó là sự hoàn thiện lúc sống trên trần gian này, và sau này, hạnh phúc trên Thiên Đàng.

Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời! Họ không làm điều gian ác, nhưng cứ đường lối Chúa mà đi! (TV 119:1,3)

Toàn bộ luật luân lý đến với chúng ta là từ Chúa. Một phần của bộ luật ấy xuất phát trực tiếp từ Người, nhưng một phần khác đến với ta cách gián tiếp, ngang qua một người ban luật ấy. Phần đầu của bộ luật, luật Chúa, được chia làm hai loại: Luật tự nhiên và luật mạc khải.

LUẬT CHÚA

Luật Tự Nhiên

Luật tự nhiên là luật luân lý căn bản Chúa đã đặt trong bản tính nhân loại và chúng ta phát hiện ra nó nhờ lý trí. Luật ấy được viết trong lòng con người, và nguyên lý căn bản của nó là “Hãy làm điều lành và lánh điều dữ.”

Tuy thế, vì tội nguyên tổ đã làm mờ trí khôn của chúng ta, nên chúng ta không luôn luôn nhận ra được cái gì là tốt và cái gì là xấu. Hầu hết mọi người, ngay cả những người lương, cũng có thể biết rõ rằng có vài điều như giết người, trộm cắp, hay nói dối là làm trái. Tuy nhiên, không dễ gì mà thấy được rằng đôi khi nói một điều gì có thật sự lại có thể làm điều sai quấy. Chẳng hạn, loan ra những sự việc với ác ý làm hại hay gây rắc rối cho người khác là có thể phạm một lỗi nặng.

Luật Mạc Khải

Vì con người thường thấy, tự mình, khó mà biết được điều gì là phải và điều gì là trái, nên Thiên Chúa cũng mạc khải cho chúng ta một vài giới răn. Điềâu đó được gọi là Luật Mạc Khải. Đó là những giới răn nói trong Lề Luật cũ được ban cho ông Môsê tại núi Sinai và Lề Luật Mới do Chúa Giêsu ban lúc Ngài còn tại thế. Lề Luật cũ do Thiên Chúa ban trong Cựu Ước, chẳng hạn, Mười Giới Răn. Luật này là giai đoạn thứ nhất trong mạc khải của Thiên Chúa, và tự nó còn bất toàn. Luật này được kiện toàn trong Tân Ước. Chúa Giêsu đã nói: Anh em đừng tưởng Ta đến để bãi bỏ luật của Môsê hay giáo huấn của các tiên tri. Ta đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. (Mt 5:17) Mười Giới Răn là những ví dụ về Luật Mạc Khải đã được ban trong Cựu Ước, còn việc Chúa Giêsu cấm ly dị (Mt 19:1-9) là một ví dụ về Luật Mạc Khải được ban trong Tân Ước. Chúng ta nên nhớ rằng giáo huấn của Giáo hội là lời giải thích chân chính về Luật Chúa, nghĩa là về cả luật tự nhiên lẫn luật mạc khải.

Nhiều điểm của luật mạc khải lặp lại và xác nhận nhiều điểm trong luật tự nhiên mà con người cũng có thể tự mình tìm ra được. Thiên Chúa lập lại những lệnh truyền này, chẳng hạn, “Người sẽ không giết người, Người sẽ không trộm cắp...” là vì tính cách quan trọng của nó. Có những luật điều khác đòi phải có sự mạc khải của Thiên Chúa thì chúng ta mới biết đến được. Ví dụ như Thiên Chúa dạy chúng ta phải thờ phượng Người mỗi tuần trong một ngày nào nhất định.

Luật Nhân Loại

Nhiều Luật Luân Lý là do chính con người làm ra, và vì thế, được gọi là luật nhân loại. Luật nhân loại được chia ra thành luật đời và luật của Giáo hội (Giáo luật). Luật đời là những luật do chính quyền dân sự đặt ra. Những luật có liên quan đến việc trả thuế hoặc về lưu thông là những ví dụ.

Giáo luật là những luật do Giáo hội làm ra. Luật này có nhiều và được trình bày trong Bộ Giáo Luật. Tuy nhiên, có bảy luật có tính cách quan trọng với mọi ngưởi Kitô hữu, và chúng ta phải biết và giữ những luật ấy. Đó là:

1.         Phải giữ Ngày Kính Chúa Phục Sinh: Thờ phượng Chúa bằng việc tham dự Thánh Lễ trong ngày Chúa Nhật và những ngày lễ buộc; tránh làm những việc có thể cản trở việc canh tân tâm hồn và thể xác, chẳng hạn, những việc thêm thừa và những sinh hoạt thương mại, đi mua hàng hóa không cần thiết...

2.         Sống Đời sống Bí Tích: Thường Xuyên Rước Lễ và Xưng Tội đều đặn:

- Tối thiểu phải xưng các tội nặng một năm ít nhất là một lần (chỉ buộc

   xưng tội hàng năm là khi nào có tội nặng)

- Tối thiểu phải rước lễ một năm ít nhất một lần, trong thời gian từ Chúa   Nhật thứ nhất Mùa Chay và Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi.

3.         Học Giáo Lý để chuẩn bị chịu Phép Bí Tích Thêm Sức, để chịu Thêm Sức, và sau đó tiếp tục học hỏi và thúc đẩy phát triển sự nghiệp của Chúa Kitô.

4.         Tuân giữ những luật của Giáo hội về Hôn Phối: Dạy lẽ đạo cho con cái (bằng gương sáng và bằng lời nói); cho con cái học trường của Giáo xứ và theo học giáo lý.

5.         Củng cố và yểm trợ giáo hội: Là Cộng Đoàn giáo xứ của mình và các linh mục thuộc giáo xứ; yểm trợ giáo hội toàn cầu và Đức Giáo Hoàng.

6.         Làm việc đền tội, gồm có việc kiêng thịt và ăn chay trong những ngày luật dạy:

- Kiêng thịt ngày Thứ Tư Lễ Ttro và những ngày Thứ Sáu trong Mùa

Chay.

- Ăn chay ngày Thứ TƯ Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh.

7. Tham gia tinh thần truyền giáo và việc tông đồ của Hội Thánh.

Đôi khi chính quyền và Giáo Hội nhắc lại và khẳng định lại luật Chúa. Chẳng hạn, một nước có thể ban bố luật chống việc giết người hoặc ăn cắp, và Giáo hội cũng dạy rằng những hành động như thế là sai tráo. Những luật như thế, tuy đã được con người lặp lại, vẫn không phải là luật nhân loại, nhưng là Luật Chúa. Chúng ta cần phải hiểu điều này, vì con người không thể thay đổi những luật này.

Chúng ta cũng phải nhận thức rằng vẫn có một đẳng cấp nào trong các luật; chẳng hạn, luật Chúa thì trọng hơn luật nhân loại. Cho nên khi một luật nhân loại xung khắc hoạc nghịch lại với luật Chúa, thì chúng ta phải tuân giữ luật Chúa.

Khi nói đến luật, chúng ta nói đến cả tinh thần cũng như về mặt chữ của luật. Tinh thần là sự am hiểu ý nghĩa nằm sau câu luật, và chữ của luật là những từ của câu luật. Khi tuân giữ những luật này, chúng ta phải theo cả tinh thần lẫn mặt chữ của nó.

Giữa luật và óc vụ luật có một sự khác biệt rõ ràng. Chúa Kitô nói: Trời đất qua đi, còn dễ hơn là một dấu phết của lề luật ra vô hiệu. (Lc 16:17) Đàng khác, Ngài quở trách nặng nề người Pharisiêu vì óc vụ luật của họ. Họ đã quên tất cả về tinh thần nằm sau câu luật, trong lúc họ cứ cố bám chặt vào mặt chữ. Do đó, họ làm cho luật ra vô hiệu. Chẳng hạn, có một tục lệ giữa họ là nếu bạn nói với cha mẹ bạn rằng bạn đã dâng cúng của cải của bạn cho Chúa rồi, thì bạn không còn bị bắt buộc giúp đỡ và tôn kính các ngài nữa. Nên Chúa mới nói: Vì để giữ tục lệ của các ông mà các ông làm vô hiệu Lời Chúa. Hỡi quân giả hình kia Ngôn sứ Isaia thật đã nói trước rất đúng về các ông rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. (Mt 15:7-9) Nhiều lần Chúa Kitô đã cho thấy luật yêu mến là tối thượng. Luật yêu mến không làm cho lề luật ra vô hiệu nhưng kiện toàn nó. Thánh Phaolô nhắc chúng ta rằng: Trên hết mọi đức tính, anh em hãy có đức ai. (Col. 3:14)

Lương Tâm

Ngoài sự hướng dẫn của luật luân lý từ bên ngoài, Chúa còn cho ta một sự hướng dẫn bên trong để giúp chúng ta phân định hành động nào là tốt và hành động nào là xấu. Sự hướng dẫn này được hiểu là lương tâm của chúng ta. Nhiều người xem lương tâm như là tiếng thì thầm dạy mình phải biết làm điều gì hoặc khiển trách khi mình làm điều sai quấy. Như vậy là đã hiểi sai về lương tâm.

Lương tâm đúng ra là một hoạt động đặc biệt của lý trí, hay là trí năng của chúng ta, nhờ đó chúng ta có thể phê phán tính chất đúng đắn hay sai quấy của một hành động nào đó. Lương tâm không phải là một cảm giác hay một xúc động. Lương tâm là sự áp dụng một vài nguyên tắc nào đó. . . được tìm thấy trong luật luân lý. . .cho một tình huống luân lý riêng biệt, cụ thể.

Nếu muốn lương tâm của chúng ta giúp ích được chút nào, thì nó phải được đào tạo hoặc dạy dỗ cách đúng đắn. Chúng ta buộc phải theo lương tâm của mình, nhưng cũng buộc phải biết chắc chắn rằng lương tâm ấy được đào tạo đúng mức.

Khi lương tâm chúng ta được đào tạo đúng mức, và những phê phán của chúng ta đưa ra là đúng, thì chúng ta có một lương tâm chân chính. Nếu các phê phán của chúng ta sai thì chúng ta có một lương tâm sai lạc. Một lương tâm sai là quá rộng khi nó không thấy có tội nơi có tội lỗi đang xảy ra. Chẳng hạn, nếu chúng ta không nghĩ rằng cố tình bỏ lễ Chúa nhật là một tội nặng, là ta có một lương tâm rộng. Còn nếu lương tâm phóng đại tính chất nặng của tội hoặc thấy tội nơi thật sự không phải là tội, thì lương tâm ấy là lương tâm bối rối. Chẳng hạn, nếu nghĩ rằng bỏ lễ Ngày Chúa Nhật trong khi chúng ta bị đau ốm nặng là một tội, thì chúng ta đang có lương tâm bối rối. Những lương tâm sai lầm như thế là lương tâm không được giáo dục đúng mức.

Muốn giáo dục lương tâm chúng ta, chúng ta phải nhìn xem giáo hội đang loan báo Lời Chúa cho chúng ta hôm nay, và phải lắng nghe tiếng nói của Giáo hội. . . Đồng thời chúng ta phải cố gắng hiểu những điều luật này của Chúa hầu có khả năng để tuân giữ nó hơn.

 

Những Chữ Nên Biết

Luật vĩnh cửu - luật tự nhiên - luật đời - luật giáo hội - luật luân lý - luật Chúa - lương tâm

********************************************************

BÀI 3: GIỚI RĂN THỨ NHẤT TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA

Giới răn thứ nhất của Chúa là:

“Ta là Chúa, Thiên Chúa của người, ngươi sẽ không có thần nào khác trước nhan Ta.”

Giới răn này đòi hỏi mọi người phải nhìn nhận Thiên Chúa là Chúa duy nhất và chân thật, là Đấng Tạo Hóa và là Chúa Tể vạn vật, và phải thờ phượng và sùng bái Người như là Thiên Chúa của chúng ta. Chúa đòi hỏi điều này nơi chúng ta, vì là tạo vật, chúng ta mang ơn Chúa trong mọi sự, chun1g ta hoàn toàn lệ thuộc vào Người. Với lòng tôn kính và sự thờ phượng, chúng ta nhìn nhận món nợ của mình và lòng biết ơn phải có đối với Đấng Tạo Hóa.

Muốn dâng lên Chúa sự thờ phượng đầy yêu mến, chúng ta phải tin nơi Người và tin tất cả những gì Người đã tỏ bày (mạc khải) cho chúng ta biết. Điều này có nghĩa là chúng ta phải học tập thêm mãi về Thiên Chúa, nhất là khi Người đã ban cho chúng ta phương tiện để làm việc này; chúng ta không có lý do để bào chữa vì không biết về Thiên Chúa và những chân lý về Người.

Giới răn này đòi hỏi chúng ta phải có một cách ăn ở thế nào đó, thì nó cũng cấm chúng ta hành động nghịch lại những gì mình phải có đối với Chúa. Chúng ta sẽ sai quấy nếu mê tín dị đoan hay không kính mến Chúa: nghĩa là tỏ ra không tôn kính và vô lễ đối với Chú ahay đối vơí các đồ vật thánh. Chúng ta sẽ sai quấy nếu cố tình nghi ngờ vài chân lý về Chúa hoặc từ chối không biết điều mình phải biết về Chúa và về đạo. Có những thời mà người ta cố tình công khai tuyên bố lòng vô tín ngưỡng của họ, hoặc sự bất đồng ý của họ về những chân lý của đức tin. Đó gọi là lạc đạo - - nghĩa là từ chối hoặc bất đồng ý với một chân lý nào, hoặc là chối đạo - đào ngũ hay rời bỏ tôn giáo chân thật.

Những Ngẫu Thần

Chúng ta có lẽ đã đọc truyện về những dân tộc thời xưa thường hay thờ lạy tà thần - những ngẫu tượng, những vật như bò vàng. Bạn có nhớ việc dân Do Thái thờ bò vàng trong sa mạc trước khi Chúa ban Lề Luật cho họ không? Đó gọi là thờ tà thần, thờ quấy. Chúng ta không còn gặp nhiều người thờ lạy bò vàng nữa, nhưng còn nhiều người đặt những ngẫu tượng trên cả Chúa trong đời của họ.

Không có ngẫu tượng có nghĩa là chúng ta không được yêu mến ai hay vật nào như ta phải yêu mến Chúa. Chúng ta phải thờ phượng và phụng sự Người - - nghĩa là, dâng lên Người một tình yêu đặc biệt, chỉ dành riêng cho Người mà thôi, một tình yêu biết nhìn nhận địa vị tối thượng của Người trên hết mọi tạo vật.

Trong lòng yêu mến của chúng ta đối với Chúa, không được đặt bất cứ vật nào Người đã dựng nên trên Người được. Không được sùng bái một tạo vật nào - nghĩa là kính tôn với một lòng mến đặc biệt mà chúng ta chỉ dành cho Chúa mà thôi. Lòng yêu mến của ta đối với các tạo vật, hay lòng dính bén các tạo vật mà Chúa đã dựng nên, tự nó không phải là sai - như dành một đài thu thanh hay một con chó một chỗ trong đời ta thì không có gì là sai quấy cả.

Nhưng không bao giờ được để những vật ấy ngang hàng với lòng kính mến của ta đối với Chúa, hoặc ngang với những chương trình mà Người có về chúng ta. Chẳng hạn, nếu chúng ta thích một cái máy stêrêô đến độ đã liều đi ăn cắp được một chiếc, là chúng ta đã đặt nó trước Chúa rồi.

Có một trình thuật trong Tin Mừng đã kể rõ về điều này:

Người Thanh Niên Giàu Có

Một thanh niên giàu có được chính Chúa Giêsu mời từ bỏ tất cả các của cải của anh ta và trở nên một môn đệ của Người. Thánh Marcô kể rằng Chúa Giêsu đã nhìn người thanh niên ấy và đem lòng yêu mến anh ta, vì anh ta đã giữ được tất cả những giới răn của Chúa, và còn muốn làm tốt hơn nữa. Chúa Giêsu nói với anh: Anh chỉ còn một điều nữa để làm, hãy đi và bán hết tất cả những gì anh có và đem đến cho kẻ nghèo, anh sẽ có một kho tàng trên Thiên Đàng. Sau đó, hãy đến và đi theo Ta. (Mc 10:21)

Nhưng chàng thanh niên sầm mặt lại, rồi rời bỏ Chúa Giêsu, vì như Tin Mừng nói, anh ta đã có nhiều của cải. Anh ta không thể đi theo Chúa Giêsu vì anh ta yêu mến các tạo vật quá mức. Những vật có thể không phải là những vật ta có hiện nay - không phải đài thu thanh hay máy truyền hình hoặc xe hơi - nhưng dù nó là gì đi nữa, anh ta thấy không thể dứt bỏ nó được. Anh ta đã mất một dịp may để đi theo Chúa Giêsu vì nhiều tạo vật đang tranh giành với lòng mến Chúa trong lòng anh ta.

Cho nên, có nhiều của cải là một nguy hiểm, vì có thể làm lòng chúng ta quay đi xa Chúa. Lòng yêu mến các tạo vật ấy phải là một lòng yêu mến không dình bén, một lòng yêu mến luôn sẵn sàng dứt bỏ những vật ấy khi Chúa đòi chúng ta hy sinh.

Sự Thờ Phượng Đúng Cách

Trong những thời trước Chúa Kitô, dân Do Thái dâng những hy lễ công cộng bằng việc giết một con vật có giá trị, như bê cừu trên bàn thờ để tôn kính Chúa, để nhìn nhận Người là Đấng Tạo Hóa muôn loài, và nhất là để đền tội của họ.

Hy lễ của dân Do Thái có làm vui lòng Chúa, nhưng không bao giờ nó có thể đền tội được. Như chúng ta đã biết, tội của ông Ađam đã đóng cửa Thiên Đàng lại. Không một hy lễ nào của dân Do Thái có thể thay đổi được việc này. Vì tội xúc phạm đến Chúa là Đấng quá cao trọng, và không một của lễ dâng hiến nào của loài người, dù quí giá đến đâu, có thể đền tội được.

Sự bất lực của con người không phải là một cản trở đối với Chúa là Đấng muốn cứu độ con người. Chính Thiên Chúa đã làm người và đã tự dâng hiến mình trên thập giá làm của lễ xứng hợp, dư điều kiện để đền tội cho tất cả mọi người. Hy lễ này được tái diễn lại mỗi ngày trong mọi Thánh Lễ trên hoàn cầu. Hy lễ của Chúa Giêsu trên thập giá là món quà cao trọng nhất mà chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa.

Hy lễ chúng ta dâng trong Thánh Lễ là việc thờ phượng cao cả nhất chúng ta có thể làm. Nó chứa đựng tất cả những gì cần thiết để chúng ta có việc thờ phượng thích hợp nhất dâng lên Thiên Chúa. Trong Thánh Lễ, chúng ta công nhận Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Chúa Tể và là Tôn Sư.

Chúng ta dâng lời cảm tạ Người để đền đáp lại những gì Người đã ban cho chúng ta. Và, để nhìn nhận chúng ta tuỳ thuộc vào Người, chúng ta cầu xin Người tất cả những gì mình cần và những gì để giúp ích cho tha nhân. Sau hết, trong Thánh Lễ, chúng ta dâng lên chỉ duy nhất một điều có thể đền tội xúc phạm đến Chúa, đó là dâng hy sinh của Chúa Giêsu Kitô trên thập giá.

Khi tham dự Thánh Lễ, chúng ta có thể dâng lên Chúa tình yêu của mình và sự thờ phượng mà chúng ta đang nợ Người. Vậy hãy làm việc này thường xuyên hơn.

Những Chữ Nên Biết

Thờ lạy - Thờ tà thần - Lạc đạo - chối đạo (bỏ đạo) - Thờ phượng - Hy lễ - Sự vô đạo - Dị đoan - Cố tình nghi ngờ - Sự mên muội có tội.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Giới răn thứ nhất dạy ta phải làm gì?

Thưa dạy ta phải có lòng đạo, nghĩ alà, phải tin Chúa và kính mến Người, và phụng sự Người là Thiên Chúa độc nhất, là Đấng Tạo Hóa và Chúa tể vạn vật.

2.         Giới răn thứ nhất cấm làm gì?

Thưa cấm sự vô đạo, mê tín dị đoan, và những cử chỉ vô đạo, thêm vào đó, sự chối đạo, lạc đạo, cố tình nghi ngờ, và sự mê muội có lỗi về những chân lý đức tin.

                        Chúc tụng Chúa đi, mọi cộng trình của Chúa,

                       Muôn ngàn đời hãy ca tụng suy tôn Người (Daniel 3:57)

*********************************************************

BÀI 4: DANH THÁNH CHÚA

Ngươi sẽ không kêu danh Chúa, Thiên Chúa của ngươi cách vô cớ.

Giới răn thứ hai cấm mọi sự thiếu tôn trọng hay tôn kính đối với Chúa trong cách sử dụng Danh chí thánh của Người, hoặc đối với các vật thánh. Kẻ nào xúc phạm tới Chúa bằng cách bất tuân giới răn này thì thường là kẻ bất hảo, vì không một ai kính mến Chúa thật, lại dám nghĩ có thể cố tình sử dụng bừa bài Danh của Người. Đối lại, những ai kính mến Chúa thì ra sức chúc tụng Danh Chúa và phạt tạ Người mỗi khi người khác sử dụng Danh Người cách bất kính.

Khi ông Môsê hỏi Chúa về Danh của Người, Chúa tự cho mình cái tên là Ta là Đấng hiện hữu (Exodus 3:14) . Đó là tất cả những gì Người muốn nói. Đối với dân Do Thái, danh này cao trọng đến nỗi họ không dám nói đến, nhưng chỉ gọi Thiên Chúa bằng Chúa mà thôi (God the Lord).

Thật điên rồ biết bao khi người ta sử dụng bừa bãi Danh cực trọng này! Có nhiều cách người ta vi phạm giới răn thứ hai:

Cách thứ nhất gọi là lộng ngôn phạm thượng. Đó là nói năng cách bừa bãi hay chế nhạo chính Thiên Chúa, hoặc nới rộng ra đến Đức Mẹ, các thánh hay các vật thánh.

Cách thứ hai là thề thốt dối trá. Thề thốt dối trá là kêu Chúa làm chứng điều mình nói là thật, trong khi mình lại nói dối. Một lời thề, tự nó không phải là một điều quấy. Chúng ta có thể liên can đến pháp luật và buộc phải thề. Đó là một lý do khá chính đáng để thề; song chúng ta không được thề bằng cách nêu Danh Chúa khi không có lý do nghiêm trọng.

Đã hẳn, một lời thề dối là một tội rất nặng, vì chúng ta kêu Thiên Chúa, là Đấng chỉ là sự Chân Thật và Công Chính vô song, làm chứng cho một lời nói dối của ta.

Ngoài việc tuân thủ một thủ tục pháp lý, người ta thường dùng những cách nói tương tự như: Xin Chúa chứng giám, hoặc Nói thật với Chúa. Nói cho đúng, đây là những lời thề và không được phép sử dụng một cách nhẹ dạ. Nói một cách hời hợt hay vì những chuyện không đâu, thì những điều này cũng là chửi thề và phải nên tránh. (Chúng ta phải phân biệt giữa chửi thề bằng cách dùng từ ngữ thô tục với chửi rủa; chửi thề thô tục có thể là phạm giới răn thứ sáu, còn chửi rủa là phạm giới răn thứ năm).

Giới răn thứ hai còn đòi hỏi ta thi hành những lời khấn và những lời hứa chúng ta đã làm. Lời khấn là một lời tuyên bố long trọng tự buộc mình phải làm một điều gì. Một lời khấn trong dòng tu là một lời khấn mà người ta hứa làm một điều gì vì một lý do tôn giáo. Các tu sĩ nam nữ làm lời khấn sống khó nghèo, sống thanh tịnh và sống vâng lời. Đôi vợ chồng thì làm lời khấn trung tín với nhau.

Những Vật Thánh

Chúng ta không chỉ phải tôn kính Thiên Chúa mà còn phải nới rộng sự tôn kính ấy đến tất cả những đồ vật thuộc về Chúa và là một nơi để thờ phượng. Đó là một tòa nhà được hiến dâng để vinh danh Thiên Chúa, và cung cách của chúng ta trong nhà thờ phải nói lên điều ấy.

Tất cả những đồ vật dùng trong Thánh Lễ như: bàn thờ, chén thánh và dĩa thánh đều là vật thánh, vì chúng được sử dụng trong việc thờ phượng cao quí nhất. Cũng dễ hiểu là tại sao ta tôn kính sách Kinh Thánh, vì nó chứa đựng Lời Chúa. Và cũng như chúng ta cất giữ những hình ảnh và vật kỷ niệm của những người chúng ta yêu mến, chúng ta cũng phải quí chuộng thánh gía, ảnh đeo, và các ảnh tượng như những vật nhắc nhở chúng ta về Chúa và các thánh của Người.

Một số người trong Giáo Hội (Đức Giáo Hoàng, các giám mục, các linh mục, các thầy phó tế, các tu sĩ nam nữ) đã hiến dâng cả đời họ cho Chúa. Vì họ đã thuộc về Chúa một cách riêng biệt, nên chúng ta phải quý trọng và cung kính các ngài.

Chúng ta tỏ lòng yêu mến và cung kính của chúng ta với Chúa qua cách chúng ta đối xử với những vật này và những người này đã thuộc về Chúa.

Hãy nhớ lại Lời Chúa đã nói cho ông Môsê từ bụi gai bốc cháy: Môsê! Môsê! . . . Người không được đến gần đây. Hãy cởi giày ra vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh. (Ex 3:4-5)

Những Chữ Nên Biết:

Tôn Kính - Lời thề - Lộng ngôn - Lời khấn

Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu. (Cv 8:100). Ca ngợi Danh Thánh Chúa từ rạng đông đến lúc chiều tà! (Cv 113)

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Giới răn thứ hai cấm làm điều gì?

Giới răn thứ hai cấm chúng ta làm ô danh Thiên Chúa, nghĩa là sử dụng Danh của Người cách bất kính; là lộng ngôn phạm đến Chúa, đến Đức Nữ Đồng Trinh rất thánh, đến các thánh, hoặc đến những vật thánh; và làm những lời thề dối, không cần thiết, hoặc sai trái mặt nào đó.

2.         Thế nào là thề?

Thề là kêu Chúa làm chứng cho điều chúng ta tuyên bố hoặc hứa. Người thề cách dối trá xúc phạm đến Chúa cách nặng, vì Chúa là sự thánh thiện và chính là sự thật.

3.         Lộng ngôn có phải là một tội năng không?

Vâng, lộng ngôn là một tội nặng, vì nó một sự xúc phạm và một sự khinh khi đến Chúa và các thánh của Người.

4.         Giới răn thứ hai truyền dạy chúng ta phải làm gì?

Giới răn thứ hai truyền dạy chúng ta phải luôn luôn kính trọng Danh Chúa và thi hành những lời khấn và lời hứa mà ta đã tự buộc mình làm.

5.         Thế nào là một lời khấn?

Lời khấn là lời hứa với Chúa về một điều tốt sẽ làm vui lòng Chúa mà ta tự buộc phải làm vì một lý do đạo đức.

**********************************************************

BÀI 5: NGÀY CỦA CHÚA

Thời gian là quý báu. Hầu hết mọi người đều đồng ý về điều này. Nhưng nó không có cùng một ý nghĩa đối với mọi người. Đa số nghĩ rằng họ không bao giờ có đủ thời giờ để làm những gì họ muốn làm.

Cho nên khi Chúa đòi hỏi một phần thời giờ nào của chúng ta cho Người, chúng ta đã có những phản ứng khác nhau. Một số người sung sướng được dâng thời giờ cho Chúa đến đỗi họ tỏ lòng biết ơn Người trong mọi hoàn cảnh. Một số người khác thì không muốn bị quất rầy. Họ thiển cận, vì mọi người cuối cùng đèu thiếu hụt thời giờ, trong lúc chỉ một mình Chúa là có một thế giới vô tận mà Người muốn thông chia cho chúng ta. Như chúng ta đọc trong kinh:

Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.

Giới răn Thứ Ba dạy chúng ta phải dâng một ngày mỗi tuần cho Chúa: Hãy nhờ thánh hóa Ngày của Chúa. Và đã viết:

"Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của Người. Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ kính Giavê Thiên Chúa của người." (Exodus 20:8-10)

Sabat (ngày hưu lễ) là một ngày thánh, và cũng như mọi vật thánh nên được hiến thánh, hay là dâng hiến cho Chúa. Chính Chúa phán rằng trong sáu ngày, Người làm ra trời đất và ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.

Dân Do Thái tuân giữ ngày Sabat (ngày thứ bảy) vào ngày cuối tuần và là ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi. Nhưng người Kitô hữu thì nghỉ Ngày Chúa Nhật, là ngày Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã sống lại từ kẻ chết. Chúng ta dâng Người ngày này, trọn cả ngày này, để tỏ ra rằng chúng ta nhìn nhận Người là ai và để tôn kính và hiển dương Người. Mỗi Chúa Nhật giống như ngày Lễ Phục Sinh, chúng ta cử hành sự Sống Lại của Chúa và sự chiến thắng của Người trên sự chết.

Làm Ngày Chúa Nhật Thành Một Ngày Thánh

Chúng ta mắc Chúa hai món nợ vì Người là Đấng Tạo Hóa và là Đấng Cứu Chuộc chúng ta, và chúng ta cố trả lại... ít nhất là một phần nhỏ nào... bằng cách làm cho Ngày Chúa Nhật thành một ngày thánh thật sự. Trước hết, chúng ta gác lại một bên mọi công việc, mà chúng ta đã chú tâm làm trong suốt tuần, và hãy hướng mắt về Chúa, vì cho dù lao động là điều rất tốt và cần thiết, nhưng đó chỉ là một sự quan tâm đến điều Chúa đã làm ra. . .công cuộc tạo thành. . .chứ không phải là sự quan tâm đến Chúa là Đầng đã làm ra nó.

Vì lý do đó mà chúng ta được truyền dạy không được làm những việc không cần thiết trong Ngày Chúa Nhật và những ngày Lễ. Công việc và những bài vở không cần thiết phải được gác qua một bên. Có một vài công việc cần thiết mà một số người phải làm trong ngày Chúa Nhật, như các bác sỹ và y tá, cảnh sát, tài xế xe công cộng, các nông gia, và những người phải làm việc vì nhu cầu kinh tế cần thiết; ngoài ra đa số các công việc khác phải được gác qua một bên trong Ngày Chúa Nhật.

Giới răn thứ ba đòi hỏi chúng ta một số việc thờ phượng bên ngoài, chứ không chỉ có việc thờ phượng trong lòng hay riêng tư mà thơi. Đó là vì toàn thể con người của chúng ta lệ thuơc Thiên Chúa, cả hồn lẫn xác. Chúng ta cần chứng tỏ sự thờ phượng bên ngồi này cách công cộng, như là một bằng chứng cho toan thể cộng đồng biết rằng, Thiên Chúa có chỗ đứng trước nhất trong đời sống của chúng ta. Chúa muốn lòng sùng đạo của chúng ta phải thấy được; Người muốn được phụng thờ giữa thanh thiên bạc nhật cho cả thế giới đều thấy Sự sùng đạo riêng tư không thể thay thế cho sự sùng đạo công cộng nạy Nếu mọi người đều bỏ qua việc thờ phượng bên ngoài theo tư cách là một cộng đoàn, đức tin của chúng ta sẽ yếu dần, và chúng ta có thể đi xa Chúa.

Của lễ chính yếu mà chúng ta dâng lên Chúa trong ngày của Chúa là sự tham dự hy lễ trên bàn thờ, vì đó là việc thờ phượng cao cả nhất. Đối với một người công giáo, ngày Chúa nhật không có thánh lễ không phải là một ngày thánh. Bỏ lễ Chúa nhật là một tội trọng, nếu không có những lý do chính đáng, như bệnh tật hay thiếu phương tiện di chuyển, hoặc vì nhu cầu công việc đời hỏi gắt gao, mới có chước giảm cho chúng ta.

Chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng cho dù Thánh lễ Chúa nhật là một bổn phận phải làm, nhưng nó cũng là một dịp ban ơn phướng cho chúng ta. Những ai chân thành cố gắng sống Tin Mừng, sẽ không chỉ đi dự thánh lễ, mà cón rước lễ nữa. Không đi dự Thánh lễ Chúa nhật là tự cắt đứt mình với nguồn ơn thánh và các Bí tích xuất phát từ Chúa Giêsu đến với chúng ta, thông qua các bí tích ấy. Vì Chúa Giêsu đã nói: Ta là thân nho, các con là nhành. Ai sống trong Ta và Ta sống trong người ấy, thì sẽ sinh nhiều hoa trái, vì ngoài Ta, các con không thể làm gì được. (Jn 15:5)

Bỏ lễ Chúa nhật là một bất hạnh lớn. Cũng là một điều đáng thương hại nếu chỉ đi dự lễ nhưng lại tránh xa các bí tích Hòa giải và Thánh thể. Điều này chứng tỏ rằng Thánh Lễ Chúa nhật chỉ là một bổn phận phải làm, và không có chút sự sống trong đời sống giữ đạo của chúng ta, và chúng ta không hiểu gì nhiều về sự sống thần linh hoặc cảm nghiệm được nhiều về sự tốt lành của Chúa.

Trong xã hội chúng ta, người ta đã tỏ ra một sự bất kính rất lớn đối với ngày của Chúa, và điều này ngày càng gia tăng.. Phải thừa nhận rằng một vài cửa hiệu và cơ quan, như bệnh viện và sở cảnh sát phải trực trong ngày Chúa Nhật; nhưng bây giờ chúng ta thấy nhiều người đi mua đủ thứ đồ không cần thiết trong Ngày Chúa Nhật tại các trung tâm thương mại, cũng tấp nập như bất cứ ngày nào trong tuần. Đó là dấu chỉ nhiều người đã mất sự liên hệ với khía cạnh thiêng liêng của đời sống. Nếu người ta ý thức được rằng cuộc sống không phải là một cái gì để sống theo kiểu thường lệ, nhưng là một thời gian để trở nên giống Chúa Giêsu, thì có lẽ chúng ta sẽ không có những sự lạm dụng như vậy.

Ngày Nghỉ

Ngày Chúa Nhật, ngoài việc đi dự lễ, còn được coi là một ngày vui mừng và nghỉ ngơi bồi dưỡng. Giải trí trọn vẹn là một thành phần kỳ diệu của sự nên thánh. Ta có thể để giớ đọc những sách hữu ích, để cầu nguyện riêng thêm và làm các việc đạo đức cá nhân, các việc bác ái, chơi thể thao, có những thú tiêu khiển riêng và nghỉ ngơi thật sự.

Hãy sử dụng trí tưởng tượng của chúng ta! Như mẹ Têrêsa Calcutta nói, ta hãy làm một cái gì đẹp đẽ cho Chúa! Hãy làm Ngày Chúa Nhật thật sự là một ngày thánh.

Những Chữ Nên Biết
Sabat - Những ngày lễ buộc.
Đây là ngày Chúa đã làm ra,
Chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. (Tv 118)

Thêm vào những ngày Chúa nhật là những ngày lễ buộc, còn có những ngày khác cũng là những ngày buộc như Chúa nhật. Giáo hội toàn cầu có 10 ngày lễ đặc biệt là ngày lễ buộc sau đây mà nó có thể không rơi vào ngày Chúa nhật:
Lễ Mẹ Thiên Chúa (1 tháng Giêng) - Lễ Hiển Linh (6 tháng Giêng) - Lễ Thánh Giuse (19 tháng 3) - Lễ Thăng Thiên (40 ngày sau PS) - Lễ Mình Thánh Chúa (Thứ Năm đầu tiên sau lễ Hiện Xuống) - Lễ hai thánh Phêrô và Phaolô (29 tháng 6) - Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15 tháng 8 ) - Lễ các Thánh Nam Nữ (1 tháng 11) - Lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8 tháng 12) - và Lw64 Giáng Sinh ( 25 tháng 12).

Trong vài nước, không bắt buộc việc tham dự thánh lễ trong những ngày lễ này. Ơỏ Hoa Kỳ, có vài lễ được cử hành trong Ngày Chúa Nhật và chỉ buộc tham dự thánhlễ trong 6 ngày lễ sau đó, đó là: Lễ trọng kính Đức Maria, Lễ Thăng Thiên ngày thứ Năm, Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Lễ Các Thánh Nam Nữ, Lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên tội và Lễ Giáng Sinh . Dù sao, nếu thuận tiện, chúng ta nên đi lễ trong những ngày lễ khác và những lễ đặc biệt.

Sinh Hoạt
Câu hỏi

1. Giới răn thứ ba truyền dạy chúng ta phải làm gi?
Giới răn thứ ba truyền dạy chúng ta phải tôn kính Chúa trong ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc bằng những việc thờ phượng bên ngoài, và đối với người công giáo, việc thờ phượng quan trọng nhất là tham dự Thánh Lễ.

2. Tại sao chúng ta phải làm những việc thờ phượng bên ngoài?
Thờ lạy Chúa trong lòng chúng ta mà thôi không đủ, nhưng chúng ta phải làm việc thờ phượng bên ngoài như đã truyền dạy, vì toànn thân chúng ta lệ thuộc Chúa, cả hồn lẫn xác. Hơn nữa chúng ta buộc phải làm gương tốt. Và sau hết nếu chúng bỏ qua việc thờ phượng bên ngoài, thì chúng ta có thể mất luôn cả tinh thần đạo đức.

3. Giới răn thứ ba cấm làm những việc gì?
Giới răn thứ ba cấm ta làm những việc xác trong ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.

4. Những việc gì gọi là việc xác? (Việc của các người nô lệ làm xưa)
Việc xác là từ ngữ được đặt ra cho việc lao động chân tay, và những sinh hoạt làm ngăn trở sự nghỉ ngơi phần hồn và phần xác trong ngày của Chúa.

*******************************************************************

BÀI 6: GIỮA LÒNG GIA ĐÌNH

Đôi khi chúng ta chứng kiến các người cao niên với các con cái họ cũng đang tiến đến tuổi già. Dù các cha mẹ có già bao nhiêu, dù các con cái có lớn bao nhiêu, luật của Chúa vẫn còn:

Hãy kính trọng cha mẹ ngươi.

Ngay cản khi không biết đến Giới răn thứ tư này, chúng ta cũng có thể nhận thấy được rằng chúng ta phải có một vài bổn phận đối với cha mẹ chúng ta vì không có các ngài thì sẽ không bao giờ có chúng ta. Các ngài là những người đặc biệt đối với chúng ta; các ngài đã sinh ra chúng ta. Ơn huệ này lớn lao đến đổi chúng ta không có cách nào để đền trả ơn ấy cách trọn vẹn được.

Muốn hiểu rõ giới răn thứ tư đòi hỏi chúng ta phải làm gì, chúng ta cứ nhìn đến những quan hệ trong gia đình. Không có con cái, đôi vợ chồng chỉ là một cặp hôn nhân; với một đứa con, đôi vợ chồng làm thành một gia đình. Đứa con là sự tiếp nối tình yêu của họ với nhau và được bao gồm trong tình yêu ấy. Quan hệ giữa cha mẹ với con cái là một quan hệ bền bỉ, mặc dù họ có già đến bao nhiêu. Chính từ cha mẹ mà đứa con học biết tình yêu là thế nào, và trong tình yêu ấy đứa con có thể học biết Chúa cũng là Người Cha thương yêu nó.

Mỗi người con là một quà tặng quí báu Thiên Chúa ban cho. Nhưng cùng với sự chúc lành bởi đứa con này, các cha mẹ cũng có những bổn phận và trách nhiệm mà họ phải đảm nhận. Chúa ban cho họ quyền bính và bổn phận trật tự trong gia đình, cung cấp của ăn và áo quần, giáo dục và chăm sóc đến hạnh phúc của mỗi thành viên trong gia đình.

Nên Giới Răn Thứ Tư dạy ta phải thảo kính cha mẹ mình. Thảo kính có nghĩa là đánh giá cao, là kính trọng và yêu mến. Một người con thảo kính cha mẹ mình khi người ấy tôn kính quyền bính của các ngài trên họ. Điều này cũng bao gồm sự kính trọng và vâng lời những kẻ mà cha mẹ chúng ta cho quyền chúng ta, chẳng hạn như thầy cô giáo, hay anh chị huynh trưởng hướng đạo, thiếu nhi...

Cung cấp phúc lợi và sự phát triển của các người con để đặt chúng dưới quyền đầy yêu thương của cha mẹ chúng. Đây là một phần trong kế đồ của Thiên Chúa, cung cấp phúc lợi việc tùng phục quyền bính ấy là điều bắt buộc.

Với năm thánh, con cái có thể phát hiện những lỗi lầm và yếu đuối nơi cha mẹ mình; trong chương trình của Thiên Chúa, con cái đôi khi có thể là một sức mạnh lớn để làm tốt và một nguồn ơn thánh cho cha mẹ chúng. Lời cầu nguyện và sự hy sinh để mưu cầu hạnh phúc cho cha mẹ mình luôn luôn được Chúa chúc phúc.

Con cái ngày càng lớn lên thì chúng bớt cần được săn sóc và hướng dẫn, cho đến một thời điểm nào đó chúng có thể tự hướng dẫn cuộc sống của chúng. Như thế thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái phải thay đổi dần dần, và đó là điều hợp lý. Sự tùng phục sẽ trở thành kính trọng đối với sự khôn ngoan của cha mẹ mình, cho đến ngày chúng ta đạt đến tuổi chúng ta không còn bị ràng buộc bởi sự tùng phục, nhưng vẫn còn nhận ý kiến của cha mẹ với lòng biết ơn.

Kẻ nào tôn kính cha mẹ mình sẽ chăm sóc những nhu cầu của các ngài, khi các ngài tới tuổi già. Ở phương diện này, cuộc sống giống như trò chơi ván bập bềnh với đầu ván nặng sẽ nâng cao đầu bên kia. Khi còn nhỏ, người con ngồi ở đầu cao và cha mẹ ngồi ở đầu thấp. Vài chục năm sau, người con giữ tấm ván ở đầu thấp trong khi những cah mẹ trở về già tiếp nhận sự chăm sóc và quan tâm của con cái. Các ngài đã chăm sóc chúng ta; bây giờ chúng ta chăm sóc lại các ngài.

Kinh Thánh có lời dạy rằng: Hỡi con, hãy săn sóc cha con lúc tuổi già, lúc người còn sống, chớ làm người sầu tủi. (huấn ca 3:7)

Và Chúa hứa chúc lành cho những ai tuân giữ giới răn thứ tư:
Hãy kính trọng cha mẹ ngươi, ngõ hầu ngày đời ngươi được kéo dài trên thửa đất Giavê Thiên Chúa của người sắp ban cho ngươi. (Exodus 20:12)

Gia Đình Thời nay

Trong Tông Dụ Familiaris Consortio về Vai Trò Của Gia Đình Kitô Giáo Trong Thế Giới Ngày Nay, Đức Gioan Phaolô đệ nhị đã phân tích rõ ràng gia đình là đối tượng chính trong việc canh tân xã hội thời nay. Gia đình quan trọng đến nỗi chúng ta không thể hy vọng sống còn như là một xã hội, trừ phi gia đình có đời sống lành mạnh và vững chắc. Điều ấy có nghĩa là giữa tất cả những thành viên của gia đình phải có một dây tình yêu mạnh mẽ liên kết toàn thể gia đình lại với nhau và làm thành một gia đình thánh thiện.

Thánh gia thất, là Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse được liên kết với nhau bằng thứ tình yêu thánh thiện này. Chúng ta phải nhìn lên các Ngài như gương mẫu cho đời sống gia đìn hcủa chúng ta.

Trong xã hội của chúng ta, có nhiều ảnh hưởng đang làm suy yếu dây liên kết đời sống gia đình và còn đe dọa hủy hoại nó nữa. Gia đình Kitô giáo sẽ chỉ sống còn với một tình yêu được đổi mới đối với Chúa và tha nhân. Ta phải cùng nhau cầu nguyện cho gia đình chúng ta và cho mọi gia đình nói chung. Với lời cầu nguyện, chúng ta có thể trông cậy được sự chúc lành cho hạnh phúc gia đình và sự đoàn tụ sau này trên quê trời.

Chữ Nên Biết: Kính trọng.
Lạy Cha, Cha truyền chúng con phải tôn kính cha mẹ chúng con; xin lắng nghe lời cầu nguyện chúng con muốn dâng lên Cha cho các ngài. Xin ban cho các ngài được sống lâu dài ở dưới thế này, và gìn giữ các ngài được hồn an xác mạnh. Xin chúc lành cho công việc các ngài và tất cả những gì các ngài làm. Xin trả công cho các ngài gấp trăm lần những gì các ngài đã làm cho chúng con. Xin soi sáng các ngài với tình yêu của Cha, và giúp các ngài chu toàn luật thánh của Cha. Ước gì một ngày kia con có thể là sự an ủi và nâng đỡ của các ngài, ngõ hầu sau khi được hưởng tình thương của các ngài dưới thế, con có thể vui hưởng được sống với các ngài mãi mãi trên trời. Chúng con nguyện xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.

Sinh Hoạt
Câu hỏi:

1. Giới răn thứ tư truyền dạy ta làm gì?
Thưa truyền dạy ta phải yêu mến, kính trọng và vâng lời cha mẹ chúng ta và bất c1ư ai có quyền hành trên chúng ta.

2. Giới răn Thứ Tư cấm ta làm gì?
Thưa cấm ta xúc phạm hay bất tuân cha mẹ chúng ta và các bề trên có thẩm quyền.

 

************************************************************

BÀI 7: QUYỀN CÔNG DÂN: QUYỀN LỢI VÀ NHIỆM VỤ

Là thành viên của một gia đình, chúng ta thấy mình lệ thuộc nhau như thế nào, và kẻ khác lệ thuộc ta ra sao. Chúng ta càng nhận thức được rằng hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người đều có quan hệ với nhau. Người ta sống chung với nhau và hợp thành những xã hội lớn hơn. Cho nên chúng ta không phải là thành viên của chỉ một gia đình mà thôi, mà còn của cả một quốc gia nữa. Cha mẹ có một phần quyền bính nào đó trên chúng ta, và quốc gia cũng vậy. Quyền bính của quốc gia trên chúng ta là bởi Thiên Chúa xuống. Thánh Phaolô nói: Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa... Như vậy ai chống đối chính quyền là chống lại điều Thiên Chúa quy định. (Rm 13:1-20)

Quốc gia (hay nhà nước) có quyền lập những luật pháp và những quy định đúng để cai trị các công dân của mình. Mục đích của nhà nước là đẩy mạnh và bảo vệ hạnh phúc của tất cả mọi thành viên trong xã hội của mình. Chúa Giêsu không bao giờ phủ nhận các quyền của nhà nước; Ngài còn dạy ta phải phải trả cho Chúa những gì thuộc về Chúa, và cho Xê-da (nghĩa là nhà nước) những gì thuộc Xê-da.

Nhà nước không bao giờ có thể đòi hỏi nơi ta sự gì ngược lại với luật Chúa. Nếu nhà nước làm như thế, thì nhà nước sẽ phủ nhận chính quyền bính của mình, vì quyền bính ấy là từ Thiên Chúa mà đến. Chắc bạn có lẽ đã biết rồi, là có nhiều loại chính thể. Nhưng Chúa không bao giờ nói với chúng ta rằng, một loại chính thể nào đó tốt lành hơn loại chính thể khác. Có thể có nhiều cách chính đáng để cai trị một đất nước.

Những Công Dân Tốt

Cũng như nhà nước có những quyền và nhiệm vụ nào đó, thì các công dân cũng vậy. Là người Kitô hữu, chúng ta phải luôn là những công dân gương mẫu, biết tuân phục tất cả những luật pháp và những điều lệ chính đáng, phải nộp thuế để nâng đỡ chính phủ, và khi cần, phải bảo vệ quốc gia chống lại mọi xâm lăng.

Ái quốc là đức tính của một người yêu nước mình. Đức tính này phù hợp với Kitô giáo, vì yêu quê hương mình là một điều tự nhiên và tốt cho chúng ta. Nhưng yêu nước không phải chỉ là cầm cờ vẫy suông! Yêu nước là dấn thân vào công cuộc đẩy mạnh hạnh phúc thật của cả nước và của mọi công dân nước mình.

Là công dân, sự lành mạnh và hạnh phúc của đất nước là mối quan tâm của chúng ta. Chúng ta phải dùng ảnh hưởng của mình để làm cho đất nước được công bình. Sự đóng góp của nguời Kitô hữu vào xã hội là cần thiết. Nếu có một thói làm bất chính hay một luật vô luân, chúng ta phải làm mọi cách trong khả năng của mình để đánh đổ nó. Chúng ta cần hoạt động bên trong cơ cấu của chính phủ để tái lập sự công bằng cho đất nước mình được kiên cố.

Nhưng không phải vì nhà nước tuyên bố một hành động nào đó là hợp pháp mà nhất thiết chúng ta phải coi đó là hợp luân lý. Ngày nay phát sinh một nạn quỷ quái là “sự phá thai được hợp pháp hóa!” Nhà nước đã công bố một hành vi vô luân cách trầm trọng và ác quái là có thể chấp nhận và trong phạm phi của luật.

Chẳng những chúng ta không được ủng hộ một tuyên bố như vậy, mà chúng ta còn buộc phải ra sức làm mọi cách trong khả năng của mình để đánh đổ một điều luật như thế. Chúng ta không được phép dung thứ sự vi phạm luật Chúa. “Vâng lời Chúa là điều tốt cho chúng tôi hơn là vâng lời người ta.” (Acts 5:29)

Ra Khỏi Biên Giới

Là những môn đệ của Chúa Kitô, chúng ta không thể tự cô lập mình bên trong đất nước của mình, nhưng phải quan tâm đến các nhu cầu của mọi dân tộc trên thế giới. Nhiều dân tộc và nhiều đất nước đang bị đàn áp và tước đoạt những quyền lợi của con người vì sự nghèo đói gay gắt và mất quyền tự do. Cũng như có nhiều thể chế chính phủ tốt, thì cũng có những thể chế chính phủ xấu và đe dọa hạnh phúc của các công dân. Những nước giàu có hơn và hùng mạnh hơn phải khuyến khích chính phủ làm những gì có thể để giúp đỡ những người đang sống trong thiếu thốn và nghèo khó.

Và trên hết, chúng ta phải nhớ cầu nguyện cho đất nước và cho các vị lãnh đạo đất nước mình.

Chuyện Thánh Toma More

       Năm 1535, ông Toma More bị xử trảm do lệnh vua nước Anh và triều pháp đìnhcủa ông. Trước kia ông là bạn của vua Henri VIII và còn giữ chức vụ Quan Chưởng ấn, là người thứ hai có quyền sau vua. Ông Toma More đã làm điều gì mà người trước kia là bạn và là người cầm quyền lại ra lệnh xử ông? Chính vì ông đã chọn vâng theo luật Chúa hơn luật con người!

       Vua Henri VIII đã tự tuyên bố mình là thủ lãnh tối cao của Giáo hội Anh quốc. Toma More biết rằng một lời tuyên bố như vậy là sự vi phạm luật Chúa; và do đó, ông đã không chấp nhận điều náy, cho dù từ chối ông sẽ phải chấp nhận cái chết!

       Thánh Toma More là một chính khác vĩ đại và đã tự dấn thân phục vụ đức vua và quê hương mình. Nhưng ông biết rằng Luật Chúa còn trên cả luật vua, và vì thế ông muốn chết như một đầy tớ tốt lành của vua, nhưng trước tiên phải là đầy tớ của Chúa đã.   Bởi đã chịu tử đạo nên Toma More đã được Giáo Hội tuyên phong làm thánh.

***************************************************************

BÀI 8: GIÁO QUYỀN: CHA ÔNG CHÚNG TA TRONG ĐỨC TIN

Ngoài cha mẹ của chúng ta và quốc gia, còn có một xã hội khác cũng có quyền trên chúng ta và đòi hỏi chúng ta phải tuân phục vả trung thành: đó là Giáo hội Công giáo do Chúa Giêsu lập trên trần gian này. Chính Chúa Giêsu đã ban cho Giáo hội sứ mạng cứu các linh hồn, giảng dạy mọi người về những chân lý đức tin, và cai trị Giáo hội như là một xã hội. Thiết lập Giáo hội là phương thế Chúa Giêsu đã chọn để ở lại với chúng ta luôn mãi, và để dẫn dắt chúng ta về quê Trời là mục đích sau cùng của đời sống chúng ta.

Đấng Đại Diện Của Chúa Kitô

Chính Chúa Giêsu là đầu hay là Đấng thống trị Giáo hội. Ngài là Đấng ban quyền bính cho Đức Giáo Hoàng để cai trị Giáo hội thay mặt Ngài. Chính với thánh Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi, Chúa Giêsu đã nói: Thầy sẽ ban cho con chìa khóa Nước Trời, và những gì con trói buộc dưới đất, thì sẽ bị trói buộc trên Trời; và những gì con tháo cởi dưới đất, thì trên Trời cũng sẽ tháo cởi. (Mt 16:19)

Có tất cả 264 vị Giáo hoàng, kể cả vị đường kim, Đức Gioan Phaolô đệ nhị, và quyền bính của thánh Phêrô đã truyền cho từng vị một cho đến ngày nay.

Sứ mạng của Giáo hội là rao giảng Tin Mừng và dẫn tất cả muôn dân về sự thánh thiện. Đức Giáo hoàng có trách nhiệm đặc biệt trông coi sao cho sứ mạng này được hoàn tất. Chính vì mục đích đó mà Đức Giáo hoàng và các giám mục, là những kẻ kế vị các thánh tông đồ, có quyền bính để lập các giới răn hay các luật lệ và kỷ luật của Giáo hội.

Vị Giám mục là quyền bính chính trong giáo phận của mình bao lâu ngài còn cai trị trong sự liên kết với Đức Giáo Hoàng. Ngài ủy nhiệm một số quyền hành của ngài cho các linh mục trong giáo phận của ngài. Các linh mục, các giám mục và Đức Giáo hoàng, tất cả đều là những dụng cụ của Chúa Kitô, là Đấng đang cai trị Giáo hội của Ngài thông qua những thừa tác viên này đã được truyền chức thánh.

Giáo hội được cai trị cách chu đáo hầu có thể được nhận ra bởi sự duy nhất trong đức tin và trong việc thờ phượng của mình.

Duy Nhất Trong Đức Tin

Để bảo đảm đức tin được dạy dỗ một cách đúng đắn, và Tin Mừng được rao giảng cho tất cả mọi người cách không sai lạc, Đức Giáo hoàng có quyền tuyên bố ra chính những gì phải được giảng dạy. Ngài trả lời về những vấn đề luân lý và giải đáp mọi vấn đề hiện đang có ảnh hưởng đến đời sống của người Kitô hữu. Ngài làm công việc này trong các diễn từ, các thông điệp, các thư và các tuyên ngôn của ngài. Các giám mục cũng làm như vậy trong phạm vi lãnh vực giáo phận của các ngài, thường là với các thư mục vụ được đọc trong nhà thờ.

 

Duy Nhất Trong Các Bí Tích

Nguyên vì Giáo hội chu toàn vai trò thánh hóa con người nhờ các bí tích, cho nên các bí tích ấy cần phải được cử hành một cách kiên định trong mọi thời và ở mọi nơi. Chính Giáo hội mới qui định những điều kiện cần thiết để trở nên một thành phận của Giáo hội và để còn thuộc về Giáo hôïi.

Mẹ Thánh Giáo Hội

Giáo hội thường được nhắc đến như là Mẹ Thánh Giáo hội. Điều này nói lên thái độ chúng ta phải có đối với giáo hội và các vị lãnh đạo. Cũng như mọi người mẹ, Giáo hội hiện diện là để ban cho ta sự sống và chu cấp phúc lợi cho ta, và giúp ta phát triển cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng của đời ta. Chúng ta phải có sự tôn kính lớn lao và yêu mến nhiều đối với Giáo hội, vì Chúa Giêsu đã ban cho ta Giáo hội như là một dấu hiệu của tình Ngài yêu thương chúng ta.

Những Chữ Nên Biết : Vị đại diện của Chúa Kitô - Các giới răn

Những Giới Răn Của Giáo Hội:

1.         Giữ ngày kỷ niệm Chúa sống lại như một ngày thánh thờ phượng Chúa bằng cách tham dự Thánh lễ mọi ngày Chúa Nhật và những ngày lễ buộc, tránh những sinh hoạt có thể cản trở sự canh tân linh hồn và thể xác chúng ta trong ngày của Chúa.

2.         Sống đời sống bí tích; rước lễ thường xuyên và lãnh nhận bí tíchc giao hòa đều đặn - tối thiểu, phải lãnh nhận bí tích giao hòa một năm ít là một lần (việc xưng tội hàng năm chỉ bắt buộckhi nào ta có tội trong). Cũng đòi tối thiểu việc rước lễ một năm ít nhất là một lần, trong thời gian giữa Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay và Lễ Chúa Ba Ngôi.

3.         Học giáo lý Công giáo để lãnh nhận bí tích thêm sức, và sau đó tiếp tục học tập và xúc tiến sự nghiệp của Chúa Kitô.

4.         Tuân giữ luật của Giáo hội về Hôn phối, giáo dục con cái theo lẽ đạo bằng gương sáng và lời nói, cho con cái học trường đạo của giáo xứ và cho học các lớp giáo lý.

5.         củng cố và yểm trợ Giáo hội - cộng đoàn giáo xứ của mình và các linh mục các xứ đạo, Giáo hội toàn cầu và Đức Giáo hoàng.

6.         Làm việc đền tội, gồm có các việc kiêng thịt và ăn chay trong những ngày chỉ định.

7.         Tham gia tinh thần thừa sai và công cuộc tông đồ của Giáo hội.

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Tại sao Giáo hội có quyền lập luật và các giới răn?

Thưa vì giáo hội đã lãnh nhận quyền ấy từ Chúa Giêsu ngang qua các tông đồ của Ngài. Cho nên bất cứ ai bất tuân giáo hội là bất tuân chính Chúa Giêsu.

2.         Ai có thể làm luật và các giới răn trong giáo hội?

Trong giáo hội, Đức Giáo hoàng và các giám mục là những người kế vị các tông đồ có thể làm luật và các giới răn, vì Chúa Giêsu đã phán với các ngài rằng: Ai nghe các con là nghe Thầy; và ai chối bỏ các con là chối bỏ Thầy. (Lc 10:16)

***************************************************************

BÀI 9: TÔN TRỌNG SỰ SỐNG

Giới răn thứ năm là: Ngươi sẽ không giết người.

Con người là một tạo vật gồm có thể xác và linh hồn. Một số người do cắm cúi làm ăn như thể không bao giờ họ nghe nói đến linh hồn. Cũng có thể gặp một số người, tuy ngày nay chỉ là một số nhỏ, lại khinh thường thể xác và ra sức sống gần như các thiên thần, là những thần linh đơn thuần (nghĩa là chỉ có phần tinh thần mà không có thể xác). Sự thật là cả thể xác lẫn linh hồn đều cần thiết cho con người. Và dù thể xác và linh hồn phải lìa nhau, các phần này đã được định trước là sẽ kết hợp lại với nhau trong lần sống lại ngày sau hết.

Vì chúng ta có một linh hồn nên chúng ta được gọi để thông chia vào sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta gọi sự sống này là sự sống siêu nhiên, vì nó vượt trên sự sống tự nhiên của chúng ta ở dưới thế này.

Giới răn thứ năm cho chúng ta về trách nhiệm phải chăm sóc đến cả sự sống tự nhiên và siêu nhiên mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và mọi người.

Quyền Được Sống

Vì Chúa là Đấng ban sự sống, nên không một người nào hay một nhóm người nào có quyền cất đi sự sống con người vô tội. Làm như vậy là giết người. Và giết người là một tội ác nghiêm trọng và là một tội rất nặng, một trọng tội. Nếu ta chú ý quan sát, ta có thể thấy nhiều người nghĩ họ có thể cầm nắm vấn đề sống chết trong tay họ. Nhiều người không hay biết, hoặc chấp nhận việc giết hàng triệu em bé chưa sinh ra bị giết hàng năm.

Một lãnh vực khác đang coi nhẹ việc tôn trọng sự sống con người, đó là cái mà người ta gọi là làm chết êm dịu hay giết vì nhân đạo. Điều này không bao giờ có thể bào chữa được. Một bệnh nhân già cả phải được điều trị cách bình thường để cứu sống họ. Làm thể khác là phạm tội giết người. Điều trị một cách đặc biệt lại là một vấn đề khác - điều này không có tính cách bắt buộc. Ngày nay ngày càng có thêm áp lực từ nhiều lãnh vực để làm chết êm dịu. Con người muốn nắm lấy vận mệnh sự sống, lúc bắt đầu cũng như lúc chấm dứt, trong tay họ.

Giới răn thứ năm nói rõ ràng, cất đi sự sống vô tội là làm một điều quấy. Một số người chủ trương rằng mọi sự giết chóc đều là sai quấy và không bao giờ được phép làm, dù bất cứ vì lý do gì. Nhưng có vài hoàn cảnh làm cho việc giết chóc không giống như tội giết người. Những ví dụ hiển nhiên nhất của việc làm này là giết đối thủ để tự vệ, lên án tử hình và tiến hành chiến tranh chính đáng.

Giáo hội không bao giờ lên án những hành động này là tội giết người. Nhưng vì mọi hành động cất đi sự sống con người là một vấn đề nghiêm trọng, nên chúng ta phải luôn luôn quay về Giáo hội để tìm được sự hướng dẫn trong lãnh vực này.

Giết người không chỉ là vi phạm giới răn thứ năm. Gây thương tích nặng cho ai vì lái xe cẩu thả là một tội trọng. Không quan tâm đến việc làm của chúng ta để có thể gây thương tích cho người khác là làm điều sai quấy rồi.

Tự sát, hành động tự giết mình, luôn luôn là sai quất. Nếu một người tự sát mà không hoàn toàn tỉnh trí và ưng thuận, thì trách nhiệm của họ trước mặt Chúa có phần giảm bớt đi. Chỉ một mình Chúa là chủ tể sự sống của chúng ta, và chúng ta có một giá trị quá cao quí trước mặt Nguời. Nếu chỉ không quan tâm đủ để chăm sóc bản thân mình mà thôi, thì cũng đã đủ có lỗi, chẳng hạn như không chịu ăn uống, thể dục và nghỉ ngơi cho đúng mức. Chúng ta phải tránh liều lĩnh làm những điều phô trương điên rồ khi người khác thánh thức ta làm, hay vì ham muốn khoe mình. Chúng ta phải bảo vệ khỏi mắc bệnh hoạn nhờ thói quen sống lành mạnh và ăn mặc sạch sẽ. Cần phải tránh sự thiếu kiên nhẫn và vô ý tứ tự nó có thể gây ra tai nạn hay thương tích.

Ăn uống vô độ lượng là một tội, vì làm hại đến thân thể; cũng như dùng thu61c quá liều lượng và sử dụng ma túy. Nhưng ăn uống ít hơn nhu cầu một chút lại là một việc tự kiềm chế nho nhỏ, nhưng hữu hiệu trên thân thể chúng ta, thì thành hình thứ hy sinh tuyệt hảo. Như chúng ta đã thấy, một vài hy sinh hãm mình là điều cần thiết cho đời sống Kitô hữu.

Những Chữ Nên Biết

Giết ngươì - tự sát.

Ai ghét anh em mình là kẻ sát nhân, và các con biết rằng không có sự sống đời đời trong lòng kẻ sát nhân. (1 Jn 3:15)

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Giới răn Thứ Năm cấm ta làm điều gì?

Giới răn Thứ Năm cấm chúng ta làm hại đến sự sống, dù là sự sống tự nhiên hay siêu nhiên, của người đồng loại cũng như của chính mình. Giới răn này cấm sát nhân, tự sát, đánh nhau không có lý do, chửu rủa và nêu gương mù.

2.         Tự sát có phải là một tội không?

Tự sát là một tội cũng như sát nhân, vì chỉ có Chúa làm chủ sự sống của chúng ta cũng như Người làm chủ sự sống của người đồng loại chúng ta vậy.

************************************************************

BÀI 10: BÁI ÁI ĐỐI VỚI MỌI NGƯỜI

Luật yêu mến - Hãy yêu mến người đồng loại như chính mình ngươi - có liên quan rất gần với những điều luật do giới răn Thứ Năm mà ra. Chúng ta đã thấy nhiều vì phạm rành rành và thô bạo đối với giới răn này. Có những xúc phạm khác thông thường hơn, không làm người ta bị tổn thương về thể xác, nhưng sự tai hại vẫn những điều luật do giới răn Thứ Năm mà ra. Chúng ta đã thấy nhiều vì phạm rành rành và thô bạo đối với giới răn này. Có những xúc phạm khác thông thường hơn, không làm người ta bị tổn thương về thể xác, nhưng sự tai hại vẫn có. Những hành động như thế, người Kitô hữu cũng nên tránh xa.

Thiện Chí

Chúa Kitô đã rao giảng phải có lòng tốt đối với mọi người, đối với bạn hữu cũng như kẻ thù. Điều này được gợi ra trong lệnh truyền: Hãy yêu mến những kẻ thù của ngươi. Thật khó mà không đánh trả khi chúng ta bị đả thương. Đối đáp lại bằng tình thương lại là việc khó hơn nữa.

Nhưng làm sao ta biết được là ta yêu thương những kẻ thù của ta? Ta có phải yêu mến họ bằng những tình cảm của ta không? Ta có phải rung động đồi với kẻ thù của ta không? Không nhất thiết! Chúng ta không bị coi là có lỗi vì không có thứ tình cảm ấy, nhưng chúng ta có trách nhiệm phải có thiện chí.

Tôi sẽ biết tôi có yêu mến kẻ thù tôi nếu tôi muốn điều tốt cho họ. Ta phải muốn điều tốt cho mọi người; ý muốn của tôi, nơi tôi, mong muốn điều tốt hay điều xấu cho kẻ khác, là tâm điểm phát xuất tình thương của tôi. Tôi có thể không thích kẻ thù của tôi, nhưng nếu tôi mong muốn điều tốt và đối xử tốt với họ, là tôi chu toàn lời dạy của Chúa Kitô: Hãy yêu mến kẻ thù của ngươi.

Môät điều ngăn cản thiện chí là sự nóng giận. Khi chúng ta giận giữ, chúng ta nói và làm những điều để trả thù, để làm tổn thương tha nhân. Cho nên ơn huệ có miệng lưỡi, thật có thể kinh khủng biết bao! Chúng ta có thể biến nó thành một vũ khí bằng cách hò hét một người nào, bằng cách chửi bới họ, hay chửi thề. Tất cả những điều ấy đều ở dưới điều răn thứ năm, là điều răn cấm cố ý làm tổn thương một người nào đó bằng cách này hay cách khác.

Điều khác liên hệ rất gần với sự nóng giận là lòng thù ghét. Thù ghét ai là mong muốn điếu ác cho họ, hoặc ước muốn họ đừng có trên đời này nữa! Tâm tình này có thể nảy sinh trong lúc tức giận cực độ, nhưng nó còn tồn tại mãi mãi sau khi cơn giận dữ đã nguôi đi, vì lòng thù ghét cũng như lòng yêu mến, là một điều có ý muốn, tuy lòng thù ghét đối nghịch hoàn toàn với lòng yêu mến. Đây là ác ý, ác tâm, là mong muốn người khác bị tổn thương và đau khổ, có lẽ ngay cả việc giết chết nữa.

Thánh Gioan viết: Ai ghét anh em mình là một kẻ sát nhân. (1 Jn 3:15) Thật thế, ta có thể giết chết và chôn người anh em trong lòng ta mà không làm gì nguy hại đến họ, nhưng vì lòng thù ghét của chúng ta, chúng ta đã là kẻ sát nhân rồi!

Có lẽ tất cả sự ấy có thể phát khởi, vì chúng ta đã mất bình tĩnh và bắt đầu nuôi dưỡng ác ý trong lòng. Cái nguy hiểm của sự nóng giận là chúng ta làm nhiều điều cách mù quáng, mà không ý thức cáci ác ý trong tâm tư của chúng ta, bất kể đến sự thù nghịch gay gắt mà chúng ta có thể gây ra bởi những lời châm chích của mình, có lẽ nó kích động đến độ sẽ đưa đến ẩu đả. Chúa Giêsu làm chúng ta không hoài nghi gì nữa về sự quất quá nóng giận trong Bài Giảng Trên Núi khi Ngài nói: Anh em đã nghe đến giới răn đã dạy người xưa rằng: Ngươi sẽ không giết người; ai giết người sẽ bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ai giận anh em mình, thì cũng đáng bị đưa ra tòa rồi. Ai mắng anh em mình là đố ngốc, thì cũng đáng bị đưa ra tòa. (Mt 5:21-22)

Khi ai làm tổn thương ta một cách nào đó, chẳng nhũng ta buộc phải kiềm chế mình để không nói trả lại, mà còn không được nuôi dưỡng tâm tình xấu đối với họ. Ta phải làm một cái gì tích cực. Chúa Giêsu nói: Hãy yêu mến kẻ thù và làm ơn cho kẻ oán ghét mình; hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình. (lc 6:27-28) Và Thánh Phaolô viết: Hãy chúc lành cho những kẻ bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa. Đừng lấy ác báo ác. (Rm 12:14-15)

Đây là một suy tư có thể cất đi phần cay đắng trong những lời nói nặng nề và cách xử đãi tàn tệ: Hãy cố gắng dâng lên Chúa đau khổ ấy để xin ơn cứu độ cho kẻ làm tổn thương ta. Dù bạn cảm thấy nào, chắc chắn bạn cũng muốn gặp lại kẻ thù của bạn trên thiên đàng.

Hơn nữa, nếu có dịp, bạn hãy tỏ sự tôn trọng và quan tâm đối với kẻ thù bạn. Bỗng nhiên bạn có thể nhìn thấy sụ vật xuyên qua con mắt của Chúa Giêsu. Biết bao nhiêu lần Ngài đã bị nguyền rủa! Chắc chắn là Ngài cảm thấy nhức nhối, như mọi người khác... và có lẽ còn đau đớn hơn nữa... nhưng Ngài biết là linh hồn của những người nguyền rủa Ngài là những tạo vật kỳ diệu, và bất luận họ xấu đến đâu, họ cũng còn được kêu gọi vào trong đời sống mới của ân sủng.

Không phải mọi sự nóng giận đều là xấu cả. Có những nóng giận chính đáng; chẳng hạn như Chúa Giêsu xua đuổi những người cho vay tiền ra khỏi đền thờ, hoặc khi Ngài quở trách những kẻ giả hình. Sự nóng giận chính đáng có thể giúp bạn đừng lên đấu tranh cho quyền lợi của những kẻ áp bức, hay bảo vệ những người phải chịu sự gây hấn vô cớ. Nó có thể giúp chúng ta nói lên thay cho những kẻ những kẻ không có tiếng nói... Kẻ đó là chính chúng ta hay là người khác. Sau kết, sự nóng giận thánh thiện có thể thúc đẩy chúng ta đấu tranh cho một chính nghĩa rất quan trọng... như đấu tranh cho phong trào đòi quyền sống để chấm dứt tội ác của việc phá thai được luật pháp công nhận.

Gương Mù

Có một trường hợp đặc biệt của ác ý mà Chúa Giêsu đã kịch liệt lên án: Đó là gương mù. Đó là một gương xấu hoàn toàn có ý thức và cố ý, hoặc sự khuyến khích có ý dẫn dụ một ngưòi khác phạm tội. Có lẽ đó một tội nặng nhất trong các tội, vì nó đưa một người nào đó đến chỗ hư mất đời đời. Không thể có một sự thiếu bác ái nào lớn hơn.

Một hành động tội lỗi có thể dẫn người khác phạm tội, nhưng một điều gì nói ra hay làm với ý thức rằng nó có thể làm suy yếu đức tin, hoặc phá hủy đời sống thiêng liêng của kẻ khác là gương mù. Kẻ làm gương mù sẽ chịu trách nhiệm về tất cả những tội mà những người khác bị xúi phạm. Chúa Giêsu phán: Ai làm cho một trong những kẻ bé mọn đang tin vào Ta sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó, mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn! (Mt 18:6)

Xin Tha Cho Chúng Con, Như Chúng Con Cũng Tha Cho Kẻ Khác

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện xin Cha Ngài 'tha cho cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm'. Là những môn đồ của Chúa Kitô, ta phải sẵn sàng tha thứ cho những ai làm mất lòng ta. Và ta cũng phải kiềm chế tư tưởng và hành động của ta để không làm tổn thương người khác về phần xác cũng như phần hồn.

Những Chữ Nên Biết : Gương mù - Nguyền rủa

Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay là nói thóa mạ, và hãy khử trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại phải đối xử tốt với nha, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô. (Eph. 4:31-32)

Phần Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Gương mù Là gì?

Thưa là dẫn đưa người khác phạm tội bằng một hành động nào của ta.

2.         Giới răn Thứ Năm dạy ta phải làm gì?

Giới răn Thứ Năm truyền ta phải có thiện chí đối với người kah1c, kể cả những kẻ thù ghét ta, và phải bồi thường về mọi sự thiệt hại về phần xác hay phần hồn ta làm cho tha nhân.

**************************************************************************

 

 

BÀI 11: NGỌN LỬA THIÊNG

Mọi người đều được dựng nên theo hình ảnh Chúa và giống Chúa. Và tất cả mọi người trong chúng ta đều được Chúa biết và yêu thương từng người một. Chính sự liên hệ đặc biệt này mà mỗi chúng ta có với Chúa làm nền tảng cho chức vị của chúng ta là những con người.

Mọi người có chúc vị là con cái của Chúa và như vậy, mỗi người đáng được ta kính trọng, vì được Thiên Chúa dựng nên để được Người yêu mến và có sự sống của Chúa trong mình. Dĩ nhiên, chính chúng ta đều có chức vụ ấy và như thế, chúng ta cũng phải có sự kính kính trọng đối với chính mình - tức tự kính trọng.

Để duy trì sự tự kính trọng mình và tôn trọng người khác, chúng ta phải làm những gì mình biết là phải, và tránh những gì là trái. Muốn làm được như vậy, thì cần phát triển sự tự chế và khắc phục những yếu đuối của mình.

Hai Giới Răn Thứ Sáu và Thứ Chín:

Ngươi sẽ không phạm tội ngoại tình, và
Ngươi sẽ không ao ước vợ chồng của tha nhân -- đòi chúng ta sự tôn trọng phải có đối với chính bản thân và đối với tha nhân, và một cách đặc biệt đối với những điều thuộc về đời sống hôn nhân và gia đình.

Hãy Sinh Hoa Trái

Khi hạt giống được gieo xuống đất, có vài luật chi phối sự phát triển của nó, và nếu các điều kiện đều thuận lợi, nó sẽ mọc thành thứ cây nào rõ ràng, dù nó là cây hướng dưong hay ô-liu. Rồi nó sẽ sinh hạt giống tùy theo loại của nó và nó sẽ nhân giống nó ra - nghĩa là sinh sản hoặc gia tăng. Chúa thấy điều này là rất tốt lành; chính là cách Người đã thiết kế cho các sự vật.

Động vật cũng sinh sản, cũng như các giống hoa, khi gặp điều kiện thích hợp, mọi sự sẽ tiến hành theo một vài định luật, và sẽ không có sự lạm dụng nhưng năng lực này. Chúng ta không cần giảng dạy cho các cây cỏ và loài vật về sự tiết chế, vì chúng hành động theo bản năng.

Nhưng con người thì khác. Như loài cỏ cây và loài động vật, con người cũng sinh sản và gia tăng tràn ngập trái đất. Đó là điều Chúa muốn, vì Kinh Thánh nói: Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Người, theo hình ảnh Thiên Chúa, Người đã tạo dựng nên nó, là nam là nữ, Người đã tạo dựng nên nó. Chúa chúc lành họ và nói: Hãy sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy; hãy làm đầy trái đất... ( Gen 1:27-28 )

Nhưng khác với tất cả tạo thành hữu hình còn lại, con người không sinh sản một cách mù quáng, dựa theo mùa, như cây cỏ, hoặc theo bản năng như các động vật. Những tạo vật này không có tự do để quyết định về khả năng sinh sản của chúng. Con người thì có tự do. Đây là một diện của nhân phẩm. Nó cũng có thể là một nguồn sinh ra nhiều sự lạm dụng.

Con người có thể có những ham muốn rất mạnh mẽ, nhưng con người không bị các bản năng của nó lôi cuốn một cách mù quáng. Cây cỏ và loài vật không gặp khó khăn trong việc sử dụng thích đáng những khả năng của chúng. Còn con người, việc sử dụng này không thuộc về bản năng. Con người được gọi hợp tác với Thiên Chúa trong một kế đồ không có ghi trong các yếu tố di truyền của nó hay trong máu nó, nhưng được Chúa mạc khải trong các giới răn của Người... cách riêng trong hai giới răn thứ sáu và thứ chín.

Nhiều người xem những giới răn này như những hạn chế, nhưng chúng ta có thể nghĩ về những giới răn này như thế này. Hạt giống đang trở nên cây hướng dương, là bởi một kế hoạch sinh hóa do Thiên Chúa vạch ra hướng dẫn đến sự hoàn thành của nó. Và tuy chúng ta không thấy kế hoạch ấy, Chúa là Đấng cầm giữ ngọn lửa thiêng của mọi sự sống, cũng có một kế hoạch về sụ hoàn thành của chúng ta, và chỉ có Người mới có đủ khôn ngoan để hướng dẫn cách sử dụng khả năng sinh sản của con người. Nếu Người có thể làm cho cây hướng dương đạt đến sự đẹp đẽ toàn diện của nó từ một hạt giống, thì Người cũng có thể dẫn đưa một con người tới sự sống sung mãn bởi những lề luật Người ban cho ta, tuy ta chỉ có thể thấu hiểu được một phần nào kế đồ của Người thôi.

Khi bạn sắp gieo một hạt giống xuống đất và tưới nước cho nó, bạn không cần phải nhắc nó phải trông cậy vào Chúa; hạt giống biết tất cả những gì phải làm, nếu có thể nói như vậy. Chỉ con người mới cần được nhắc nhở hãy trông cậy vào Chúa!

Những Luật của Sự Sống

Những điều đã nói trên là để vạch ra cho thấy sự đẹp đẽ và giá trị đúng của những khả năng sinh sản của con người. Giới răn thứ Sáu hướng dẫn ta trong hành động, còn Giới răn thứ Chín hướng dẫn ta trong tư tưởng và lòng ước ao. Điều quan trọng phải nhớ là mọi hành động của ta đều bắt đầu từ tâm trí. Cho nên chúng ta phải thấy tính cách quan trọng của việc ướng dẫn tư tưởng và lỏng ao ước của ta cho xứng đáng.

Nói cách đơn giản, những thú vui và niềm hoan lạc do giới tính con người đem lại, được dành riêng cho hôn nhân. Sử dụng những năng lực này ngoài hôn nhân là một tội nặng. Chúa đặt kế hoạch ban cho những ai lập gia đình được thông dự thật sự vào sự tạo thành một con người mới; Chúa tạo dựng linh hồn, và cha mẹ nhân loại giúp nặn ra thân xác. Thế thì việc Chúa đặt những qui luật chung quanh việc sử dụng những năng lực này để bảo vệ sự sử dụng đúng đắn của nó, có vẻ vô lý chăng? Giới tính là một cái gì chính yếu đối với bản tính con người; vậy sử dụng giới tính của ta đúng theo ý Chúa, là Đấng đã dựng nên và yêu mến bản tính của ta không phải là điều quan trọng sao?

Tình yêu giữa một người nam và một người nữ, đã sinh kết quả và được Chúa chúc lành trong hôn nhân, sẽ đem lại một đứa con trong gia đình, nơi đớ đứa bé sẽ được sự chăm sóc và thương yêu sâu sắc của cả cha và mẹ nó. Chính để bảo đảm những điều kiện ấy cho những đứa trẻ, mà Chúa đã thiết định rằng, giới tính nhân loại chỉ được hưởng trong hôn nhân mà thôi, và chỉ khi ấy cũng theo cách thức phù hợp. Xã hội đầy dẫy những vấn đề, những tội ác và những bệnh tật, do không quan tâm đến sự dìu dắt khôn ngoan của Thiên Chúa và quyền bính của Người.

Việc sử dụng thích hợp hay sự kiềm chế những năng lực giới tính của chúng ta, được gọi là đức thanh tịnh, nó là một nhân đức hay là một tập quán tốt. Nó đòi hỏi tập luyện sự từ bỏ mình và sự tự chế. Một người thanh tịnh sẽ tránh những gì có thể là một dịp tội cho họ, như là những sách báo và phim ảnh không đứng đắn. Sự thanh khiết của chúng ta là một cái gì phải được bảo vệ. Để bảo toàn nó, chúng ta không được phạm một hành động nào trong tư tưởng, hay trong việc làm có tính cách nhơ nhuốc và làm ta hổ thẹn.

Điều Chúa đòi hỏi nơi chúng ta là sự thanh khiết trong lòng và torng linh hồn, để phù hợp với chức vụ của chúng ta là những con cái của Người.

Những Chữ Nên Biết
Đức thanh tịnh -- Sự dâm ô

Đức khiết trinh chuẩn bị tâm hồn để yêu mến, và đức mến củng cố linh hồn trong đức khi1êt trinh (Hồng y Newman)

Truyện Thánh Maria Gioretti
Năm 1950, tại Roma, một thiếu nữ đã chết vào tuổi 12 được vinh thăng lên bậc hiển thánh. Em bị đâm chết vì đã từ chối không chịu phạm một hành động dâm ô. Tên em là Maria Goretti. Maria sinh ra tại làng Ancôna nước Ý, năm 1890. Bố em là một tá điền. Gia đình em phải dời chỗ ở nhiều lần để kiếm kế sinh nhai. Bố em qua đời khi em lên 10 tuổi. Maria không bao giờ được may mắn cắp sách đến trường. Em klhông bao giờ được tập đọc và tập viết. Nhưng em được mẹlà bà Assunta dạy dỗ rất kỹ lưỡng về đức tin công giáo. Em rước lễ lần đầu khi lên 12 tuổi. Me em thường khuyên khi có tất cả các con bà trước mặt: Không bao giờ, dù bất cứ giá nào, không bao giờ các con được phạm tội. Maria không bao giờ quên lời dặn đó.

Sau khi rước lễ lần đầu ít lâu, một chàng thanh niên 19 tuổi đang làm việc cho gia đình của Maria, muốn phạm tội dâm dục với em và cầm dao dọa nạt em. Khi thấy Maria không chiều ý anh ta, anh ta đã đâm Maria chết.

Nhiều năm sau, người đàn ông đã giết Maria ăn năn trở lại và sống một đời sống đạo đức. Chính anh ta đã có mặt trong những người xin cho Maria được phong thánh.
Maria, một vị thánh lớn về đức khiết trinh cho thời đại khó khăn của chúng ta.

Sinh Hoạt
Câu hỏi

1. Giới răn thứ Sáu cấm ta điều gì?
Giới răn thứ Sau cấm mọi thứ dâm ô, nghĩa là những hành động, lời nói, cái nhìn, sách vở, hình ảnh và biểu tượng vô luân.

2. Giới răn Thứ Sáu dạy ta điều gì?
Giới răn Thứ Sáu dạy ta phải thánh thiện trong thân xác, mà cư xử với chính bản thân ta, và với người khác bằng một sự cung kính tối đa, coi đó là những công trình của Chúa và là những đền thờ Người ngự bằng sự hiện diện và ân sủng của Người.

3. Giới răn thứ Chín cấm ta điều gì?
Thưa cấm ta có những tư tưởng và những ước muốn ô uế.

4. Giới răn Thứ Chín dạy ta điều gì?
Thưa dạy ta phải thực hành sự trinh khiết linh hồn hoàn toàn, và có một sự cung kính tối đa với sự sống gia đình.

**********************************************************************

BÀI 12: QUYỀN SỞ HỮU

Bạn thấy có rất ít sự vật chung quanh bạn mà không có ai làm chủ. Những sự vật chung quanh chúng ta có thể thuộc quyền sỏ hữu của một nhóm người, như một công ty, một cộng đoàn lớn hơn một thành phố, một tiểu bang hay một quốc gia, hoặc một cá nhân nào đó. Mỗi người có quyền làm chủ một tài sản; các đoàn thể cũng có một quyền tương tự. Điều này đòi ta phải tôn trọng quyền sở hữu; mọi người có quyền được của cải của họ an toàn, không bị trộm cắp, bị hư hại và bị tiêu hủy đi.

Những quyền này được bảo vệ bởi Giới răn thứ Bảy: Ngươi sẽ không trộm cắp.

Giới răn này qui định cách thức chúng ta xử lý những của cải hay sở hữu của người khác. Giới răn này cấm sử dụng cách bất công những gì thuộc về người khác. Nếu tôi lấy một dĩa bát mà không hỏi ý anh, thì tôi phạm tội ăn cắp. Để khỏi mắc tội này, tôi phải trả lại những gì tôi đã ăn cắp, hoặc thay thế bằng một cái khác, nếu có thể được, cũng như tôi phải đi xưng tội nếu đó là một vấn đề quan trọng. Nếu tôi cố tình làm hư hại dĩa bát của anh bằng cách cào trầy nó, là tôi đã phá hủy nó, và đức công bình đòi tôi phải bồi thường, nghĩa lá phải đền tiền vì sự hư hại kia.

Chúng ta không thể sử dụng những của bị ăn cắp, cho dù chính bản thân ta không ăn cắp nó. Chúng ta cũng không thề khiếu nại để làm chủ một cái gì đã thuộc về người khác, chẳng hạn, khi một học sinh quay cóp bài làm của một học sinh khác. Một học sinh như thế phạm hai tội: Ăn cắp và nói dối. Vì nó đem nộp bài làm ấy sẽ trở thành bài làm của nó.

Về Sự Vay Mượn

Có những câu hỏi được đặt ra về trách nhiệm và bổn phận của chúng khi chúng ta sử dụng của cải của một người khác với phép của họ. Có thể là ta mượn một dĩa bát để xem chúng ta có thích nó hay không trước khi mua một cái cho ta. Nếu ta đã làm hư hỏng thì phải trả lại nó trong tình trạng giống như khi ta đã mượn. Nếu đã làm hư thì phải thế lại cái khác. Cũng vậy, chúng ta phải cầm cẩn thận những hàng hóa trong một cửa hiệu, và phải thật thà khai nếu có làm hư hỏng điều gì. Chúng ta luôn luôn phải trả lại toàn vẹn những tiền vay nợ; nếu không trả lại thì chúng ta ăn cắp.

Giới răn thứ bảy cũng cấm mọi thứ lừa gạt hay không giữ sự cam kết trong việc sử lý của cải của người khác. Đó gọi là gian lận. Còn một lối thực hành xấu xa khác gọi là cho vay nặng lãi. Khi một người nào đó cho vay tiền với một lãi xuất quá cao. Đây là một việc làm không tốt, vì ai làm điều này là làm tiền trên sự túng quẫn của người khác.

Chúng ta cũng buộc phải công bình trong việc trả thù lao cho những dịch vụ hay những món hàng đã mua. Phải luôn luôn trả tiền cho một người làm công số tiền họ đáng được.

Giới Răn Thứ Mười: Ngươi sẽ không tham lam của cải của người đồng loại: Có nghĩa là hướng sự ham muốn của ta về những của cải.

Có hai cách rất thông thường làm ta vi phạm giới răn này: ganh tỵ và hà tiện. Cả hai đều chứng tỏ rằng có một cái gì sai quấy trong cách nhìn của ta về của cải vật chất. Lòng ganh tỵ là bực bội, khó chịu vì người khác thành công. Người ganh tỵ không hạnh phúc vì họ muốn có cái người khác có. Tính hà tiện cũng giống tính tham lam. Người hà tiện có một lòng tham lam vô đáy về của cải. Họ luôn luôn muốn có thêm, bất luận họ đã có nhiều đến bao nhiêu.

Công Bình và Bác Ái

Có một vài xã hội phủ nhận quyền tư hữu. Dù sao, quyền tư hữu đã được Thiên Chúa nhìn nhận trong giới răn thứ mười. Người không kết tội ăn cắp, nếu không một ai có một cái gì. Lấy cắp là bậy vì là bất công. Như thế, đức công bình là nhân đức bảo vệ của cải cá nhân. Đức công bình buộc tôi phải bồi thường nếu tôi có lấy cắp. Nhân đức ấy buộc chủ tôi phải trả cho tôi tiền lương chính đáng, và buộc tôi phải làm việc cách lương thiện để xứng đáng đồng lương ấy.

Nhưng quyền có tư hữu, được đức công bình bảo vệ, không phải là nền tảng đầy đủ để xây dựng đời sống hạnh phúc của một xã hội; còn cần có đức ái nữa.

Chẳng hạn, quyền sở hữu có thể được mọi người thừa nhận, trong cùng lúc ấy, vài người có nhiều hơn nhu cầu của họ - có khi có quá nhiều - còn những người khác lại không có điều tối thiểu mà phẩm chức con người đòi hỏi.

Có phải là nếu tôi có nhiều của cải, thì người ta phải lấy những của cải ấy để chia cho người nghèo không? Như thế có công bình không? Nếu không thì tôi có thể quên người nghèo đi chăng? Đức ái buộc tôi phải chia sẻ những gì tôi có, với những người cần lương thực, quần áo và chỗ ở hợp với phẩm chức con người. Nếu có người sống trong túng quẫn, thì lấy những gì cần thiết để giúp họ sống không phải là lấy cắp, vì đó không phải là lấy của cải của người khác cách bất công. Chúa Giêsu tự đồng hóa Ngài với người nghèo khi Ngài nói:

Hãy đến, những kẻ Cha Ta chúc phúc. Hãy đến thừa hưởng vương quốc dành sẵn cho các ngươi ngay từ lúc tạo thành trời đất. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã viếng thăm... Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy. (Mt 25: 34-36, 40)

Những Chữ Nên Biết

Ăn cắp - ganh tỵ - hà tiện - cho vay nặng lãi - gian dối.

Các con đừng lo lắng về những gì các con có, nhưng hãy lo lắng về cách chúng con có như thế nào. (T. Grêgoriô Giáo Hoàng)

Tinh Thần Nghèo Khó

Thánh Phanxicô thành Assisi nổi danh là người nghèo. Ngài được danh hiệu này là vì chỉ có của nhiều hơn chiếc áo sơ mi trên mình ngài. Nếu ai hỏi ngài về thực trạng tài chánh của ngài, ngài thường trả lời rằng ngài đã kết hôn với nàng nghèo khó. Phanxicô muốn nói rằng ngài yêu thích sự nghèo khó và không bao giờ muốn có của cải nào.

Đây là điều làm cha ngài rất bực bội, vì ông là người buôn hàng vải giàu có và đang có những kế hoạch lớn về con của ông. Nhưng Chúa có những kế hoạch khác. Ông Phêrô Bênađônê, bố của Phanxicô, không chấp nhận kế hoạch của Chúa cách dễ dàng. Kết quả là cha con phải xa lìa nhau. Những kế hoạch của ông Phêrô xụp đổ, nhưng với Phanxicô, cả một thế giới mới đã mỡ ra. Ngài rong ruổi các đồi núi thành Assisi. Ngài đi trên các nẻo đuờng và ngợi khen Chúa. Ngài sống ngoài trời, cầu nguyện hàng giờ. Ngài đi ăn xin và xây một nhà nguyện trên núi đã đổ nát. Ít lâu sau, có những người đi theo ngài, và cuối cùng một dòng tu lớn đã phát triển noi theo gương thánh Phanxicô.

Thánh Phanxicô đã được nêu lên như là một người có thái độ xác đáng đối với của cải vật chất. Chúng ta không nên đặt lòng mình vào của cải; chỉ vài người trong chúng ta được kêu gọi sống nghèo khó như thánh Phanxicô, nhưng Chúa nói những lời này cho mọi người: Không ai có thể làm tôi hai chủ; vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này và khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được. (Mt 6:24)

Chúa Giêsu muốn nói rằng một người đặt lòng trí mình vào của cải vật chất, sẽ không có thể gắn bó với Nước Chúa. Thay vì để mắt tìm dịp phục vụ Chúa, cầu nguyện, học hỏi về những lời và gương sáng của Chúa Kitô, thì người ấy chỉ tìm những cơ hội tích trữ thêm tiền của. (Điều này có nghĩa là chồng chất của cải vào nhiều hơn nhu cầu mình có). Người ta không thể để tâm trí trên cùng hai nơi một lần: Thiên Chúa và tiền của. Phải hoặc là Thiên Chúa hoặc là tiền.

Dĩ nhiên, hết lòng phụng sự Chúa có nghĩa là phải chọn Nàng Nghèo Khó, như thánh Phanxicô, nhưng không thể chọn của cải thay vì chọn kế hoạch của Chúa, như cha của Phanxicô. Chúng ta phải cố gắng bằng lòng với những gì mình đnag có và chăm sóc đến những quyền lợi của mình một cách hợp lý.

Trong cách ăn nết ở, anh em đừng có ham tiền, hãy coi những gì mình đang có là đủ. (Heb. 13:5)

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Giới răn thứ Bảy cấm ta điều gì?

Thưa cấm làm hại tài sản người khác. Điều này gồm có: trộm cắp, hành động phá hoại, cho vay nặng lãi, gian lận trong hợp đồng và trong dịch vụ, và tham dự vào những hành động như vậy.

2.         Giới răn thứ Bảy dạy ta phải làm gì?

Thưa dạy ta phải trả lại những tài sản thuộc về kẻ khác, phải sửa chữa những hư hại mà ta gây ra, phải trả nợ, và trả đúng lương cho những người làm công.

3.         Giới răn thứ Mười cấm điều gì?

Thưa cấm tham của cải cách vô mức độ, mà không nghĩ tới quyền lợi và hành phúc của kẻ khác.

4.         Giới răn thứ Mười dạy ta phải làm gì?

Thưa dạy ta phải công bình và độ lượng trong sự ham muốn cải thiện điều kiện sinh sống của ta, và phải biết chịu đựng cách nhẫn nại những thử thách và các đau khổ khác mà Chúa dành để vì ích lợi cho ta, bởi vì chúng ta phải chịu nhiều gian nếu chúng ta muốn vào Nước Chúa. (Acts 14:22)

***************************************************************

BÀI 13: NÓI SỰ THẬT

Giới Răn Thứ Tám: 'Ngươi sẽ không làm chứng gian chống lại người đồng loại ngươi' :

đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn nói sự thật, nhưng nhất là trong những vấn đề liên can đến tiếng tốt và danh dự của người khác. Sự thật rất quan trọng đối với chúng ta. Nếu không nói sự thật thì khó lòng chúng ta sống chung với nhau được.

Khi Chúa Giêsu bị điệu ra trước tòa của Philatô, Ngài đã nói: Lý do tôi đã sinh ra, lý do tôi đã đến thế gian là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật đều nghe được tiếng tôi. Ông Philatô mới nói với Ngài: Sự thật là gì? (Jn 18:37-38) Chắc hẳn có một thời Philatô có thể đã quan tâm đến sự thật, đến ý nghĩa sự sống, đến điều phải điều trái, mà bây giờ ông lại không còn để ý tới hoặc đã từ bỏ không để ý tới nữa, và đã cho là không có những điều như vậy.

Nhưng Chúa đã đến để làm chứng cho sự thật. Và Philatô không thể không ngạc nhiên. Có lẽ vì lý do đó mà ông ta đã làm vài cố gắng yếu ớt để cứu mạng sống của Đức Giêsu; nhưng như chúng ta biết, Philatô đã nhượng bộ trước sức ép và đã chịu nói dối để kết tội Đức Giêsu!

Chúng ta đều biết sự tai hại do chỉ một sự nói dối gây ra. Giới răn thứ Tám dạy ta không bao giờ được nói dối dù chỉ một lần. Nhưng Giới Răn ấy còn hướng dẫn tất cả khả năng giao tiếp của chúng ta. Chúng ta buộc phải nói sự thật và không bao giờ được lừa gạt người khác khi họ có quyền để biết sự thật.

Nói Dối

Nói dối là một sự cố tình đánh lạc hướng người khác. Nói dối luôn là điều tội. Chúng ta không thể nói dối để thoát khỏi một hoàn cảnh lúng túng, để bao che một người bạn, hay để đi xem chiếu bóng... Cho dù điều ta muốn làm là một điều tốt, chúng ta cũng không thể nói dối để đạt được điều ấy.

Đôi khi chúng ta có thể bị cám dỗ rất mạnh để nói dối-điều ấy có vẻ đơn giản và vô hại biết bao. Nhưng chúng ta phải luôn luôn nói sự thật với những ai có quyền biết sự thật.

Sự Giả Hình

Một loại đặc biệt về sự thiếu thành thật là sự giả hình, khi người ta có ý muốn tỏ ra tốt lành hơn là mình thật sự được như vậy, hoặc muốn làm người khác tin một điều gì mà mình lại phủ nhận, chỉ để làm thiên hạ khâm phục mình. Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án tội này. Tuy vậy, không có gì là sai lỗi khi ta có lối xử sự đẹp nhất đối với những người mà mình mong gây một ấn tượng tốt.

Lời Hứa và Lời Thề

Một diện quan trọng khác của đức chân thật là giữ lời của mình. Chúng ta muốn lời ta có tính chân thật là bằng cách sống đúng với lời ấy. Đức tính ấy nói lên sự thật về những hành động tương lai của một con người.

Khi ta làm một lời thề trước tòa án, ta hứa sự thật và lấy Chúa làm chứng cho điều ta nói. Lời thề này rất quna trọng. Nhưng nói dối mà còn thề thốt trước mặt Chúa thì cò nặng tội hơn nữa. Lời nói dối như thế gọi là bội thề.

Danh Giá Của Kẻ Khác

Tuy thế, có nhiều lần chúng ta có thể nói sự thật mà vẫn phạm tội! Phải luôn luôn nói sự thật nếu ta phải nói, nhưng đôi khi giữ im lặng là điều khôn ngoan hơn hay bác ái hơn. Có nhiều lần ta không nên nói những gì chúng ta biết là thật, vì làm như thế là sai bậy.

Chúng ta có một của quí báu có thể xem là một sự đương nhiên: Đó là danh giá hay tiếng tốt của ta. Chúng ta ít khi nghĩ đến nó, trừ lúc danh giá ấy bị đe dọa. Nhưng khi nó bị tổn thưng hay bị đánh mất, chúng ta mới thấy nó là điều quí báu cho ta, Danh giá quí hơn của cải. (Prov 22:1) Lấy lại danh giá đã mất thì rất khó; bạn cứ thử nghĩ một ngươì tù mới được tha về khó tìm được việc làm biết bao thì đủ hiểu. Làm tổn thương tiếng tăm của một người là một điều nặng. Vì thế, ta phải có một lý do rất chính đáng để tiết lộ một điều gì có thể làm tổn thương thanh danh của một người khác.

Về phần chúng ta, chúng ta phải làm sao để đáng có một tiếng tốt, không phải bằng cách tìm kiếm tiếng tăm, nhưng bằng cách yêu mến Chúa và người đồng loại và nhờ được biết là những môn đồ trung thành của Chúa Kitô.

Đôi khi chúng ta có thể được mời tiết lộ những gì ta biết về một người nào đó, chẳng hạn, trong các thủ tục tư pháp, nhưng chúng ta phải rất thận trọng về những gì chúng ta làm, khi những sự kiện gây tổn hại, cho dù chúng là những điều có thật.

Một câu chuyện gây tổn hại mà lại không có thật lại càng tệ hại hơn biết bao! Sử dụng sự thật một cách vô trách nhiệm hay ác ý để làm tổn thương người khác thì gọi là gièm pha và là một tội nặng. Sử dụng nói dối để làm hại một ai đó thì gọi là vu khống hay nói xấu và là một tội nặng hơn. Ta có bổn phận phải sửa chữa lại những thiệt hại do một tội nặng nào trong các tội ấy đã gây ra.

Võng Đoán

Ngoài việc chúng ta phải thận trọng trong những điều chúng ta nói về một người nào, chúng ta cũng còn phải thận trọng trong điều chúng ta suy tưởng. Có một tội gọi là võng đoàn, tức là phê phán về tính tình của một người khác dựa trên chứng cớ hời hợt. Nói thế không có nghĩa là chúng ta không bao giờ có thể làm một sự phê phán, nhưng muốn nói là chúng ta phải rất thận trọng trong điều này. Nếu không, người khác có thể mất sự quí trọng của chúng ta mà không có lý do chính đáng. Ta phải rất khoan thai trước khi phê phán.

Nói Hành, Nói Xấu

Theo nguyên tắc, chúng ta không được nói về tính xấu của người khác trừ phi có lý do chính đáng và quna trọng để làm. Nói hành hay nói xấu thường là nói về những lỗi lầm của người khác hoặc phóng đại nó lên. Người nói xấu có thể có những sự kiện để nói, nhưng nó hủy hoại thanh danh của một người khác để thỏa mãn lòng tò mò vô ích. Chúng ta cũng không được thích thú để tai nghe những người hay nói xấu về người khác.

Bí Mật

Chúng ta phải giữ những lời hứa chúng ta đã làm, kể cả lời hứa giữ một bí mật nào đó. Nếu một người kể cho ta nghe một điều bí mật nào, hoặc chúng ta gặp một điều gì mà cần phải giữ bí mật vì lợi ích cho một người nào, thì chúng ta phải giữ im lặng về những gì chúng ta đã biết.

Khả năng nói năng của chúng ta là một quà tặng quí báu, không nên dùng để làm tổn thương người khác! Chúa Giêsu dạy rằng: Ta bảo cho các ngươi hay, đến ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của ngươi mà ngươi được trắng án, và cũng tại lời nói của ngươi mà ngươi sẽ bị bị kết án. (Mt 12: 36-37)

Những Chữ Nên Biết

Vu khống - Nịnh hót - Gièm pha - Võng đoán - Nói xấu - Chứng gian.

Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, có tính cách xây dựng và có thể sinh ơn ích cho người nghe. (Eph. 4: 29)

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Giới răn thứ Tám cấm ta làm điều gì?

Thưa cấm mọi sự dối trá và gây thiệt hại cách bất công đến danh giá của một người khác. Điều này góm có làm chứng gian, vu khống, nói dối, gièm pha, nịnh hót, nghi ngờ không nền tảng, và võng đoán.

2.         Giới răn thứ Tám dạy ta làm điều gì?

Thưa dạy ta nói sự thật cách vô ích thức trách nhiệm và tránh võng đoán về những hành động của những người khác.

3.         Khi làm tổn thương thanh danh của một người bằng tố cáo họ cách gian dối hoặc nói xấu về một người nào, thì ta buộc phải làm gì?

Ai làm tổn thương thanh danh của một người khác bằng tố cáo cách gian dối hoặc nói xấu về họ thì buộc phải bồi thuờng sự thiệt hại mình đã gây ra, bao lâu mình có thể làm được.

***************************************************************

BÀI 14: MỌI NGƯỜI ĐƯỢC KÊU GỌI NÊN THÁNH

… vì Đấng đã kêu gọi anh em là Thánh, vậy anh em hãy nên thánh trong tất cả hạnh kiểm: bởi đã viết rằng các ngươi hãy là thánh vì Ta là Thánh. (1 Pet. 1:15-16)

Là chi thể của Nhiệm Thể, chúng ta có một ơn gọi chung do Chúa ban. Mỗi Kitô hữu được gọi nên thánh nghĩa là mội người chúng ta được gọi bước theo Chúa Giêsu hầu một ngày kia chúng ta có thể sống luôn mãi với Ngài trên Thiên Quốc. Thánh Phaolô, trong thư gởi cho tín hữu Eâphêsô, nói rằng Thiên Chúa chọn ta trong Người trước khi tạo dựng thế gian, để ta nên thánh và vô tỳ tích trước mặt Người. (Eph. 1:14) Như thế, ơn gọi của mỗi Kitô hữu là phải trở nên một vị thánh.

Thêm vào bổn phận phải nên thánh, chúng ta còn được Chúa kêu gọi truyền bá đức tin mà ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa tội. Mỗi người chúng ta phải là một thừa sai, hay là tông đồ cho Chúa Kitô, rao giảng Tin Mừng bằng bất cứ cách nào ta làm được, bằng lời nói và bằng gương sáng. Ta gọi việc làm đó là việc tông đồ.

Vì mỗi người chúng ta nên thánh, chúng ta còn được Chúa kêu gọi truyền bá đức tin mỗi người mỗi cách. Chúa kêu gọi chúng ta mỗi người một ơn gọi riêng biệt, tuy theo ân sủng, khả năng và hoàn cảnh của mỗi người. Thánh Phaolô, trong thư gửi cho tín hữu Rôma, nhắc chúng ta rằng Giáo Hội, giống như một thân thể, có nhiều chio thể, và mỗi chi thể có một vai trò riêng biệt:

Được những ơn lộc khác nhau, tùy theo ơn Thiên Chúa đã ban cho ta, thì nếu là tiên tri, hãy làm tiên tri theo mức độ lòngt tin; nếu là phục vụ, hãy trọn niềm phục vụ; kẻ làm thầy, hãy chuyên việc dạy dỗ; kẻ khuyến khích, hãy ra công khuyến khích; kẻ phân phát, hãy có lòng đơn thành; kẻ thường giúp, hãy vui tươi. (Rm 12: 6-8)

Vậy ơn gọi riêng biệt của ta là tùy thuộc vào ơn sủng Chúa ban cho ta.

Khi tìm ơn gọi riêng của mình, ta không thể chỉ buông theo sở thích của ta, vì thường thường nó sẽ dẫn ta đi xa Chúa. Ta cũng sẽ không thể chờ đợi Chúa đưa ra cho ta một danh sách những chỉ dẫn chi tiết để ta phải sống thế nào. Đúng hơn, ta phải cầu nguyện xin ơn khôn ngoan để nhận biết những năng khiếu và khả năng... cũng như những giới hạn của ta, và chọn lựa một công việc sao cho thích hợp với đời mình. Chúng ta cũng phải biết nhận ra hoàn cảnh Chúa đặt chúng ta trong đó. Chẳng hạn một người cha phải săn sóc trông nom gia đình mình không thể nói: tôi có năng khiếu làm một nghệ sỹ (hay một năng khiếu nào đó), vậy tôi phải đeo đuổi nghề đó thay vì làm công việc nhàm chán của tôi hay là trông nom con cái của tôi. Trong những chương sau, chúng ta sẽ bàn đến những bậc sống mà Chúa có thể gọi chúng ta vào.

Những Trở Ngại Nên Thánh

Trước khi xét đến những phương cách nên thánh, ta hãy xét qua những cản trở trên đường nên thánh. Chúng ta biết là tất cả mọi người đều sinh ra trong tội tổ tông và tội này đã được bí tích rửa tội tẩy xóa. Dù vậy, sau khi đã được rửa tội, chúng ta vẫn còn yếu đuối và nghiêng về sự dữ. Chúng ta cò dễ bị cám dỗ, dễ hướng về sự dữ, về bất tuân Thiên Chúa và các giới răn của Người.

Sự hướng chiều về tội còn có thể nhận thấy trong cách ta thường sử dụng những khuynh hướng tự nhiên của ta. Chúa đặt trong mọi người một vài khuynh hướng để giúp chúng ta sống ở trên trần gian này. Chẳng hạn, chúng ta có một khuynh hướng tự nhiên về ăn uống hầu có thể tồn tại được. Vì tội nguyên tổ mà các khuynh hướng đó dễ vượt khỏi sự kiểm soát của ta. Khi sự kiện này xảy đến, nó dẫn ta đến chỗ phạm tội. Chẳng hạn lòng ham muốn ăn uống có thể thái quá, dẫn con người đến chỗ mê ăn uống hay say sưa rượu chè.

Nếu chúng ta để các khunh hướng đó đi ra ngoài vòng kiểm soát thường xuyên, nó có thể trở thành thói quen. Thói quen là cách làm một vài hành động nào đó và được lặp lại nhiều lần. Thói quen là thành phần quen thuộc của đời sống thường ngày của chúng ta. Chẳng hạn như chúng ta đánh răng mà không hề nghĩ tới việc làm này. Một khi ta biết đi xe đạp rồi, ta có thói quen đạp mà không nghĩ tới những nghĩ tới những động tác ta phải làm. Các thói quen này, xét về mặt đạo lý, là những hành động vô thưởng vô phạt, nghĩa là nó chẳng tốt cũng chẳng xấu. Dẫu vậy, có những thói quen sinh tội. Những thói quen ấy có là do làm những hành động xấu nhiều lần và được gọi là những tật xấu.

Có bảy tật xấu chính, thường được gọi là bảy mối tội đầu. Chúng được gọi là những tội đầu, do tiếng Latinh có nghĩa là đầu hay cội nguồn, vì chúng là nguồn cội tất cả các tội lỗi và tật xấu khác. Các tật xấu ấy không chỉ là tật xấu, nhưng là những tội chính mà từ đó những tật xấu khác được phát sinh. Vì những tật xấu này là những chướng ngại vật lớn trên đường nên thánh của chúng ta, nên chúng ta phải xét qua từng tật xấu một để biết nhận diện ra nó.

Đầu mối sự kiêu ngạo của con người là đi xa Chúa. Đầu mối kiêu ngạo là phạm tội và kẻ nào bám chặt lấy nó sẽ gây kinh tởm. (Sir (Huấn ca) 10:14-15)

Kiêu ngạo là mối tội đầu chính yếu, vì nó là cội rễ mọi tội khác. Nó là sự yêu thích bản thân mình thái quá và vô trật tự. Nó dẫn ta tới chỗ ưa thích ý riêng của ta hơn ý Chúa và ý của người khác. Kiêu ngạo là nguồn gốc tội đầu tiên của tổ tông chúng ta-các ngài muốn giống Chúa. Các ngài không muốn phục tùng Thiên Chúa, như những tạo vật đứng trước Đấng Tạo Hóa. Chúng ta không nên lầm lẫn tật xấu này vơí lòng kiêu hãnh chính đáng trong những thành tựu của chúng ta, hoặc với lòng tự trọng theo đúng nghĩa. Những tâm tình này chỉ thành tội khi ta thổi phồng nó quá mức.

Và Chúa Giêsu nói với họ rằng: Hãy coi chừng! Hãy lo giữ mình tránh mọi thứ tham lam, vì đời sống con người không cột của cải dư đầy. (Lc 12:15) (Take heed, and beware of all covetousness; for a man's life does not consist in the abundance of his possessions)

Lòng tham lam, hay tính hà tiện, nghĩa là muốn có thật nhiều. Lòng ham muốn không kiềm chế về những của cải vật chất, như tiền bạc, áo quần, vv... Một sự ham muốn nào đó về những vật này đều tự nhiên, vì nó là những điều cần thiết để sống giữa xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn luôn để ý đừng để lòng ham muốn này trở thành tính tham lam, và trong đời sống chúng ta, đừng đặt những vật này trước và trên những giá trị quan trọng hơn. Lòng ham muốn chẳng những là sai quấy, như giới răn thứ Mười dạy, mà nó có thể dẫn ta đến chỗ phạm tội nói dối, trộm cắp hoặc ngay cả tội giết người để có của cải họ muốn có.

Tôi xin nói là, hãy bước đi theo Thần Khí, và anh em sẽ không làm thỏa đam mê xác thịt. Vì xác thịt có những đam mê chống lại Thần Khí; và Thần Khí có những đam mê chống lại xác thịt. . . Mà đã rõ việc làm của xác thịt, tức là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng. (Gal 5:16-19)

Tính Mê Dâm Dục, là sự ham muốn không kiềm chế hoặc nuông chiều sự vui thú xác thịt. Không nên lầm lẫn nó với việc sử dụng hợp pháp khả năng giới tính trong đời sống thánh thiện của hôn nhân. Thiên Chúa tạo dựng con người có một hấp lực tự nhiên đối với người khác phái. Bao lâu hấp lực này được kiềm chế và cuối cùng hướng về hôn nhân, thi nó là một hấp lực lành mạnh và tốt. Hấp lực này trở nên hỗn loạn khi nó qui về sự vui thú bản thân thay vì một tình yêu vị tha và chân thật đối với người khác, và khi nó tách rời khỏi hôn nhân và mục đích của hôn nhân.

Có nóng giận thì sao cho đừng mắc tội, chớ để mặt trời lặn, mà cơn giận lại chưa tan... Mọi kiểu chua cay, gắt gỏng, nóng giận, la lối, chửi rủa, nhất nhất phải đánh bạt khi anh em. . . (Eph. 4:26,31)

Nóng giận là một biểu lộ không kiềm chế sự bất mãn và sự đối kháng, thường thường có kèm theo ý muốn trả thù. Sự nóng giận này không giống sự nóng giận chính đáng mà Thánh Phaolô viết trong thư của Ngài cho tín hữu Ephesô, hay sự nóng giận mà Chúa Giêsu bộc lộ khi Người đuổi các người buôn bán ra khỏi đền thờ. Nóng giận là một cách trả lời thích đáng cho một sự bất công-chẳng hạn như lừa gạt kẻ nghèo, phái thai. . .nhưng ta phải biết làm chủ sự nóng giận của ta và sử dụng nó cách thích đáng. Nhưng nếu cơn nóng giận của ta không được kiềm chế hoặc nếu trở nên gay gắt và đầy lòng căm hờn và ta chỉ tìm cách trả thù, thì nó là một tật xấu.

Đừng ham mê lạc thú vô lượng và đừng gieo mình buông theo miếng ăn ngon. . .Bởi vô độ lắm kẻ vong thân, còn kẻ biết giữ mình thì sống thêm được nhiều ngày. (Sir (Huấn Ca) 37: 29-31)

Tính mê ăn uống là một ham muốn và thích thú vô độ lượng về ăn uống. Ăn uống là có mục đích thưởng thức thú vui và tự nó chắc chắn là không tội lỗi gì. Đúng thế, ăn uống là cần thiết cho sự sinh tồn của chúng ta. T uy nhiên, những ham muốn này cũng như ham muốn của chúng ta về sở hữu có thể trở nên thái quá và bị ta lạm dụng.

Vì đâu có ghen tương, tranh chấp, thì ở đó có hỗn độn và đủ thứ tệ đoan. (James 3:16)

Ghen tương là mất hạnh phúc và bất mãn trước sự may mắn hay thành công của kẻ khác. Chúng ta ganh tị khi chúng ta buồn rầu trước sự thịnh vượng và thành công của người khác, hoặc khi ta vui mừng trước sự bất hạnh của họ. Tật xấu này không giống sự ham muốn hay ao ước thường tình mà ta có thể có là được thành công như bất cứ ai. Cũng vậy, lòng ganh tị này không phải là ao ước hay ham mưốn có một tài năng nào.

Chúng tôi ao ước thấy mỗi người anh em còn tỏ ra cũng một lòng nhiệt thành như thế để kiện toàn đến cùng niềm hy vọng, đừng hóa ra thờ ơ lãnh đạm, nhưng biết noi gương những kẻ vì tin và kiên nhẫn thì đã được thừa hưởng các lời hứa làm cơ nghiệp. (Heb. 6:11-12)

Tính kười biếng nói đây là sự lười biếng thái quá hoặc sự cẩu thả. Nó khác với các tật xấu khác, vì nó không phải là một ham muốn thường tình không được kiềm chế. Tính lười biếng là thiếu ham thích làm việc bổn phận của mình, cách riêng việc bổn phận đời sống thiêng liêg, vì đòi hỏi cố gắng. Nó không giống ham muốn hợp lý được có thời gian nghỉ ngơi hoặc tiêu khiển giải trí.

Chúng ta không có những khuynh hướng ngang nhau về các tật xấu này. Vài người trong chúng ta phải phấn đấu nhiều hơn với những cám dỗ về tính ganh tỵ, trong khi những người khác bị cám dỗ bởi tính nóng giận hay ham mê ăn uống. Bước đầu tiên trên đường nên thánh là nhìn đến bản thân (biết mình), cố gắng nhận ra những yếu đuối của mình, và nhờ ơn Chúa giúp, sẽ ra sức cố gắng khắc phục được nó.

Những Chữ Nên Biết

            Ơn gọi - Việc tông đồ - Thói quen - Bảy mối tội đầu.

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Thói xấu là gì?

Thưa là thói quen làm điều xấu, do thường làm những hành động xấu.

2.         Những thói xấu chính là những thói xấu nào?

Thưa là bảy mối tội đầu. Các tội ấy được gọi như vậy, vì chúng là nguốn gốc và căn nguyên của các thói xấu và tội lỗi khác.

3.         Những đức tính đối nghịch các mối tội đầu là gì?

Thưa là đức khiêm nhường, quảng đại, thanh tịnh, nẫn nại, tiết độ, tình anh em, và sự siêng năng trong việc phụng sự Chúa.

**********************************************************

BÀI 15: NHỮNG VIỆC LÀNH PHÚC ĐỨC VÀ HẠNH PHÚC

“Bấy giờ kẻ lành đáp lại rằng: Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Người đói để nuôi dưỡng, khát để cho uồng; có bao giờ chúng tôi thấy Người là khách lạ để tiếp rước, mình trần để cho mặc; có bao giờ chúng tôi thấy Người đau yếu hay ở tù để chúng tôi đến với Người? Đáp lại, Vua sẽ nói với họ: Quả thật, Ta bảo các người: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta.” (Mt 25:37-40)

Chúng ta lớn lên trong nhân đức, nhất là bằng việc thực hành các việc lành phúc đức. Trong những việc này, chúng ta tỏ lòng nến Chúa Kitô bằng cách giúp đỡ những người đồng loại của chúng ta. Chúa dạy rằng: Qủa thật, Ta bảo các người: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em hèn mọn nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta.” (Mt 25:40)

Chính vì chúng ta có thể xác và linh hồn, và cả hai phần đều cần sự chăm sóc, nên các việc phúc đức gồm có hai loại. Chúng ta quan tâm đến phần linh hồn của tha nhân và đến những nhu cầu thiêng liêng của họ bằng những việc phúc đức phần hồn. Chúng ta quan tâm đến thân xác và những nhu cầu phần xác của họ bằng những việc phúc đức thể xác.

Bởi vì linh hồn chúng ta là phần quan trọng nhất của bản tính con người, phần mà nhờ đó ta có thể suy nghĩ, biết và tự do lựa chọn điều lành hay điều dữ; cho nên bảy việc phúc đức thiêng liêng là quan trọng hơn hết. Khi bàn về từng việc phúc đức ấy, ta hãy suy nghĩ cách thức có thể thực hành những việc phúc đức ấy trong đời mình. Hãy nhớ rằng cốt lõi và linh hồn của từng việc phúc đức ấy là tình yêu; tình yêu là động lực thúc đẩy ta làm những việc ấy.

Những Việc Phúc Đức Thiêng Liêng

Khuyến cáo người tội lỗi. Vì tội làm con người xa Chúa, cho nên giúp một người ý thức được tính cách nghiêm trọng của tội và cần được ơn tha thứ là một việc bác ái thữc sự. Điều này không có nghĩa là sỉ nhục người tội lỗi trước công chúng hoặc xử sự như thể ta không bao giờ phạm tội. Trái lại, chúng ta hãy khuên dụ một cac1h dịu dàng và tế nhị các người ấy xa lánh các dịp tội hoặc khuyến khích những người đã sa ngã tìm lại ơn tha thứ trong Bí tích Hòa giải, và như thế đem lại cho họ niềm hy vọng rằng nhờ lòng thương xót của Chúa họ sẽ có thể, khắc phục được cách sống tội lỗi của họ.

Dạy dỗ kẻ mê muội. Giúp một người học hỏi hoặc tìm hiểu những chân lý mà Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta là cách thứ hai để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của tha nhân. Chúng ta có cha mẹ và các thầy cô dạy giáo lý làm việc này cho chúng ta, nhưng cũng có những cách khác để thực hành việc phúc đức này. Có nhiều người không được nghe về sứ điệp của Tin Mừng cách đầy đủ. Chúng ta thường có thể tìm được nhiều cơ hội để nói cho nghe về điều này, khi chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói:

Không ai thắp đèn rồi đặt trong buồng kín, hay dưới đáy thùng, nhưng là đặt trên giá đèn, để cho những kẻ đi vào, thấy được sáng tỏ. (Lc 11:33)

Chúng ta được ban cho ánh sáng đức tin, chúng ta không được giấu nó, nhưng phải để nó chiếu sáng lên. Tuy nhiên, chúng ta phải tránh cách giảng dạy hay hành động như thể chúng ta biết được tất cả mọi câu trả lời.

Lấy lời lành mà khuyên người. Khuyên ai có nghĩa là giúp họ lời khuyên bảo hay lời hướng dẫn. Những người cần đến lời khuyên này nhiều nhất là những người còn yếu trong các nhân đức tin và đức cậy. Chẳng hạn, có người từ chối một vài tín điều, hoặc ít nhất là họ đặt lại vấn đề về những tín điều ấy. hoặc họ có thể ngã lòng trông cậy, hoài nghi không biết Thiên Chúa có tha thứ các tội lỗi của họ hay không. Những người này cần sự hướng dẫn và lời khuyến khích đầy tình thương yêu để củng cố họ, và nhờ đó đẹm họ lại gần Chúa hơn.

An ủi kẻ âu lo. Chịu đau khổ là một phần của sự sống con người trên đời này. Thật vậy, Chúa dạy chúng ta rằng ai muốn bước theo Ngài thì trước hết phải vác than1h giá của mình, như Ngài đã vác Thánh giá của Ngài vì chúng ta. Mỗi người trong chúng ta đều có những thánh giá riêng của mình mà Chúa Kitô kêu mời chúng ta hãy mang lấy, vì lòng yêu mến Ngài. Đây không phải là một việc luôn luôn dễ làm, và việc lành phúc đức này nhắc nhở chúng ta phải gíup đỡ lẫn nhau để vác lấy những khổ giá trong cuộc đời chúng ta. Đôi khi một lời đầy thương yêu và thông cảm có thể giúp đỡ rất nhiều. Đôi khi một nghĩa cử đẹp có thể trút nhẹ bớt gánh nặng khổ giá của một người nào đó.

Nhẫn nại chịu đựng những điều làm mất lòng ta. Chúng ta ta cần nhớ rằng thà chịu đựng một sự bất công hơn là lỗi phạm một sự bất công đối với người khác. Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu đã nói:

Ta bảo các ngươi... Hãy yêu mến thù địch và làm ơn cho những người oán ghét các ngươi. Hãy chúc lành cho những kẻ nguyền rủa các ngươi, hãy khẩn cầu cho những kẻ ngược đãi các ngươi. Kẻ tát má này, hãy đưa má kia nữa; người đaọt áo choàng, cũng đừng có cản nó lấy áo lót. (Lc 6: 27-29)

Lòng bác ái chân thật này là dấu hiệu của người Kitô hữu và chúng ta phải tập đức nhẫn nại và dũng cảm khi chúng ta là nạn nhân của sự bất công. Chính nhờ những hành động như thế mà chúng ta có thể lội kéo nhiều người khác lại với Chúa Kitô.

Tha thứ mọi sự làm mất lòng ta. Chẳng những chúng ta phải nhẫn nại chịu đựng những quấy rối của người khác, mà còn phải tha thứ những ai đã làm mất lòng ta. Trong Kinh Lạy Cha, mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, chúng ta đọc: Xin tha tội chúng con, như chúng con cũng tha những kẻ có lỗi với chúng con. (Mt 6:12) Điều này có nghĩa là với mức độ nào chúng tga tha thứ cho kẻ khác, thì Chúa cũng sẽ tha thứ theo mức độ ấy. Tha thứ kẻ khác là chúng ta bắt chước tình yêu mà Chúa kitô đã tỏ bày cho chúng ta. Ngài đã ban ơn tha thứ cho tất cảmọi người, ngay cả cho nhữn gkẻ đã ghét Ngài trên thập giá.

Cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết. Chúng ta đã nghe rằng mầu nhiệm hiệp thông giữa các thánh có nghĩa là chúng ta có thể cầu cho nhau. Việc làm đầy tình thương này là cách làm dễ nhất và quan trọng nhất để giúp đỡ kẻ khác. Chúng ta hãy nhớ rằng đức bác ái đối với tha nhân bao gồm cả những kẻ thù của chúng ta, và lời cầu khẩn của chúng ta phải nhắm đến những người ấy nữa. Khi cầu nguyện cho những người đã qua đời, chúng ta hãy nhớ đến không những các người thân yêu và bạn bè,mà còn phải nhớ đến tất cả các linh hồn không có ai cầu nguyện cho nữa.

Những Việc Lành Phúc Đức Phần Xác

Bảy việc lành phúc đức phần xác là những việc thương yệu mà Chúa Giêsu đã nói đến khi Ngài diễn tả sự phán xét chung. Với những ai đã thực hành việc lành phúc đức này, Chúa sẽ nói:

Hãy đến! Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy làm cơ nghiệp Nước đã dọn cho các ngươi từ tạo thiên lập địa. Vì xưa ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống, Ta là khách lạc, các ngươi đã tiếp rước, Ta mình trần, các ngươi đã cho Ta mặc, Ta đua yếu, các ngươi đã viếng thăm, Ta ở tù, các ngươi đã đến với Ta. (Mt 25: 34-36)

Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc. Đa số chúng ta đã được Chúa chúc phúc bội hậu. Tuy nhiên, trên thế giới này, còn có rất nhiều người, ngay cả trong nước chúng ta, đang thiếu nhiều sự cần thiết căn bản nhất cho đời sống của họ. Chúng ta không được quên những người ấy. Giúp đỡ họ là bổn phận bác ái. Nếu không thể giúp đỡ họ cách trực tiếp, chúng ta có thể đóng góp tiền bạc hay của cải cho những đoàn thể, tổ chức những việc bác ái. Chẳng hạn có một hội như vậy trong giáo xứ, như Hội Thánh Vinh Sơn Phaolô, là hội đang thi hành những việc lành phúc đức.

Những việc lành phúc đức này bắt đầu từ trong gia đình. Các bậc phụ huynh phải có trách nhiệm trông nom cho con cái của mình được nuôi dưỡng và ăn mặc đầy đủ. Khi các con cái của họ lớn lên, chúng sẽ có trách nhiệm chăm sóc đến các nhu cầu của những cha mẹ già nua của chúng như vậy. Trong lãnh vực này của đời sống, chúng ta có thể thi hành những việc lành phúc đức một cách đơn giản. Chẳng hạn, có thể dọn một bữa ăn cho một người anh chị em nghèo đói trong gia đình chúng ta, hoặc chia sẻ với họ một ít quần áo. Rồi các gai đình họp lại có thể cùng nhau đi đến các gia đình nghèo khác. Những nghĩa cử này sẽ chuẩn bị chúng ta sẵn sàng làm những việc lành phúc đức lớn hơn khi chúng ta trưởng thành.

Thăm viếng kẻ bị tù tội. Trong ngục tù, có nhiều hạng người khác nhau. Có những người trọng tội cứng lòng. Đã có những cuộc trở lại trong những hạng người cứn glòng nhất, và có lẽ ơn thánh mà họ đã nhận được là do lời cầu nguyện hoặc do lòng tốt của những người đã gặp gỡ họ. Có những người chỉ vì yếu đuối mà đã phạm tội, nhưng bây giờ họ đã thối ăn năn về những điều họ đã phạm. Những người này cần được chúng ta khuyến khích để có thể tiếp tục cải thiện đời sống của họ. Có những người bị xử oan! Chúng ta phải giúp họ được xử công minh, trong khả năng của chúng ta. Trong thời gian này, họ cần đến sự nâng đỡ tinh thần của chúng ta.

Cũng có những người tuy không ở trong tù, nhưng cảnh sống của họ có thể so sánh với cảnh tù tội, vì bị cách ly với những người khác và không được sự nâng đỡ mà một cuộc thăm viếng có thể đem lại cho họ. Chẳng hạn như trường hợp của những người phải chăm sóc một thân nhân đau yếu trong một thời gian lâu dài, họ cũng cần đến sự viếng thăm của chúng ta để chấp nhận thánh giá hiện tại của họ.

Tiếp đón những kẻ không nhà. Có nhiều người vô gia cư trong những thành phố của chúng ta. Chúng ta cần quan tâm đến nhu cầu cần thiết của họ. Chẳng hạn, Trevor Ferrel, một thiếu nhi 12 tuổi ỡ Philadelphia đem chăn mền của nhà em cho những người ngủ ngoài đường. Tiếng đồn ra và không mấy chốc cả hàng xóm đem đồ ra giúp đỡ họ. Cuối cùng họ đã bỏ tiền ra thuê hẳn một căn nhà cho những người vô gia cư này.

Chúng ta không luôn luôn làm được điều này cách trực tiếp để giúp những người vô gia cư. Dù thế chúng ta có thể thực hành việc lành phúc đức này mà sẵn sàng chia sẻ nhà cửa của chúng ta cho vài người túng thiếu, chẳng hạn như giúp một người bị hỏa haọn hay bão lụt. Chúng ta có thể chia sẻ phòng với người anh chị em trong gia đình nếu họ cần được giúp đỡ.

Thăm viếng bệnh nhân. Các bệnh nhân thường hay sợ hãi và có thể cần đến sự an ủi đặc biệt của chúng ta. Là những người khỏe mạnh, chúng ta thường khó hiểu rõ nỗi đau đớn của bệnh nhân. Thăm viếng họ có thể đem lại cho họ sức mạnh họ cần để vác được thánh giá của họ. Có thể họ cần đến chúng ta một cách cụ thể nào đó. Chúa Kitô có thể đánh động lòng họ qua hành động bác ái của chúng ta.

Chôn xác kẻ chết. Đây là việc làm phúc đức cuối cùng được nhắc đến trong Cựu Ước. Thiên sứ Gabriel ngợi khen ông Tobia về việc làm bác ái này:

Khi ngươi chôn cất người chết, Ta đã hiện diện gần ngươi. Khi ngươi không ngần ngại chỗi dậy bỏ dở bữa ăn để đi vùi chôn kẻ chết, việc lành của ngươi không che giấu trước mặt Ta. (Tob. 12:13)

Bằng hành động này, chúng ta tỏ lòng tôn kính thân xác, vì nó là một phần của con người. Chúng ta có thể thực hành việc phúc đức này bằng cách tham dự lễ nghi an táng những người chúng ta quen biết, và đem lời an ủi những ai có tang chế, hoặc kính trọng các nghĩa trang, có thể bằng cách đặt hương hoa tại mộ người thân nhân.

Chúng ta sẽ được hạnh phúc mãi mãi với Chúa trên thiên đàng, bằng cách sống một đời nhân đức và thực hành các việc lành phúc đức. Đây là niềm hạh phúc mà Chúa Giêsu đã nói trong Bài giàng trên núi. (Mt 5:3-11) Ngài hứa ban hạnh phúc này cho những ai đã sống đời sống Kitô hữu, được tóm kết trogn Tám Mối Phúc Thật.

Mối phúc thật là niềm hạnh phúc đặc biệt, hay là sự chúc lành có tính chất thiêng liêng. Tám mối phúc thật này là những lời hứa hạnh phúc mà Chúa Kitô hứa ban cho những ai trung thành lãnh nhận các lời giáo huấn của Ngài và noi theo gương sáng của Ngài.

Tuy thế, niềm hạnh phúc mà Chúa Giêsu nói đến ở đây không phải là điều mà thế gian coi như sẽ đem lại hạnh phúc, tiền bạc, quyền bính, danh tiếng, vv... Đôi khi những điều này có đem lại cho chúng ta sự vui thích hay sung sướng, nhưng nó chỉ là hạnh phúc chóng qua. Niềm hạnh phúc mà những kẻ hiền lành, những kẻ có có lòng trong sạch, vv... là mối hạnh phúc trường cửu trong cuộc sống đời đời. Niềm hạnh phúc này đem lại cho ta niềm vui chân thật và bình an, ngay cả trong đời hiện tại ở dương thế. Đó là mối hạnh phúc mà không ai có thể tước đoạt của ta đuợc. Nó tồn tại muôn đời.

Những Chữ Nên Biết

Việc làn phúc đức phần xác - Việc lành phúc đức phần hồn.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Chúa Giêsu Kitô có khuyên bảo chúng ta thực hành những nhân đức luân lý đặc biệt nào không?

Chúa Giêsu có khuyên bảo chúng ta thực hành một vài nhân đức gồm tóm trong Tám Mối Phúc Thật, và coi những ai đem các điều ấy ra thực hành là người có hạnh phúc và được chúc phúc.

2.         Tại sao trong các mối phúc thật, Chúa Giêsu lại gọi là có phúc những ai khiêm tốn và phải chịu những thử thách, ngược lại với quan niệm của người thế gian?

Ngược lại với quan niệm của người thế gian, Chúa Giêsu gọi những người khiêm tốn và chịu thử thách là có phúc vì họ sẽ được Thiên Chúa ban một phần thưởng đặc biệt. Và Ngài dạy chúng ta nên bắt chước những người ấy, mà đừng quan tâm gì đến những châm ngôn dối trá của thế gian này.

3.         Những ai sống theo những châm ngôn của thế gian này có thể có hạnh phúc thực sự được không?

Thưa họ không thể có hạnh phúc thật sự, vì họ không tìm kiếm Thiên Chúa là Chúa và là nguồn mạch hạnh phúc thật của họ. Vì thế họ không có luơng tâm an bình, và họ có thể đi trên đường dẫn đến hư mất đời đời!  

*************************************************************

BÀI 16: CÁC ƠN THIÊN TRIỆU:

             ĐỜI SỐNG TU SĨ VÀ CHỨC LINH MỤC

Dưới sự thúc đẩy của tình yêu mà Chúa Thánh Thần tuôn xuống trong lòng họ, họ sống ngày càng khắng khít hơn cho Chúa Kitô và Nhiệm Thể của Ngài, là Hội Thánh. Cho nên, họ càng kết hiệp với Chúa Kitô cách sốt sắng bao nhiêu, bằng hiến trọn cả đời họ, thì đời sống của Hội Thánh càng trở nên đầy đủ và công việc tông đồ của họ càng mãnh liệt và có kết quả bấy nhiêu. (Hiến chế Perfectionis Caritatis #1)

Trong một chương trước, chúng ta đã bàn về ơn thiên triệu mà chúng ra được chia sẻ với tư cách là Kitô hữu, là bước theo Chúa Kitô, và cuối cùng, là được sống với Chúa trên Thiên Đàng. Nhưng chúng ta phải theo đuổi mục tiêu ấy của mình một cac1h khác nhau, tùy theo tâm tính của mỗi người, và tùy vào ơn Chúa kêu gọi chúng ta. Ơn gọi củ ađa số các Kitô hữu là sống đời sống giáo dân, nam hay nữ, giữ lòng thế giới này. Còn một số người khác thì sẽ chọn đời sống linh mục hay tu sĩ.

Chúng ta đã thấy rằng: từ buổi đầu của Kitô giáo, một số người trong Giáo Hội đã dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa bằng một lời khấn hứa. Tuy không phải tất cả mọi người được gọi vào đời sống này, Chúa Giêsu vẫn mời gọi nhiều người bước theo Ngài vào con đường này. Trong các Tin Mừng, Chúa Giêsu nói đến phần thưởng dành cho những ai đã đáp lời gọi ấy.

Và phàm ai bỏ nhà cửa, hay anh em chị em, hay cha mẹ, con cái hay ruộng nương vì danh Ta, thì sẽ lãnh hơn gấp bội và được sự sống đời đời làm cơ nghiệp. (Mt 19:20)

Ơn gọi làm linh mục hay tu sĩ là một ơn gọi bước theo Chúa Kitô cách trọn hảo nhất dưới thế này. Một ngày kia, một người thanh niên giàu có đến gặp Chúa Giêsu và hỏi Ngài để biết anh ta phải làm gì để có được sự sống đời đời. Chúa Giêsu đã nói với anh:

“Nếu ngươi muốn vào sự sống thì hãy giữ các giới răn... Người thanh niên nói với Ngài: Hết các điều ấy, tôi đã giữ, vậy tôi còn thiếu gì? Chúa Giêsu nói với người ấy: Nếu anh muốn được trọn lành, thì hãy đi bán những gì anh có mà cho kẻ khó, và anh sẽ có một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo Ta.” (Mt 19:17, 20-21)

Ở đây Chúa Giêsu nói về ơn gọi vào đời sống tu trì, là giữ các lời khuyên để đạt sự trọn lành. Tuy ơn thiên triệu này là ơn gọi cao cả nhất, Thiên Chúa không có ý mời gọi mọi người sống đời tu sĩ. Mỗi người trong chúng ta phải tìm sự thánh thiện trong bậc sống mà Thiên Chúa muốn chúng ta sống. Đời sống tận hiến đòi sự đại độ lớn lao. Khách quan mà nói, đời sống tu sĩ là đời sống hoàn thiện nhất. Nói thế không có nghĩa là một giáo dân không thể đạt tới sự trọn lành thánh thiện (hay ngược lại hễ là một tu sĩ thì tự nhiên là nên trọn lành!). Mọi ơn kêu gọi đều dẫn tới sự thánh thiện. Mỗi người phải cố gắng tìm ra con đường Chúa muốn gọi mình vào.

Đời Sống Tu Sĩ

Đời sống tu sĩ gồm có việc tuân giữ ba lời khuyên của Tin Mừng, còn được gọi là những lời khuyên trọn lành. Đó là những lời khuyên nhủ để có một tình yêu trọn hảo mà Chúa Giêsu đã dạy và đã thực hành: đó là sống nghèo khó, thanh tịnh và vâng lời. Những ai sống theo các lời khuyên này thì làm lời khấn (tức hứa với Chúa một cách tự do và tự ý mình) là sẽ tự ý giữ tất cả những lời khấn ấy. Họ tự nguyện từ bỏ một số điều tốt lành ở đời này, như tiền bạc, của cải, hôn nhân và tự do, để có thể hiến thân mình trọn vẹn hơn mà yêu mến và phụng sự Chúa cũng như phục vụ tha nhân. Những lời khấn này giải thoát họ khỏi những của cải trần thế để họ có thể rảnh rang yêu Chúa và tha nhân hơn.

Lời khấn đầu tiên là Sống Nghèo Khó. Người đã làm lời khấn này sẽ từ bỏ những của cải trần thế của họ để theo Chúa Giêsu. Lời khấn đấu tiên là sống nghèo khó. Người đã làm lời khấn này sẽ từ bỏ những của cải trần thế của họ để theo Chúa Giêsu. Trong thế giới hiện đại của chúng ta, người ta quan tâm rất nhiều đến công ăn viêc làm, đến tiền bạc và củ cải, thì chấp nhận sống khó nghèo là một việc hy sinh thật sự, ngay cả đối với những người không giàu có bao nhiêu!

Ngang qua đời sống tu trì, Chúa Kitô đòi hỏi một đời dâng hiến trọn vẹn để đích thân phục vụ Chúa và tha nhân. Việc ấy nói lên rằng chúng ta đã hiến dâng cho Chúa những của cải tự nhiên cao cả nhất. Một torng những của cải ấy là sự kết hiệp đầy trìu mến với một người khác trong hôn nhân và trong đời sống gia đình. Tình yêu nhân loại trong hôn nhân là một điều thánh thiện, mà Chúa Kitô đã chúc lành. Cho nên sự hy sinh gồm trong sự từ bỏ này quả thật là lớn lao. Với lời khấn thanh tịn, người ta dâng hiến đời mình trọng vẹn cho Chúa hơn, mà từ bỏ ơn ích của hôn nhân.

Vì người ta có thể chu toàn các lời khuyên sống nhèo khó và thanh tịnh, nhưng vẫn còn đầy lòng yêu chính bản thân, nên Chúa đòi một sự hy sinh cuối cùng nơi người dâng hiến đời mình cho Ngài, xin ta hãy từ bỏ những ưa thích và ước muốn cá nh6an ta. Đó là lời khấn vâng lời. Vậy người bước theo con đường này se từ bỏ tự do của mình mà tuân phục hoàn toàn theo ý muốn của Thiên Chúa, qua trung gian các vị bề trên hợp pháp của mình, như điều này đ4a rõ trong Hội Thánh.

Ai gia nhập đời sống tu sĩ mà thực hành các lời khấn khó nghèo, thanh tịnh và vân glời, là bắt chước chính Chúa Giêsu. Khi Ngài chịu chết không có gì cả; các người lính còn bốc thăm áo Ngài đang mặc. (Mt 27:35) Có lần Ngài đã nói về chính bản thân Ngài: Con Người không có chỗ tực đầu. (Mt 8:20) Chúng ta biết Chúa Giêsu không có vợ, Ngài đã dành cả cuộc đời công khai của Ngài để rao giảng Tin Mừng.

Và quan trọng hơn hết, Ngài đã quy phục ý muốn của Ngài theo ý Cha trên trời. Điều này được chứng minh cách rõ ràng đêm trước ngày chịu chết, Ngài đã cầu nguyện trong vườn Giếtsêmani. Biết trước những gì sẽ xảy ra, Ngài nói: Lạy Cha nếu là thánh ý của Cha, xin cất chén này xa con, nhưng dudùng theo ý con, mà là ý của Cha được thành sự. (Lc 22:42)

Những người sống đời tu trì là một gương sáng cho tất cả mọi người. Họ nhắc nhở chúng ta điều quan trọng là đặt Chúa trên hết trong đời sống của chúng ta. Tuy tất cả chúng ta không được gọi để hy sinh những của cải ấy, các người sống giữa đời cũng được kêu gọi đặt tình yêu Chúa trên lòng yêu mến của cải, gia đình và trên chính bản thân của họ.

Như đã thấy, nhiều dòng tu khác nhau đã được chính thức thành lập, suốt giòng lịch sử, cho những ai được gọi vào đời sống tu trì. Có những dòng cho người nam, có những dòng cho người nữ. Trong cả hai bên, các tu sĩ sống đời sống dòng tùy theo qui luật riêng của mỗi dòng. Cầu nguyện và chiêm ngắm nhằm đạt tới một tình yêu Chúa và tha nhân trọn vẹn hơn là công việc căn bản của mọi dòng tu. Đối vơí vài dòng tu, cầu nguyện là công việc chính của họ. Những tu sĩ trong các dòng chiêm niệm này giành cả ngày giờ vào việc cầu nguyện, và đó là cách họ phục vụ Chúa và toàn thể Hội Thánh. Đó là công việc lớn lao, giúp đỡ thế gian rất nhiều, vì có rất nhiều người đã quên Thiên Chúa. Các tu sĩ chiêm ngắm thường sống trong một nội vi có tường ngăn, tách họ khỏi thế giới bên ngoài, và họ lao động trong nội vi của các đan viện hay tu viện để tự nuôi sống. Dòng Bênêđictô và Xytô cũng như dòng kín Camelô là những ví dụ về đời sống chiêm niệm. Còn những dòng tu khác hiến thân phục vụ Chúa có tính hoạt động hơn. Những dòng hoạt động này làm việc trong các trường học, các bệnh viện hay cô nhi viện. Có một dòng nữ vừa đi thăm viếng vừa cầu nguyện cho những kẻ đang bị tù, và giúp đỡ họ cải thiện đời sống. Kỳ thực, dòng tu này có nhiều nữ tu trước kia đã từng là tù nhân. Các thừa sai bác ái của Mẹ thánh Têrêsa là một tu hội hoạt động chuyên săn sóc những người hấp hối, và thực hiện những cong tác hoạt động khác. Tuy thế, công tác hoạt động luôn phải phát xuất từ một đời cầu nguyện và là cách diễn tả đời sống cầu nguyện của những dòng tu ấy. Vậy, ngay trong đời sống tu trì hoạt động, cầu nguyện vẫn là nền tảng của mọi hoạt động của họ.

Chức Linh Mục

Có một tiếng gọi rất đặc biệt của Chúa Kitô có tầm quan trọng lớn lao trong Giáo Hội. Đó không phải là một điều mà người ta có thể chọn lựa, nhưng là được gọi. Đó là chức linh mục, do bí tích truyền chức thánh ban. Lời gọi thi hành quyền năng tư tế của Chúa Kitô và được trở nên một Kitô khác là một danh dự lớn lao, nhưng cũng là một sự hy sinh to lớn và cao đẹp. Những ai đã lãnh chịu Chức Thánh được tham dự vào công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô cách trọn hảo hơn. Các Ngài là những thừa tác viên ban ơn thánh cho Giáo Hội, khi thi hành các bí tích.

Một số linh mục hay giáo sĩ là những thành viên của một dòng tu. Hàng giáo sĩ gồm có các thầy phó tế, các linh mục và các giám mục. Hầu hết các thừa tác viên có chức thánh trong Giáo hội là được gọi để phục vụ Chúa Kitô như là giáo sĩ triều. Họ là những thành viên của một giáo phận xác định, thường thường phục vụ trong một giáo xứ.

Sau khi được thụ phong chức thánh, giáo sĩ triều hứa vâng lời Đức Giám Mục sở tại, và các giám mục phải chịu vâng lời Đức Giáo Hoàng. Theo lễ nghi La tinh, các linh mục không lập gia đình và khấn giữ sống độc thân. Tuy vậy, trong nghi lễ La tinh các phó tế vĩnh viễn có thể lập gia đình, và theo vài nghi lễ Đông phuơng, các linh mục có thể lập gia đình. Nhưng những ai đã lập gia đình phải hứa sẽ không tục guyền nếu người bạn đời của họ chết đi. Các linh mục triều không buộc phải giữ lời khấn khó nghèo. Các ngài có thể có của cải và thường thường nhận một số lương khiêm tốn cho việc chi tiêu cá nhân. Các ngài cố gắng sống đời sống đơn giản hầu bắt chước Chúa Kitô cách khắng khít hơn và làm chứng nhân cho Chúa Kitô trước mặt thế gian.

Giáo hội cần nhiều người nam và nữ bước theo Chúa Kitô, đáp ứng lời Chúa gọi vào đời sống tu trì và chức linh mục. Chúng ta phải cầu nguyện để biết xem có phải đây là ý Chúa trên chúng ta không. Cho dù đó không phải là ơn gọi của ta, ta cũng phải cầu nguyện để những người được gọi sẽ đáp lời cách vui vẻ, vì: Mùa gặt nhiều, nhưng thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin Chủ mùa sai thợ gặt đồng lúa của Ngài. (Mt. 37-38)

Những Chữ Nên Biết

Lời khuyên - Sống độc thân - Chiêm niệm - Hàng giáo sĩ

Sinh Hoạt

Câu hỏi

1.         Chức linh mục có phải là một chức cao trọng không?

Thưa là một chức rất cao trọng, vì năng quyền của chức ấy trên thân mình Chúa Giêsu Kitô đã nên hiện thực trong Thánh Lễ, và vì năng quyền của chức ấy trên Nhiệm thể Chúa Kitô, là Hội thánh. Chức linh mục ban quyền điều khiển và cai trị, với nhiệm vụ cao cả là dẫn đưa con người đến sự thánh thiện và sự sống của kẻ được chúc phúc.

2.   Những người sắp lãnh nhận chức thánh phải có ý định gì?

Thưa phải có chủ đích duy nhất là sự vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

3. Người ta có thể tự ý mình bước vào lãnh nhận chức thánh hay không?

Không ai có thể tự ý mình bước vào nhận lãnh chức thánh, nhưng người ấy phải được Chúa kêu gọi; nói cách khác, người ấy phải có ơn gọi vào chức thánh, và phải có những phong cách mà tác vụ thánh đòi hỏi.

**************************************************************

BÀI 17: TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN

Quyền lợi và bổn phận của giáo dân phải làm tông đồ phát xuất từ sự kiện là sự kết hợp của họ với Chúa Kitô. Được tháp vào Nhiệm thể Chúa Kitô bởi phép rửa tội và được tăng cường bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần trong phép Thêm Sức, họ đã được bổ nhiệm làm việc tông đồ bởi chính Chúa Giêsu Kitô. (Sắc lệnh Công Đồng Vatican 2: AA, 3)

Trong khi Chúa kêu gọi vài người phụng sự Ngài trong đời tu hoặc trong chức linh mục, còn số lớn thì Ngài kêu gọi họ phụng sự Ngài tại trần thế. Nhưng thành viên của Giáo hội không có chức thánh hoặc không thuộc một dòng tu nào thì gọi là giáo dân.

Giáo dân thông chia ơn gọi chung nên thánh với những người sống trong đời tu. Người giáo dân, cũng như các linh mục, các nam nữ tu sĩ phải phát triển mạnh đời sống thiêng liêng, sống kết hiệp với Chúa Kitô bằng cầu nguyện, bằng việc làm và các bí tích. Tuy nhiên hình thức của dodòi sống thiêng liêng này sẻ khác biệt cho từng nhóm do những sinh hoạt và bổn phận của họ.

Thêm vào ơn gọi nên thánh chung, người giáo dân cũng được gọi phục vụ Hội Thánh trong nhiều khả năng khác nhau. Sự phục vụ này bắt đầu trong phạm vi cộng đoàn giáo xứ của họ. Họ còn có thể phục vụ Hội Thánh ở cấp giáo phận, quốc gia hay cả quốc tế nữa. Sau hết, giáo dân cũng như tu sĩ được gọi làm chứng tá cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội nữa. Bằng lời nói và việc làm của họ, giáo dân được gọi đem Tin Mừng của Chúa Kitô cho thế giới. Vì cách sống của họ cũng giống như cách sống của những người khác trong xã hội: xây dựng gia đình, làm việc, vv... đôi khi họ có thể làm chứng tá cho Tin Mừng còn hữu hiệu hơn những người sống trong đời tu nữa.

Khác với các linh mục và tu sĩ được gọi sống cách biệt thế gian, người giáo dân phải sống giữa lòng thế gian. Họ phải thấm nhập xã hội với men Tin Mừng. Người giáo dân phải nên muối đất (Mt 5:15), lôi kéo thế gian lại với Chúa Kitô. Điều này có nghĩa là họ phải cố gắng đem công bình và bác ái Kitô giáo vào tất cả những sinh hoạt của con người: những sinh hoạt xã hội, kinh tế, công nghiệp, chính trị, văn hóa, giải trí, vv... Tất cả những sinh hoạt này là những phúc lợi trần thế và người giáo dân có ơn gọi riêng biệt để thánh hóa nó. Ơn sủng Chúa Kitô ban không thay thế giới tự nhiên, nhưng tôn trọng trật tự tự nhiên và hoàn chỉnh nó.

Người giáo dân được gọi cách riêng để sử dụng ba phúc lợi lớn mà người tu sĩ tự ý khước từ: đó là của cải, giới tính và sự độc lập. Người giáo dân được gọi sử dụng tiền bạc và của cải vật chất để làm ích cho Giáo Hội, cho gia đình họ và cho nhữn gngười thiếu thốn. Đại đa số cũng được gọi lập gia đình và nuôi dưỡng con cái, hầu đem lại cho Chúa Kitô những linh hồn mới. Sau hết, họ được gọi sử dụng sự tự do của họ để làm Chúa Kitô hiện diện khắp nơi trên trần thế.

Tuy rằng ơn gọi của người giáo dân là sống giữa trần thế, nhưng họ phải luôn luôn nhớ lời cảnh cáo của Chúa Kitô là sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Người giáo dân phải làm việc để đổi mơí trật tự trần thế mà lôi cuốn mọi người về với Chúa. Nhưng đồng thời họ phải cố gắng giữ mình khỏi vướng mắc những sa đọa của thế gian. Thánh Phaolô viết: Đừng rập theo thói đời. (Rm 12:2)

Tông đồ giáo dân bao gồm cả lúc lao động và lúc thư nhàn (là những sinh hoạt không có tính cách lao động, và được làm theo sở thích riêng). Người giáo dân phải thánh hóa chính mình và cả thế trần qua những hoạt động này.

Mỗi người được gọi thánh hóa việc làm hằng ngày của mình, sử dụng nó như một phương thế để phụng sự Thiên Chúa. Các bạn là học sinh thì việc làm thay bổn phận chính yếu của các bạn bây giờ là học hành. Bạn phải dùng việc học hành của bạn để ngợi khen Thiên Chúa. Có nghĩa là hãy bắt đầu từ bây giờ làm bài vở của bạn với hết khả năng, để nó có thể là một của lễ xứng đáng dâng lên Chúa. Vơí các bổn phận khác trong gia đình của bạn cũng vậy, như rửa chén bát, quét sân hay một việc gì khác. Người giáo dân cũng được gọi thánh hóa cả những lúc thư nhàn giải trí, phụng sự Chúa đến mức hoàn hảo trong nghệ thuật, âm nhạc, thể thao hay những giải trí giống như vậy.

Ơn gọi giáo dân bao gồm cả những người có gia đình và những người độc thân. Cả hai đều được gọi sống thanh tịnh theo kiểu cách khác nhau, tùy theo bậc sống của mình. Trong khi đa số giáo dân được gọi sống đời sống gia đình, có một số người sống đời sống giáo dân độc thân. Các người này tiếp tục sống giữa dodòi mà không có ý định gia nhập một dòng tu nào. Ơn gọi này không dành cho số đông. Ai được gọi sống đời độc thân giữa trần thế cũng được những ơn cần thiết để nên thánh nhờ Bí Tích Thêm Sức. Họ cũng được sức mạnh do Bí Tích Giao Hòa và Thánh Thể.

Những ai muốn phục vụ người khác giữa thế gian cách hoàn hảo hơn là nếu họ có gia đình, có thể chọn đời sống độc thân. Chẳng hạn các cô giáo trong nước này ở thế kỷ trước, thường ở độc thân để dấn thân trọn vẹn hơn cho công tác giáo dục. Có những kẻ khác ở độc thân giữa trần thế vì những bổn phận do đức công bình hay bác ái đòi hỏi. Chẳng hạn, người ở độc thân để có thể phụng dưỡng cha mẹ già yếu hay những thân nhân khác đang cần sự săn sóc của họ. Tuy thế, đại đa số sống đời sống gia đình. Bậc sống này là một ơn gọi lớn lao do Thiên Chúa thiết lập và chúc lành lúc tạo dựng vũ trụ. Chúng ta sẽ bàn đến bậc sống gia đình ở chương sau.

Những Chữ Nên Biết: Giáo dân

**************************************************************

BÀI 18: HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Người: do lòng yêu mến, Người cho họ được sinh ra, đồng thời người cũng gọi họ sống cho tình yêu.

Có hai ơn gọi chính để sống yêu thương: Đời sống hôn nhân và đời sống trinh khiết hay đời sống độc thân. Ơn gọi sống hôn nhân là ơn gọi sống tình yêu nhân loại một cách riêng biệt (tình yêu vợ chồng), được Chúa chúc lành và đã được Người thiết lập từ lúc mới tạo dựng thế giới. Trong hai chuơng đầu tiên của sách Khởi Nguyên, chúng ta đã đọc về tạo dựng thế giới và việc thiết lập đời sống hôn nhân.

Trong lời trích dẫn ở trên, Đức Giáo Hoàng muốn nhắc đến những lời sách Khởi Nguyên kể cho chúng ta nghe về việc Chúa đã dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của Người. Nghĩa là hai ông bà khác hẳn mọi vật khác có trong thế giới mà Chúa đã dựng nên cho đến lúc ấy. Hai ông bà có trí khôn và tự do như Chúa vậy. Hai ông bà là người, là người nam và người nữ, cả hai bình đẳng, là nam là nữ Người đã dựng nên họ. Thiên Chúa là tình yêu, và vì hai ông bà đã được dựng nên theo hình ảnh của Người, nên họ được dựng nên để yêu mến Chúa và yêu mến lẫn nhau. Sách Khởi Nguyên nói tiếp: Thiên Chúa đã chúc lành hai ông bà, thế là hai ông bà đã thành cộng đoàn tình yêu đầu tiên, một hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, là cộng đoàn tình yêu trong Thiên Chúa.

Rồi Thiên Chúa phán với hai ông bà: Hãy sinh sôi nẩy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất... (Gen 1:28) Lời này muốn nói rằng Chúa muốn cộng đoàn tình yêu này, là hôn nhân, sinh sôi nẩy nở. Người cho họ được tham dự vào hoạt động tạo dựng của Người. Hoa quả của hôn nhân là các con cái. Đây là mục đích đâù tiên của hôn nhân. Thiên Chúa muốn rằng, qua sự kết hiệp yêu thương giữa người nam và người nữ trong hôn nhân, con cái sẽ được sinh ra. Chúng là niềm vinh dự tột cùng của hôn nhân.

Trong chương II của sach Khởi Nguyên, chúng ta đọc thêm về ơn gọi Hôn nhân:

Giavê Thiên Chúa đã phán: Không tốt, nếu người nam chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp đương đối với nó... và với xương sườn đã rút tự người nam, Giavê Thiên Chúa đã làm thành người đàn bà, đoạn dẫn đến với người nam. Và nó đã nói: Phen này, nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi. Bởi thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình, và chúng nên một thân xác. (Gen 2: 18, 22-24)

Ở đây Thiên Chúa cho chúng ta thấy cuộc hôn nhân ấy, tự bản chất nó là một sự kết hợp trong tình yêu, còn có một mục đích thứ hai nữa, là tình yêu thương và sự nâng đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng. Người nam và người nữ được kết hợp với nhau trong hôn nhân để nâng đỡ nhau suốt đời. Họ phải giúp đỡ lẫn nhau trong những công việc của đời này, trước tiên là nuôi dưỡng con cái. Qua hôn nhân, họ đã trở nên một và không còn là những cá nhân riêng lẻ nữa. Họ được gọi phải hy sinh một phần sự tự do của họ cho một lợi ích lớn hơn, đó là gia đình mà họ đã gây dựng nên.

Chúng ta còn học được từ lời trích dẫn trên là người nam và người nữ sẽ trở nên một xác thịt, nghĩa là sự hợp nhất về hôn nhân là một sự hợp nhất trong thân xác cũng như về linh hồn. Đó là sự hiến tặng toàn diện cả con người của mình cho người kia dưới mắt Chúa. Ngoài đời sống hôn nhân ra, không thể có một sự hiến tặng toàn diện nào khác nữa.   Hiến tặng toàn diện có nghĩa là trao ban cả con người của mình cho người kia, đến chết và chỉ cho người đó thôi. Bạn bước vào đời sống hôn nhân cách tự do và có ý thức. Bạn đã làm lời hứa công khai trước mặt các nhân chứng, và sau khi đã hứa rồi, bạn không còn tự do để rút lại được. Và bạn cũng chẳng còn có quyền để định đoạt thế khác trong tương lai. Trao hiến toàn thân cũng có nghĩa là chấp nhận tất cả mọi hậu quả, bao gồm cả sự sẵn sàng đón nhận sự sống.

Chính vì sự giao hợp thân xác là một cách diễn tả sự trao hiến toàn thân của hai người, cho nên nó sẽ là một sự dối trá, nếu nó xẩy ra giữa hai người chưa kết hôn. Nếu thân xác bạn nói lên rằng Tôi thuộc về anh (hay em) mãi mãi, mà lòng trí mình biết điều ấy là không chân thật, thì đó là một sự dối trá rồi. Bởi đó mà việc giao hợp ngoài đời sống hôn nhân là nói dối. Dĩ nhiên đó cũng là tội dâm dục hay tội ngoại tình.

Bí Tích Hôn Nhân

Bậc sống hôn nhân cũng được Chúa Giêsu chúc lành. Vào buổi đầu đời rao giảng, Chúa Giêsu đã tham dự một lễ cưới và còn thực hiện phép lạ đầu tiên của Ngài. (Jn 2:1-11) Chúa Kitô đã chúc lành cho ơn gọi hôn nhân bằng sự hiện diện của Ngài tại tiệc cưới này. Ngài còn nâng hôn nhân khỏi giới tự nhiên lên tới sự cao trọng của một bí tích. Cho nên người nam sẽ ban cho họ những ơn cần thiết để sống đời sống hôn nhân này. Có những đặc sủng giúp họ khắc phục những trở ngại, vác thánh giá, và trở nên những cặp vợ chồng và cha mẹ tốt lành hơn.

Đối với Kitô hữu, cứu cánh tự nhiên, hay là mục đích của hôn nhân đã được nâng lên hàng siêu nhiên. Sinh con và dưỡng dục con cái không chỉ là cho cuộc sống hiện tại trên trần gian này mà thôi. Những người làm cha mẹ Kitô giáo nuôi con sao cho chúng còn có thể được về sống với Chúa mãi mãi trên thiên đàng. Cũng thế, người chồng và người vị Kitô giáo không những chỉ nâng đỡ nhau trong tình thương yêu nhau, nhưng còn quan trọng hơn nữa, là phải giúp nhau để biết, để yêu và phụng sự Chúa hầu cả hai đều có thể đạt tới Thiên Đàng. Điều đó gọi là thánh hóa vợ chồng lẫn nhau.

Chúa Kitô cũ hầu cả hai đều có thể đạt tới Thiên Đàng. Điều đó gọi là thánh hóa vợ chồng lẫn nhau.

Chúa Kitô cũng nhấn mạnh đến tính bất khả phân ly của hôn nhân. Người dạy rằng sự kết hợp giữa vợ chồng là một sự kết hợp kéo dài suốt đời, chỉ chấm dứt khi họ chết. Trong một dịp người Pharisiêu vặn hỏi Chúa Giêsu về sự li dị, Ngài đã trích dẫn một đoạn trong chương II của Sách Khởi Nguyên rằng:

Vậy điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, thì con người chớ có phân ly... Ta bảo các ngươi: Ai rẫy bỏ vợ mình...và cưới vợ khác, là phạm tội ngoại tình, và ai cưới một người đàn bà đã li dị cũng phạm tội ngoại tình.

Thế là Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng hôn nhân phải là một bậc sống bền vững ở dưới thế này. Và chính ngài đã dạy điều này, dựa trên quyền bính của Ngài là Con Thiên Chúa, dẫu rằng trong các Sách Tin Mừng, chúng ta thấy các người đương thời của Ngài đã chấp nhận việc ly dị. Vì thế giới ngày nay cũng thường chối bỏ tính bất khả phân ly của hôn nhân, nên người Kitô hữu phải là một gương mẫu và một nhân chứng cho thế giới thấy.

Tân Ước cũng dạy chúng ta về yếu tố siêu nhiên của hôn nhân. Trong thư gửi tín hữu Ephêsô, Thánh Phaolô nhắc chúng ta về bổn phận giữa hai vợ chồng là phải thương yêu nhau: Chồng hãy yêu mến vợ như Chúa Kitô yêu thương Hội thánh...còn vợ thì hãy kính trọng chồng. (Eph 5: 25,33) Cho nên ta phải yêu mến nhau, lấy Chúa Kitô làm gương mẫu cho mình.

Gia Đình

Như đã thấy, vợ chồng phải phối hợp với nhau trong hôn nhân để hợp thành một cộng đoàn...là gia đình. Gia đình là đon vị nên tảng của xã hội. Chính trong gia đình mà những con người mới được sinh ra trên đời. Chính nơi đây mà lần đầu tiên chúng ta học cách sống trong xã hội. Và chính trong gia đình mà các con cái được dạy dỗ trước tiên và được chuẩn bị để có một chỗ đứng trong Giáo hội và trong xã hội. Do đó, mà có những bổn phận cả cho các cha mẹ và cả cho các con cái trong gia đình.

Ngoài việc giúp đỡ lẫn nhau để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân, và nhờ đó mà đạt tới Thiên Đàng, bậc sống hôn nhân còn đặt nhiều bổn phận và trách nhiệm khác nữa trên đôi vợ chồng với vai trò làm cha mẹ của họ. Bổn phận thứ nhất là họ phải sẵn sàng đón nhận con cái. Có nghĩa là họ phải chấp nhận những con cái như là món quà do Chúa gởi đến và phải được giành cho Chúa. Tuy rằng tất cả mọi hôn nhân không được chúc lành bằng việc có con cái, nhưng vợ chồng phải luôn luôn sẵn sàng đón nhận con cái Chúa sẽ ban. Những hôn nhân không con đó có thể làm vinh danh Chúa bằng sự phối hợp yêu đương của hai vợ chồng và bằng sự thánh hóa lẫn nhau. Họ được gọi sinh nở cách thiên liêng bằng những việc lành phúc đức, chẳng hạn như nhận con nuôi hoặc nhận chăm sóc con nuôi.

Bổn phận thứ hai của các cha mẹ là chăm nom các con cái mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Họ phải đáp ứng đấy đủ những nhu cầu căn bản trong đời sống của chúng. Tuy thế, thỏa mãn các nhu cầu phần xác cũng chưa đủ để chuẩn bị cho các con cái vào đời hay được sự sống đời đời.

Bổn phận thứ ba của các ch mẹ là giáo dục và đào tạo con cái mình để chúng có thể có một đời sống tốt lành và hữu ích trên đời này; và mai sau đạt được ơn cứu độ trên Thiên Đàng. Đã hẳn là các cha mẹ phải trông nom về việc giáo dục căn bản cho các con cái mình, như biết đọc, biết viết, biết làm Toán và các môn học khác. Nhưng quan trọng hơn nữa là họ phải chịu trách nhiệm về việc giáo dục luân lý và đạo đức của con cái. Cha mẹ phải quan tâm đến những nhu cầu thiêng liêng của chúng, chứ không chỉ những nhu cầu vật chất. Một trong những bổn phận đầu tiên của các cha mẹ Kitô giáo là phải lo cho các con cái được chịu phép rửa tội.

Vì việc giáo dục luân lý, đạo đức và trí thức được bắt đầu rất sớm trong tuổi thơ ấu, các cha mẹ phải là những người dạy dỗ đầu tiên của chúng, bằng cả lời nói và gương sáng. Các vị cũng là những nhà giáo dục tiên khởi của con cái mình. Nghĩa là bổn phận giáo dục con cái trước tiên thuộc về cha mẹ. Cho dầu đa số các cha mẹ hiện tại thường ủy thác vai trò giáo dục cho nhà trường, các vị ấy không nên lơ là vai trò của mình là những nhà giáo dục tiên khởi. Các cha mẹ phải tiếp tục dạy dỗ con cái của mình và giúp đào tạo tư cách luân lý của chúng.

Lòng Hiếu Thảo

Các con cái cũng có bổn phận và trách nhiệm trong gia đình, và phải phát triển nhân đức gọi là lòng hiếu thảo. Đây là nhân đức làm ta phải tôn trọng và cung kính cha mẹ ta, vì các ngài có trách nhiệm trực tiếp về sự sống và hạnh phúc của chúng ta. Giống như nhân đức thờ phượng, lòng hiếu thảo là một phần của đức công bình và là một sự nhìn nhận món nợ ta đang mắc đối với cha mẹ của ta.

Lòng hiếu thảo đòi ta phải vâng lời cha mẹ chúng ta, vì các ngài được Chúa ban quyền hành để nuôi nầng chúng ta. Trong điều này, chúng ta có thể nhìn lên Chúa Giêsu mà bắt chước. Ngài đã vâng lời Đức Maria và Thánh Giuse. Và Ngài đã theo hai ông bà về Nazareth. Và Ngài hằng tùng phục hai ông bà. (Lc 2:51) Chúng ta phải giữ bổn phận này cho đến khi đạt tới tuổi trưởng thành và tự đảm nhiệm lấy cuộc đời của chúng ta.

Tuy vậy, lòng hiếu thảo không chấm dứt khi ta đến tuổi trưởng thành. Chúng ta còn phải tôn kính cha mẹ chúng ta. Phải nhìn nhận công việc lớn lao mà các ngài đã gánh vác với Chúa, và chúng ta phải chứng tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với các ngài. Đó là điều mà giới răn thứ tư dạy chúng ta phải thi hành.

Sau cùng, lòng hiếu thảo đòi chúng ta phải phụng dưỡng cha mẹ mình trong lúc tưổi già hay đau yếu của các ngài. Lời Chúa trong Sách Huấn Ca nhắc chúng ta về bổn phận này: Hỡi con, hãy săn sóc cha con lúc tuổi già, và đừng làm cho người sầu tủi lúc sinh thời. (Sir 3:12)

Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau. (Ps 133:1)

Các con cái cũng có trách nhiệm trong gia đình là thương yêu và kính trọng anh chị em mình. Đức bác ái này phải được thực thi đối với mọi người, nhưng vì chúng ta chia sẻ một dây liên kết thân thiết hơn với những người trong gia đình mình, nên nó càng quan trọng hơn nữa trong gia đình. Thường thường khó thực thi được điều này, nhưng mỗi người trong chúng ta phải ra sức làm cho gia đình mình thành trung tâm chiếu tỏ đức bác ái Kitô giáo và sự hiệp nhất.

Sau cùng, các con cái phải có bổn phận kính trọng quyền bính của những người dạy dỗ mình. Vì các cha mẹ có thể ủy thác một vài quyền bính của các ngài cho nhà trường. Chúng ta nhìn nhận vai trò đặc biệt của nhà trường vì đang thay thế tạm thời cha mẹ mình khi chúng ta gọi nhà trường là những alma mater, nghĩa là người mẹ yêu thương hay nuôi dưỡng. Thật vậy, chúng ta được nhà trường nuôi dưỡng cũng như cha mẹ mình nuôi dưỡng.

Hơn nữa, khi các con cái lớn lên, chúng phải tự đảm nhận ngày càng nhiều hơn về công việc giáo dục của chúng. Điều này quan trọng cách đặc biệt trong việc học giáo lý công giáo. Thường thường người ta chỉ học giáo lý lúc còn trẻ, rồi chịu thêm sức, và sau đó không còn ngó ngàng gì đến việc phát triển giáo lý nữa! Việc học hỏi về đức tin của chúng ta không chấm dứt khi đã chịu Thêm Sức rồi. Trái lại, là những người trưởng thành trong Giáo Hội, chúng ta phải đảm nhận việc phát triển lòng đạo đức của mình và tiếp tục lớn lên trong sự hiểu biết về Chúa và trong lòng mến Chúa.

Bậc sống hôn nhân, ngang qua đời sống gia đình, chuẩn bị chúng ta có một chỗ đứng trong xã hội. Trong chương sau, chúng ta sẽ bàn đến vai trò của người Kitô hữu giữa lòng quốc gia và thế giới.

Những Chữ Nên Biết: Lòng hiếu thảo

***********************************************************

BÀI 19: NGƯỜI KITÔ HỮU GIỮA LÒNG THẾ GIỚI

Nhờ Ta, các vua chúa cai trị và các vương công ban hành điều ngay chính; nhờ Ta, các quan chức, bậc vương giả và thẩm phán quản cai trái đất. (Prov. 8:15-16)

Như người nam và người nữ đến với nhau để hợp thành những gia đình, thì nhiều người cũng liên kết lại với nhau để hợp thành những xã hội lớn hơn. Không những chúng ta là những thành viên của một gia đình, mà chúng ta còn là những công dân của một thị xã hay một thành phố, một bang, và một nước. Cũng như trong gia đình cha mẹ chúng ta có quyền bính hợp pháp trên chúng ta, thì những viên chức chính quyền dân sự cũng có quyền bính như vậy. Thánh Phaolô nhắc chúng ta biết rằng quyền bính của họ cũng như quyền bính của cha mẹ chúng ta đều do Thiên Chúa mà ra:

Đối với quyền chưc hiện hành, mọi người hãy biết phục tùng. Vì không quyền bính nào mà lại không do tự Thiên Chúa, nên ai chống lại quyền bính là đối địch điều Thiên Chúa qui định...(Rm 13:1-2)

Mục đích của quyền bính dân sự là thăng tiến và bảo đảm ích lợi chung của mỗi thánh viên. Ích lợi chung là phúc lợi của toàn thể cộng đồng, chứ không chỉ của một cá nhân nào. Muốn thăng tiến ích lợi chung của toàn thể cộng động, nhà nước có quyền làm những luật pháp (chính đáng) và những qui định để cai trị trên các công dân của mình. Và các công dân có bổn phận phải tuân phục và kính trọng những luật pháp ấy. Chúa Giêsu dạy chúng ta về việc cần kíp phải nhìn nhận quyền bính dân sự khi người ta hỏi Ngài về tính cách hợp pháp của việc trả thuế cho Xêda: Hãy trả lại cho Xêda những gì thuộc về Xêda, và cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. (Lc 20:25) Chúng ta phải nhớ rằng, trong đoạn này Chúa Giêsu ban ra hai lệnh truyền. Là người Kitô hữu, thì phải tuân giữ luật Chúa trước hết và trên hết mọi sự. Rồi, với tư cách là công dân, chúng ta phải tuân phục luật của xã hội.

Luật Chúa Trước Hết

Chính quyền dân sự, đôi khi được gọi là nhà nước, có quyền bính hợp pháp, nhưng không có quyền đòi hỏi làm điều gì vi phạm luật Chúa được. Chẳng hạn, không có một chính quyền nào có quyền cho phép việc cố sát, vì đó là vi phạm luật Chúa. Khi những luật như thế được ban hành, các công dân không buộc phải tuân giữ. Thật ra, những luật ấy một cách nào đó, không thật sự là luật. Trong trường hợp đó, chúng ta phải nghĩ đến lời của Thánh Phêrô nói với công nghị: Chúng tôi phải vâng lời Chúa hơn là vâng lời người ta. (Acts 5:29)

Luật Dân Sự

Tuy không buộc phải tuân giữ những luật lệ như thế, chúng ta cũng phải tùng phục tất cả những luật lệ phù hợp với luật Chúa. Chẳng hạn, phải giữ các luật liên quan đến quyền sở hữu của kẻ khác. Ngoài việc tuân phục các luật chính đáng, còn có những nghĩa vụ khác mà chúng ta là những người công dân phải thi hành.

Là công dân, chúng ta phải phát triển nhân đức ái quốc là lòng yêu đất nước mình. Yêu quê hương là điều tự nhiên và là điều tốt. Lòng ái quốc không chỉ là một phản ứng tình cảm suông ta có thể có, khi hát bài quốc ca hay quốc kỳ lúc bay phất phới. Phản ứng tình cảm này có thể chỉ là một khởi đầu. Còn lòng ái quốc là lòng yêu sâu sắc đất nước mình, và thúc giục chúng ta hiến thân để mưu cầu những điều tốt cho tổ quốc chúng ta và cho các công dân trong nước.

Đồng thời, chúng ta cũng phải tránh lòng yêu nước quá khích, đưa đến sai lầm của chủ nghĩa quốc gia cực đoan. Đây có thể là do lòng yêu nước mù quáng, không thấy những các dở của nước mình. Cũng cần tránh sự sai lầm nghịch lại là sự thiếu lòng yêu quê hương mình. Nó có thể đưa đến khinh chê và quay lưng lại chống quê hương mình gọi là phản quốc.

Người công dân Kitô giáo phải sử dụng ảnh hưởng của mình để giúp thiết lập một quốc gia công bình. Đây là một lãnh vực mà giáo dân đặc biệt được kêu gọi đem Chúa Kitô đến cho thế giới. Chúng ta phải ra sức thăng tiến những luật công bình và hợp luân lý để phù hợp vời luật Chúa. Khi gặp những luật bất công, chúng ta phải ra sức vận đông để thay đổi nó. Phải vận động để thay đổi những thái độ gây nguy hại như óc kỳ thị chủng tộc và sự thiếu tôn trọng sự sống con người, gồm cả những trẻ em chưa sinh ra, và những người nghèo, bằng cách giữ lối sống của chúng ta phù hợp với đức công bình, với sự thật và với tình thương. Trong một nước dân chủ, người Kitô hữu nên có một nghĩa vụ đặc biệt là tham gia vào việc cai trị đất nước mình, bằng việc bầu những lãnh tụ tốt hoặc có thể chính mình ra ứng cử vào chức vụ ấy.

Những Nghĩa Vụ Của Công Dân

Chúng ta còn có những nghĩa vụ khác với tư cách là công dân. Phải yểm trợ chính quyền bằng việc nộp thuế, và nếu cần, phải sẵn sàng bảo vệ tổ quốc chống lại xâm lăng bất công. Sau cùng, là Kitô hữu, phải có một bổn phận đặc biệt để cầu nguyện cho những người lãnh đạo và cho đất nước chúng ta.

Ngoài tư cách là công dân của đất nước mình, chúng ta còn là thành viên của một xã hội rộng lớn hơn, tức là thế giới. Không thể tự cô lập trong đất nước mình, nhưng chúng ta cần phải quan tâm đến tất cả các dân tộc khác. Là Kitô hữu, phải có trách nhei65m phục vụ người đồng loại, đặc biệt những người mà quyền làm người và các nhu cầu sống không được thừa nhận. Chúng ta phải ssấu tranh cho hòa bình và công lý trên thế giới, và bằng việc thực thi những việc lành phúc đức phần xác ở nơi nào ta có thể làm được.

Nhãn Quan Kitô Giáo về Các Tạo Vật

Trong chương đầu của Sách Khởi Nguyên, có nói về việc dựng nên thế giới. Thiên Chúa đã làm hiện hữu tất cả mọi tạo vật trên thế giới này từ hư vô. Trước tiên Người tạo dựng các vật vô tri, mật trời, mặt trăng, núi đồi và biển cả. Rồi Người tạo dựng cây cỏ đủ loại và nhiều thứ động vật, như chim, cá, sâu và các mãnh thú trên đất. Sau cùng Người đã tạo dựng người nam và người nữ như là chóp đỉnh công cuộc tạo dựng của Người trên mặt đất, và Người phán với họ:

Hãy nên đầy dẫy trên đất và hãy bá chủ nó; và hãy thống trị trên cá biển và chim trời, và mọi loài sinh vật nhung nhúc trên đất. (Gen 1:28)

Khi tạo dựng thế giới xong, Thiên Chúa ban cho con người quyền thống trị trên tạo thành của Người. Nghĩa là Thiên Chúa đã tạo dựng trái đất và tất cả những tạo vật trên đất, thú vật, cỏ cây, núi đồi, sông ngòi, vv... là để cho chúng ta. Chúng được dựng nên trước hết là để tôn vinh Chúa, và để nhắc chúng ta về Người, và dẫn chúng ta đến với Người, chẳng hạn như một phong cảnh hoàn hôn huy hoàng. Nhưng những vật đó cũng được dựng nên để đem lại cho chúng ta nguồn vui thỏa thích.

Vì là tạo vật cao quí trên đất, nên chúng ta được Chúa trao ban trách nhiệm lớn lao là quản lý các tạo vật này. Nghĩa là chúng ta phải chăm sóc chúng và sử dụng cách khôn ngoan muôn vàn quà tặng mà Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta không được phí phạm hay lạm dụng tạo thành của Chúa. Chúng ta lệ thuộc vào không khí, nước, rừng, cỏ cây và các súc vật để sống, để có của ăn và áo mặc. Quản lý không có nghĩa là không thể giết thú vật cho các mục đích trên, nhưng phải sử dụng chúng cho các nhu cầu của chúng tga, mà không phí phạm. Cũng không được hành hạ súc vật cách vô cớ, nhưng phải đối xử với chúng cách nhân từ.

Thánh Phanxicô Assisi là thề làm gương sáng cho chúng ta về sự chăm sóc phải có đối với tất cả các tạo vật của Chúa. Thánh nhân chẳng những yêu mến những kẻ nghèo trên đời này, mà còn yêu mến các tạo thành của Chúa nữa, như thú vật và tất cả vũ trụ thiên nhiên. Ngài đã thấy tất cả tạo thành này là những dấu vết và phản ảnh của Chúa. Các bạn đồng chí hướng với ngài đã ghi nhận cách ngài đối xử các thú vật rất âu yếm và dịu dành thế nào. Ngài nói về các thú vật và về tất cả mọi tạo vật như là anh em và chị em của ngài. Bài ca mặt trời là một ví dụ về sự kính trọng của ngài đối với công trình của Chúa.

Những Chữ Nên Biết:   Ích lợi chung - Quản lý - Lòng ái quốc.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Tại sao chúng ta phải vâng lời những người có quyền bính trên chúng ta?

Thưa vì không có một quyền bính nào mà không đến từ Thiên Chúa, cho nên ai chống lại quyền bính là đối địch với điều Thiên Chúa qui định. (Rm 13:1-2)

****************************************************************

BÀI 20: GIÁO HỘI VÀ TRẬT TỰ XÃ HỘI

Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. (Mt 28: 29-30)

Ngay trước khi lên trời, Chúa Giêsu đứng trên núi ở Galilê nói những lời này với các môn đồ. Lệnh truyền cuối cùng này nhắc nhở chúngg ta nhiệm vụ phải truyền bá Tin Mừng cho mọi người. Ngài truyền các môn đồ rửa tội dân các nước. Có nghĩa là làm sứ điệp Tin Mừng thấm nhập xã hội loài người, thành lập những nước Kitô giáo.

Vậy nhiệm vụ của Giáo hội đi xa hơn việc lôi kéo những cá nhân về với Chúa Kitô. Giáo hội còn phải giúp nắn đúc xã hội để luân lý công bằng sẽ có tính Kitô giáo. Và nhờ cách ấy, Giáo hội thanh tẩy trật tự xã hội, hầu mọi sự có thể được đổi mới trong Chúa Kitô.

Trong Kinh Thánh nhắc đến bốn tội đã kêu thấu tới Trời để đói báo thù. Đó là tội của người Xôđôma (có phong hóa đồi bại), tội cố sát, áp bức kẻ nghèo và không trả lương đúng mức cho người làm công. Những tội này kêu thấu Trời vì là những tội nặng nhất. Thờ quấy và lộng ngôn, chẳng hạn, còn nặng hơn. Dù vậy, cả bốn tội này đều là những sự bất công phá hoại trật tự căn bản của xã hội, cách riêng gia đình là nền tảng của xã hội. Vì hậu quả của chúng đè nặng trên xã hội, cho nên Giáo hội, suốt nhiều thế kỷ, đã luôn luôn bàn đến những vấn đề này trong các lời giáo huấn xã hội của mình.

Phần lớn các lời giáo huấn xã hội của Giáo hội có thể tìm thấy trong các thông điệp của các Đức Giáo Hoàng. Những văn kiện này được gởi đến tất cả các giám mục và toàn thể Giáo hội cũng là một phương cách để giáo huấn thế giới và đem Tin Mừng đến cho mọi dân tộc. Khi bàn đến ba loại tội kêu thấu Trời sau cùng trên đây, chúng ta sẽ đề cập đến một vài thông điệp này. Vì chúng được gởi đến toàn thể Giáo hội, nên nguyên thủy chúng được viết bằng một ngôn ngữ đại đồng của Giáo hội là tiếng Latinh.

Bảo Vệ Sự Sống Con Người

Cain đã xông vào Abel em nó mà giết đi. Và Giavê đã phán với Cain, Abel em ngươi đâu? Ngươi đã làm gì? Tiếng máu của em ngươi từ đất kêu oán lên đến Ta. (Gen 4:8-10)

Giết người là tội đầu tiên con người đã phạm sau khi sa ngã. Khi nói với Cain, Thiên Chúa đã nhắc cho chúng ta biết về sự bất công to lớn đã phạm. Tuy vậy, chúng ta biết rằng không phải mọi việc giết người đều sai trái cả đâu. Nếu Abel có giết Cain để tự vệ, thì việc này không phải là giết người. Giết người là cất lấy sự sống vô tội một cách bất công. Đó là điều mà Cain đã làm. Đó cũng là điều mà giới răn thứ năm muốn nói đến: Ngươi sẽ không giết người!

Trong thời hiện đại, một trong những hình thức cố sát là việc giết những trẻ em còn trong lòng mẹ chúng, sự phá thai. Đây là sự hủy hoại những con người vô tội nhất và bất lực nhất. Tội này phá hoại tương lai các gia đình và xã hội. Sự phá thai chắc chắn là một tội kêu oán đến trời.

Qua những lời giáo huấn của mình, Giáo hội luôn cố gắng bảo vệ sự sống con người khỏi những bất công như vậy. Trong thế kỷ 20 này, khi sự phá thai đã bành trướng đến nhiều quốc gia, kể cả nước chúng ta, các Đức Giáo hoàng thường nhắn nhủ thế giới về vấn đề này. Các ngài đã long trọng nói lên tính thánh thiện của đời sống con người từ lúc mới được thụ thai cho đến lúc chết cách tự nhiên, và tính chất quan trọng của gia đình, nơi mà sự sống mới đã bừng lên và được nuôi dưỡng. Hai thông điệp xã hội quan trọng đề cập đến vấn đề này là thông điệp Casti Connubii (Hôn Nhân Kitô Giáo) của Đức Pio XI và Humanae Vitae (Về Sự Sống Con Người) của Đức Phaolô VI.

Chiến Tranh Và Hòa Bình

Giáo hội luôn dạy rằng các quốc gia có quyền tự vệ chống lại một cuộc tấn công bất công, thì cũng giống như một người tự bảo vệ mình hay bảo vệ gia đình mình, hoặc bảo vệ một người không có khả năng tự vệ là một việc làm hợp pháp. Điều này được gọi là một chiến tranh chính đáng. Dĩ nhiên, trước hết người ta phải tìm kiếm và dùng những phương cách khác để ngăn chặn đã, nếu có thể làm được và làm có hội quả. Và việc đáp trả cuộc tấn công cũng không được đi quá xa. Nguyên tắc luân lý được áp dụng là: giữ sự chừng mực trong việc tự vệ để không thể bị khiển trách được.

Công đồng Vatican II dạy rằng: Mọi hành động chiến tranh nhằm hủy diệt cách bừa bãi toàn thể thành phố hoặc những phạm vi rộng lớn có dân cư là một tội ác phạm đến Thiên Chúa và loài người, dáng bị lên án cách thẳng thừng và dứt khoát. (Vui mừng và Hy vọng, 80) Về vấn đề dùng vũ khí nguyên tử để ngăn chặn, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II khẳng định như sau: Trong điều kiện hiện tại, sự ngăn chặn căn cứ trên sự thăng bằng, chắc chắn không phải như là một cứu cánh, nhưng như là một gia đoạn trên đường giải giới tuần tự, thì còn có thể được xét là có thể chấp nhận được, theo mặt luân lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hòa bình, cần thiết là ta không nên hài lòng với mức tối thiểu luôn luôn còn hiểm họa bùng nổ thật sự. (Sứ điệp nhắn gởi đến Liên Hiệp Quốc. Tháng 6 năm 1992)

Nhiều Hội Đồng Giám mục đã soạn những thư mục về vấn đề chiến tranh và hòa bình, chẳng hạn các giám mục Hoa Kỳ và Pháp. Các ngài đồng ý trên nguyên tắc căn bản, nhưng cũng đồng ý rằng trong thực tế, sự áp dụng có phần khác nhau vì có dính líu đến những phê phán khôn ngoan.

Công Bình Xã Hội

Người sẽ không ngược đãi khách ngụ cư hay áp bức nó. Người sẽ không ức hiếp mẹ góa con côi. Nếu ngươi ức hiếp nó và nó kêu oán lên Ta, Ta sẽ nghe tiếng kêu oán của nó. (Exodus 2:21-23)

Các ngươi đã gian lận mà giữ lại tiền lương của những thợ đi cắt lúa trong ruộng của cac1 ngươi. Kìa, tiền lương ấy đang kêu oán trách các ngươi, và... đã thấu đến tai Chúa Tể càn khôn. (James 5:4)

Áp bức người nghèo, người góa bụa, kẻ mồ côi, vv... và gian lận tiền lương c?a người nàm công cũng là những tội làm hại đến xã hội cách trực tiếp. Hai điều tai ác này là nền tảng giáo huấn của Giáo hội về vấn đề kinh tế và công dân. Giáo hội nhắc nhở mọi người và mọi nước về bổn phận theo đức công bình mà chăm lo những kẻ bất hạnh sống giữa chúng ta. Vì vậy, Giáo hội dạy chúng ta về những sự ác mà những hệ thống kinh tế đã làm khi khai thác người nghèo.

Giáo hội cũng dạy về bổn phận quan trọng phải trả tiền lương đúng mức cho người làm công. Các gia đình sẽ không tồn tại được trừ phi các gia trưởng được trả công đủ để cung cấp cho gia đình họ những nhu cầu căn bản, như thực phẩm, áo quần và chỗ ở.

Những giáo huấn về các vấn đề kinh tế đã được chú ý cách riêng trong từ một năm nay. Các Đức Giáo Hoàng đã viết một số thông điệp quan trọng về những đề tài này. Trong thông điệp đầu tiên được viết năm 1981, đặt nền tảng cho những thông điệp tiếp sau đó, là thông điệp Rerum Novarum (Về Điều Kiện Lao Động) do Đức Giáo Hoàng Lêô XIII soạn thảo. Một thông điệp gần đây hơn, đầu đề là Laborens Excercens (Chân Giá Trị của Lao Động) do Đức Gioan Phaolô II viết.

Trong mối quan tâm của chúng ta về sự thăng tiến phẩm giá con người, chúng ta phải nhận thấy rằng không phải tất cả mọi phong trào, mọi ý thức hệ, hay mọi chế độ chính quyền tự cho là mưu cầu quyền lợi con người hay người nghèo, là họ thực hiện được như vậy.

Có vài phong trào trong thế kỷ 20 này đã bị Giáo hội lên án. Chủ nghĩa Cộng sản, tự cho là đảng đứng ra tranh đấu cho giai cấp bị áp bức trong xã hội, thì lại khai thác người nghèo và dẹp bỏ những quyền lợi căn bản của con người. Chủ nghĩa xã hội quốc gia (chủ nghĩa phát xít) tự cho mình là dòng giống có ưu thế, và người phát xít nô lệ hóa và khủng bố kẻ khác cách dã man, phạm cả tội diệt chủng. Mọi hình thức kỳ thị chủng tộc đều bị Giáo hội lên án, vì mọi người chúng ta đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và Đức Kitô đã chết cho từng người một trong chúng ta. Do đó, Giáo hội đã dạy ta biết về những tai ác của những hệ thống chính trị này. Đức Giáo hoàng Piô XI đã viết hai thông điệp về những vấn đề này, Mit Brennender Sorge (Chống lại chủ nghĩa quốc gia) và Divini Redemptoris (Về cộng sản vô nhân).

Những giáo huấn xã hội này nhắc chúng ta về ơn gọi Kitô hữu để sống trong thế gian nhưng không theo con đường của thế gian. Có nhiều thời gain trong lịch sử, người ta đã quên sự hướng dẫn của Giáo hội và đã sống theo những thói sống nghịch với Tin Mừng. Nghĩa vụ của chúng ta là phục hồi lại những giá trị của xã hội, nếu có thể được. Bất cứ lúc nào, ngay cả khi thế gian chống lại ta, ta cũng phải lắng nghe và vâng lời Giáo hội.

Những Chữ Nên Biết: Chiến tranh chính đáng - Sự phá thai

****************************************************************

BÀI 21: CẦU NGUYỆN

Hãy lấy kinh nguyện và cầu xin mà khẩn cầu mọi thời mọi buổi, trong Thánh Thần. (Eph 6:18)

Là Kitô hữu, chúng ta được gọi thánh hóa đời sống của mình và sống kết hiệp với Chúa Kitô. Hai phương thế chủ yếu để thực hiện điều này là cầu nguyện và các bí tích.

Cầu nguyện là nâng lòng trí ta lên tới Chúa. Cũng như lời nói là cách chúng ta liên lạc với bạn bè, thì cầu nguyện là cách là cách chúng ta tâm giao với Chúa. Mọi tưởng nghĩ về Chúa, dù dài hay ngắn, đều có thể là một lời nguyện. Chẳng hạn, chúng ta nhìn nhận uy quyền tối cao của Chúa hoặc là bày tỏ lòng biết ơn Ngài về những phước lành Ngài đã ban cho ta. Hoặc có thể chỉ bày tỏ lòng ta yêu mến Ngài. Tất cả mọi cái đó là cầu nguyện.

Cầu nguyện thiết yếu cho đời sống thiệng liêng của chúng ta, như thấy trong sách Tin Mừng. Trong thời giảng dạy công khai, Chúa Giêsu thường hay cầu nguyện. Chẳng hạn Ngài đã cầu nguyện trong hoang địa trước khi Ngài biến hình. Vì Ngài đã cầu nguyện trong vường Giếtsêmani, đêm trước khi Ngài chịu chết. Bằng những lần cầu nguyện ấy, Ngài đã dạy chúng ta sự quan trọng của việc cầu nguyện.

Nhưng Chúa Giêsu không chỉ dạy chúng ta cầu nguyện bằng việc làm; Ngài nhiều lần còn nói cho các tông đồ nghe về sự cần thiết của việc cầu nguyện. Có lần Ngài đã dạy họ phải luôn cầu nguyện, đừng nhàm chán. (Lc 18:1) Lúc khác, Ngài dạy phải cầu nguyện ngay chính lúc khó cầu nguyện được. Chẳng hạn có lúc những ý nghĩ mông lung làm chia trí khi ta cầu nguyện. Những sự đãng trí này có thể làm chúng ta ngã lòng và cám dỗ chúng ta buông xuôi. Nhưng Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tiếp tục cầu nguyện. Những sự đãng trí không phải luôn luôn là lỗi tại ta, và ta phải cố gắng lôi kéo ý nghĩ của ta trở về với Chúa, và đó là dấu ta yêu mến Ngài.

Ta phải cầu nguyện thế nào? Thoạt tiên, trước khi cầu nguyện, ta phải chuẩn bị tâm hồn để qui tư tưởng của ta về với Chúa. Ta phải gạt bỏ mọi ý nghĩ khác ra khỏi trí ta và hướng tất cả sự chú ý của ta về Chúa. Đôi khi vài vật hữu hình như những bức tượng hay hình ảnh có thể giúp ta tập trung tư tưởng vào Chúa. Kế đến, ta phải cầu nguyện với lòng khiêm nhường, như người thu thuế mà Chúa Giêsu đã kể trong một dụ ngôn. (Lc 18:9-14) Rồi phải có lòng tin và cậy trông rằng Chúa sẽ nhận lời cầu của ta. Như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly:

Quả thật, quả thật, Thầy nói cùng các con, nếu các con xin gì cùng Cha, Ngài sẽ ban cho các con nhân danh Thầy. (Jn 16:13)

Thứ tư là phải cầu nguyện với lòng tùng phục theo thánh ý Chúa như Chúa Giêsu đã làm trong đêm Ngài chịu nộp. Có nghĩa là chấp nhận mọi cách Ngài đáp lời cầu xin của ta. Sau cùng, phải bền bỉ cầu nguyện. Nghĩa là tiếp tục cầu nguyện luôn, cho dù như Chúa không nghe ta cầu nguyện. Để minh họa điều này, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn sau đây:

Ai trong các ông có người bạn thân trong ban đêm, đến nói vơí nó rằng: Này bạn! Cho tôi vay ba chiếc bánh, vì có người bạn qua đường ghé lại thăm tôi, mà tôi lại không có gì để đãi cả; và người kia bên trong đáp lại rằng: Đừng quấy rầy tôi, cửa đã khóa rồi, các con tôi lại nằm cùng giường với tôi; tôi không thể dậy mà cho anh được. Tôi bảo các ông, dẫu nó không muốn dậy mà cho anh ta vì là bạn thân, thì cũng vì anh ta quấy rầy đòi dai mà phải chỗi dậy cho anh ta những gì anh ta cần đến. (Lc 11:5-8)

Có hai dạng cầu nguyện: Cầu nguyện bằng trí và cầu nguyện bằng lời.

Cầu nguyện bằng trí là nói trong nội tâm. Cầu nguyện như thế kết hiệp tâm hồn ta với Chúa trong khi ta suy gẫm về những chân lý thánh thiện của Ngài. Cách cầu nguyện này thường bắt đầu bằng việc suy gẫm về một đoạn Kinh Thánh hoặc một trong những mầu nhiệm của đức tin chúng ta, để khơi dậy nơi ta lòng yêu mến Chúa và kết hiệp bản thân ta vơí Ngài. Một dịp tốt để ta cầu nguyện cách này là sau khi rước lễ.

Cầu nguyện bằng lời là đọc kinh, một mình hay với người khác. Tuy nhiên chỉ lời nói mà thôi thì không phải là cầu nguyện như tiên tri Isaia đã nhắc nhở dân Chúa trong Cựu Ước: Dân này lại gần Ta chỉ bằng miệng và ngoài môi, chúng tôn vinh Ta, còn lòng chúng thì tách xa Ta. (Is 29:13) Chúng ta phải kết hiệp lòng và trí mình vào với lời đang đọc.

Kinh nguyện đọc có thể là kinh chính thức hay không chính thức. Kinh theo nghi thức là những kinh được soạn theo một mô thức hoặc một công thức. Kinh theo nghi thức là những được soạn theo một mô thức hoặc một công thức. Những kinh ấy dùng những lời do một người nào khác đặt ra, như Chúa Giêsu, Thiên Thần Gabriel hay một vị thánh nào. Kinh Lạcy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Hãy Nhớ và kinh Aên Năn tội là những ví dụ về các kinh theo chính thức. Các Thánh vịnh trong Cựu Ước do vua Đacit soạn và được Thiên Chúa linh hứng cũng là những kinh theo chính thức. Có nhiều lúc những kinh này giúp ta chuyển hướng suy tư của ta lên cùng Chúa. Chúng chỉ cho ta phải cầu nguyện như thế nào. Chúng nâng lòng trí ta và ban cho ta tràn đầy những ao ước về thiên giới và những thái độ đúng mức. Những kinh nguyện này liên kết ta lại với những chi thể khác của Thân Mình Chúa Kitô, họ cũng cầu nguyện cùng một kinh nguyện như ta.

Có những lúc khác ta dùng những ngôn từ riêng của ta để cầu nguyện. Cầu nguyện như thế được gọi là cầu nguyện không chính thức. Cách này để ta chuyện trò với Chúa về bản thân gta cách chân thành, dâng hiến lên Ngài những nỗi vui buồn riêng tư của ta và cầu xin Ngài ban cho ta sự trợ giúp đặc biệt mà ta cần.

Ta có thể cầu nguyện vì bốn lý do đó. Kinh nguyện mà ta nhìn nhận trước hết sự cao cả của Chúa và sự lệ thuộc của ta vào Ngài là lời kinh thờ phượng. Trong khi tất cả các kinh nguyện của ta được bắt đầu như là những kinh ngợi khen thì có một số kinh như Kinh Thánh, Thánh, Thánh trong Thánh Lễ chỉ là lời kinh thờ phượng.

Lý do thứ hai để cầu nguyện là để tạ ơn Chúa vì những phước lành Người đã ban cho ta. Đó là những lời kinh tạ ơn. Trong mỗi Thánh lễ chúng ta được nhắc đến tính cách quan trọng của việc tạ ơn này. Trước khi đọc Kinh Nguyện Thánh Thể, vị chủ tế tuyên bố: Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta và ta đáp lại: Thật là chính đáng mà tạ ơn và ngợi khen Người.

Thống hối ăn năn là lý do thứ ba của việc cầu nguyện. Trong lời cầu nguyện thống hối ta nhìn nhận tội lỗi của ta và cầu xin Chúa tha tội. Khi đọc Kinh Cáo Mình lúc đầu Lễ là đọc kinh thống hối ăn năn.

Lý do cuối cùng của cầu nguyện là xin ơn. Đây là lời cầu nguyện thông thường nhất trong thực tế. Nhiều người chỉ nhớ cầu nguyện Chúa khi họ cần một cái gì. Kinh xin ơn là kinh ta dâng lên Chúa để xin Ngài chúc lành cho ta và cho những kẻ khác. Xin Chúa giúp đỡ là một điều xứng hợp, vì ta cần xin cho cuộc sống trên trần gian để có thể đạt tới Thiên đàng. Lời nguyện giáo dân trong Thánh Lễ là những ví dụ về Lời nguyện xin ơn.

Bây giờ ta hãy xét qua vài kinh nguyện chính thức có tầm quan trọng của Giáo hội Công giáo. Quan trọng bậc nhất là những kinh nguyện trong phụng vụ của Hội thánh, gồm có Thánh Lễ và Phụng vụ các giờ kinh. Thánh Lễ là kinh nguyện hoàn hảo vì là sự hiến dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trên Trời. Thánh Lễ cũng là việc thờ phượng cao cả nhất, nhờ đó ta cảm tạ Chúa. Vì Thánh Lễ cũng cùng một lễ hy sinh như lễ hy sinh trên núi Calvariô, nên nó là phương thế hoàn hảo để đền tội cho chúng ta. Vì Thánh Lễ là để kỷ niệm Chúa Phục sinh, nên nó là một kinh tạ ơn. Cuối cùng vì Thánh Lễ là của lễ hy sinh hoàn hảo, nên nó là cách tốt nhất để ta xin ơn Chúa.

Phụng vụ các giờ kinh cũng là một kinh nguyện quan trọng. Đó là một kinh ngợi khen nhờ đó ta có thể thánh hóa cả ngày giờ của ta. Như đã thấy, vài chi tiết của Hội thánh, các linh mục và các tu sĩ, phải đọc Kinh Nhật Tụng mỗi ngài. Nhưng chúng ta cũng được Hội thánh mời tham dự vào kinh nguyện này.

Một hôm các môn đệ thưa Chúa Giêsu: Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, và Người đã dạy họ Kinh Lạy Cha. Kinh này chứa đựng nét đại cương của các đặc tính phải có trong lời kinh nguyện của chúng ta và của các điều ta phải xin cùng Chúa. Do đó, kinh này không chỉ là một kinh kỳ diệu, mà còn là mẫu kinh cho các kinh nguyện của ta. Ý nghĩa của kinh này phong phú đến nỗi ta có có suy gẫm suốt cả đời mình. Hãy thử xét qua những lời trong Kinh Lạy Cha.

Lạy Cha Chúng Con ở Trên Trời,

Chúng ta bắt đầu kinh này bằng cách đặt mình hiện diện trước mặt Chúa, nhìn nhận Ngài là Cha của chúng ta và cũng là Thiên Chúa.

Chúng Con Nguyện Danh Cha Cả Sáng,

Tiếp đến Ta thờ lạy Chúa khi cầu xin cho danh Ngài được hiển thánh và được kính trọng dưới đất.

Nước Cha Trị Đến,

Chúng ta cầu nguyện cho nước của Ngài, nước của Chúa Kitô, là Giáo hội, được tăng trưởng và lan rộng khắp hoàn cầu.

Ý Cha Thể Hiện...

Chúng ta kết thúc phần thứ nhất của kinh này bằng lời xin ý Chúa, chứ không phải ý ta, được thể hiện. Với ba lời nguyện xin đầu tiên này, chúng ta thêm ở dưới đất cũng như trên trời, vì danh Chúa đã được tôn kính trên Thiên Đàng, trên Thiên Đàng, Nước Người đã được lan tràn; và sau cùng, trên Thiên Đàng Nước Người đã được thể hiện.

Xin Cho Chúng Con Bánh Ăn Hằng Ngày,

Bây giờ chúng ta cầu xin cho chúng ta, xin Chúa ban cho những điều điều cần thiết, cà phần xác lẫn phần hồn.

Và Tha Nợ Chúng Con Như Chúng Con Cũng Tha Kẻ Có Nợ Chúng Con,

Chúng ta nhìn nhận tội lỗi của mình và xin Chúa vì lòng nhân từ của Ngài tha thứ cho chúng ta cùng mức độ ta tha cho những kẻ làm mất lòng ta.

Xin Chớ Để Chúng Con Sa Chước Cám Dỗ, Nhưng Cứu Chúng Con Cho Khỏi Sự Dữ.

Chúng ta kết thúc kinh này với việc xin Chúa giúp mình trong khi bị cám dỗ và tăng sức mạnh cho mình khi phải đối phó với những dịp tội.

Một kinh cao quí khác ma Giáo hội khuyên đọc là Chuỗi Mân Côi. Kinh này là một thành phần trong đời sống thiêng liêng của nhiều người Công giáo, nhất là trong Giáo hội theo nghi thức Rôma, gần tám thế kỷ này. Giáo hội khuyến khích ta đọc kinh tốt đẹp này bằng dâng trọn một tháng, tức tháng mười, để lần chuỗi mân côi. Chuỗi mân côi kết hiệp việc suy gẫm và kinh nguyện bằn glời. Chuỗi Mân Côi được chia làm 15 mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Giêsu và Đức Mẹ. (Đức Giaó Hoàng Gioan Phaolô I I mới đây mới thêm vào Mầu Nhiệm Ánh Sáng) Trong khi đọc kinh, một kinh Lạy Cha, Mười kinh Kính Mừng và một kinh Sáng Danh cho mỗi mầu nhiệm, chúng ta suy gẫm về những biến cố khác nhau trong đời sống của Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Tìm giờ trong đời sống để chúng ta cầu nguyện là điều quan trọng giúp mình chu toàn ơn gọi nên thánh.

Những Chữ Nên Biết:   Suy gẫm - Đọc kinh - Chuỗi Mân Côi - Kinh nhật tụng.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Cầu Nguyện là gì?

Thưa là nâng tâm hồn lên cùng Chúa để hiểu biết Người hơn, để thờ lạy và cảm tạ Người, và để cầu xin những gì cần thiết.

2.         Có mấy loại cầu nguyện?

Có hai loại cầu nguyện: bằng trí (suy gẫm) và bằng lời (đọc kinh)

3.         Suy gẫm là gì?

Thưa là cầu nguyện trong nội tâm, vận dụng trí óc và trái tim mà thôi.

4.         Đọc kinh là gì?

Là cầu nguyện bằng lời với sự tham gia của trí óc và trái tim.

5.         Ta phải cầu nguyện như thế nào?

Khi cầu nguyện, ta phải có tư thế như đứng trước sự hiện diện đầy quyền uy của Chúa và ta cần đến lòng thương xót của Người. Phải khiêm nhường, chăm chú và sốt sắng trong lời nguyện của chúng ta.

6.         Ta phải xin Chúa những gì?

Phải cầu cho sự vinh hiển của Chúa, và cho ta thì xin cho được sự sống đời đời và được những ơn sủng cùng những ơn phần xác, như Chúa Giêsu đã dạy trong Kinh Lạy Cha.

7.         Kinh Lạy Cha là gì?

Thưa là Kinh Chúa Giêsu đã dạy và khuyên chúng ta đọc, vì thế mà gọi là Kinh của Chúa Giêsu, một kinh hay nhất trên các kinh.

8.         Tại sao Kinh Lạy Cha lại là kinh hay nhất hơn hết?

Thưa vì là kinh phát xuất từ trí óc và trái tim của Chúa Giêsu, và vì nó gồm trong bảy lời xin ngắn gọn tất cả những gì chúng ta phải xin cùng Chúa như con cái của Người và là anh chị em với nhau.

9.         Với tư cách là những con cái tốt lành của Chúa, chúng ta phải xin những gì?

Thưa phải cầu xin cho hết thảy mọi người được nhận biết Người, cho nước Người là Giáo hội được truyền bá khắp nơi, cho thánh ý Người được mọi người vâng phục. Đó là những lời ta cầu xin trong ba lời xin đầu tiên của Kinh Lạy Cha.

10.       Với tư cách là anh chị em với nhau, chúng ta phải xin những gì?

Thưa phải cầu xin của ăn phần xác và phần hồn, xin được ơn tha thứ tội lỗi, được sức chống trả cám dỗ và được thoát khỏi sự dữ. Đó là những điều ta cầu xin cho bản thân và cho mọi người trong bốn lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha.

***********************************************************

BÀI 22: SỐNG VỚI CÁC BÍ TÍCH

Ai uống nước Ta ban cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Ta cho sẽ trở thành nới người ấy một mạch nước chảy vọt, mang lại sức sống đời đời. (Jn 4:14)

Cùng với lời cầu nguyện, Chúa Kitô đã ban cho ta một phương thế kỳ diệu để nên thánh. Ngài đã ban cho giáo hội các bí tích để thánh hóa chúng ta. Các bí tích là những phương thế nhờ đó ta nhận lãnh nước hằng sống mà Chúa Kitô đã nhắc đến. Nước theo nghĩa này là sự sống của Thiên Chúa dưới danh xưng là ơn thánh hóa.

Một bí tích là một dấu bên ngoài đã được Chúa Kitô thiết lập ra cho chúng ta ơn thánh. Một dấu là một sự vật tượng trưng, tiêu biểu cho một cái gì khác. Chẳng hạn lá quốc kỳ tiêu biểu cho đất nước chúng ta; khỏi chỉ sự hiện diện của lửa. Chúng ta đều quen thuộc với những dấu này trong các bí tích. Nước trong bí tích Rửa tội, chẳng hạn, chỉ về sự chết trong chúng ta cho tội lỗi, sự thanh tẩy linh hồn, và sự sống mới mà Thiên Chúa ban cho chúng ta. Nhưng các bí tích còn hơn là những dấu thông thường. Nó là những dấu sinh hiệu quả. Nghĩa là nó thực hiện thật sự điều mà nó tiêu biểu.

Để hiểu điều này rõ hơn, bạn cứ thử nghĩ đến một dấu thông thường là bảng Stop. Bảng này nói cho người tài xế phải ngừng ngã tư đường. Nhưng bảng ấy không làm cho tài xế ngừng. Còn các bí tích thì khác. Trong Bí tích Rửa Tội, khi nước được đổ ra cùng với lời đọc: Cha rửa con... thì linh hồn được tẩy sạch và sự sống mới do ơn thánh được phú ban cho ta thật sự. Đó là năng lực cao cả mà Chúa Giêsu đã ban cho những dấu đơn giản này.

Chính Chúa Kitô đã ban cho chúng ta các bí tích hầu chúng ta có thể thông phần vào sự sống của Ngài và có sự sống đó được nuôi dưỡng trong ta. Ngài ban cho chúng ta những bí tích này để có phương thế chắc chắn, hay bảo đảm mà lãnh nhận được ơn mà Ngài đã đoạt được khi Ngài chết trên thánh giá vì chúng ta. Nhưng tại sao Ngài lại chọn cách ban cho chúng ta ơn thánh này bằng các bí tích?

Là con người, chúng ta biết được là nhờ những vật thể chất xung quanh chúng ta. Vì thế đó, để biết chúng ta phải nhờ đến các giác quan của chúng ta, thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, và khứu giác. Chúa Giêsu ban cho chúng ta các bí tích như là những phương thế hữu hình, nghĩa là ta chó thể cảm nhận nó được, để nhận biết được rằng ơn thánh đang hoạt động trong đời sống chúng ta. Lúc chịu phép rửa tội, khi chúng ta thấy nước được đổ lên chúng ta và nghe những lời kèm theo, thì biết được rằng sự sống của Thiên Chúa lúc ấy đến ngự trong linh hồn của người được chịu rửa tội. Chúng ta biết được điều này cách chắc chắn. Cũng cùng cách ấy, khi chúng ta nghe cha giải tội nói rằng tội chúng ta được tha, thì chúng ta biết Chúa đã tha tội cho chúng ta.

Tất cả mọi bí tích đều làm chúng ta nên thánh bằng cách ban cho ta ơn thánh hoặc bằng cách phục hồi, hoặc gia tăng đời sống của ơn thánh trong chúng ta. Cho nên tất cả các bí tích đều nuôi dưỡng và củng cố đời sống thiêng liêng của chúng ta và giúp chúng ta tiến lại gần Chúa hơn. Tuy nhiên, có hai bí tích mạch sống dẫn ta đến ơn thánh, đó là bí tích Thống hối và Thánh Lễ.

Bí Tích Thống Hối

Chiều ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra cho các tông đồ trong phòng trên. Ngài nói với các ông: Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha; các con cầm giữ tội ai thì tội người ấy bị cầm giữ. (Jn 20: 22-23) Chúa Kitô ban cho các tông đồ và những kẻ kế vị các ngài năng quyền để tha tội, và như thế là Ngài đã lập Bí tích Thống hối, hay là Phép Giải Tội.

Mặc dù tội nguyên tổ đã được tẩy xóa nhờ Bí Tích Rửa Tội, chúng ta biết mình vẫn ở trong tình trạng suy yếu. Chúng ta cảm thấy có một khuynh hướng thiên mạnh về tội, và thật sự chúng ta có thể rơi vào tội một cách dễ dàng. Chúa Giêsu đã biết các Kitô hữu vẫn còn có thể phạm tội. Nên Người ban cho chúng ta bí tích Thống hối hay bí tích Giáo hòa để chúng ta có thể thường xuyên lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Như thế, bí tích Thống Hối là một quà tặng vĩ đại nhờ đó các tội chúng ta phạm sau khi đã chịu phép Rửa tội cũng được tha. Nếu chúng ta phạm một tội trọng, Thiên Chúa sẽ phục hồi sự sống của Người trong linh hồn chúng ta mà ta đã làm mất. Thiên Chúa gia tăng sự sống của Người trong chúng ta và củng cố tình bạn hữu của ta với Người khi chúng ta xưng thú các tội nhẹ. Hơn nữa, nhờ các ơn hiện sủng hay là ơn do các bí tích mà chúng ta lãnh nhận, Chúa giúp chúng ta tránh tội trong tương lai. Chẳng hạn khi ta xưng rằng mình đã nói dối, thì Chúa sẽ ban cho ta sức mạnh và giúp ta trở nên đáng tin hơn trong tương lai.

Bí tích thống hối có thể giúp chúng ta đến gần Chúa hơn và làm cho chúng ta trở nên những Kitô hữu tốt hơn và dũng mạnh hơn. Vì lý do đó, thường xuyên lãnh nhận bí tích này là một điều tốt, cho dù không phạm tội trọng nào.

Muốn xưng tội nên và lãnh nhận bí tích này cách xứng đáng, chúng ta phải làm 5 việc sau đây:

1.         Trước khi lãnh nhận bí tích, phải xét lương tâm. Ta phải cầu xin Chúa giúp nhận ra các tội đã phạm từ sau lần xưng tội trước đến bây giờ.

2.         Phải có lòng thành thật buồn phiền về các tội đã phạm, nghĩa là lòng ăn năn tội. Lòng ăn năn này dựa trên lòng yêu mến Chúa, buồn phiền vì đã xúc phạm đến Người, và phải chê ghét các tội của chúng ta.

3.         Phải có sự quyết tâm vững vàng là sẽ không phạm tội nữa. Nghĩa là ta phải quyết tâm làm mọi sự trong khả năng của ta để tránh tội và các dịp tội trong tương lai. Nếu không có ý từ bỏ con đường tội lỗi của ta, thì Chúa sẽ không thể tha tội cho ta. Vì ta đã không thống hối thành thật!

4.         Phải xưng thú các tội lỗi cách thật thà cho linh mục giải tội. Nghĩa là ta không che dấu một tội trọng nào; cũng không được che dấu sự gì vì xấu hổ ngượng ngùng. Vị linh mục thay mặt Chúa ở đó để ban ơn tha tội cho ta, chứ không phải để khiển trách cách không cần thiết. Tuy vậy, ngài có thể cho ta vài lời khuyên hay hướng dẫn giúp ta chiến thắng các cám dỗ và tội thường phạm.

5.         Sau cùng phải sẵn sàng thi hành việc đền tội mà linh mục giải tội đề ra cho ta, và phải làm cho xong.

Thánh Lễ Tạ Ơn

Thật, Ta bảo thật các ông, ai ăn thịt và uống máu Ta, thì được sống muôn đời. (Jn 6:54)

Phép Thánh Thể là Bí tích có Chúa Giêsu hiện diện, thân xác và máu, linh hồn và thiên tính, dưới hình bánh và rượu. Thân xác chúng ta cần lương thực vật chất để sống thế nào, thì linh hồn ta cũng được nuôi dưỡng như vậy. Bí tích Thánh Thể là của ăn thiêng liêng ấy.

Bí tích Thánh Thể là phương thế để nhận lãnh ơn thánh, và đồng thời cũng là nguồn ơn thánh, là chính Chúa Giêsu. Cho nên Bí tích Thánh Thể là bí tích quan trọng nhất và là nguồn ban phát mọi ơn thánh.

Khi lãnh nhận Thánh Thể, còn gọi là Hiệp Lễ, chúng ta được kết hiệp với Chúa Kitô. Qua việc hiệp lệ, đời sống của Thiên Chúa được gia tăng trong linh hồn chúng ta, đem ta đến gần Chúa hơn. Cũng như lương thực tăng sức thân xác chúng ta để làm những công việc thân xác khó khăn, thì bí tích cao cả này giúp chúng ta giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn về mặt thiêng liêng.

Để hưởng được những ơn thánh của bí tích Thánh Thể, chúng ta phải chuẩn bị bản thân để rước Chúa một cách xứng đáng. Trước tiên chúng ta phải sống trong ơn thánh khi ta chịu lễ. Nghĩa là nếu có phạm một tội trọng, trước hết phải đi xưng tội trước khi lên rước Chúa. Thánh Phaolô viết cho các tín hữu ơỏ Corintô: Bất cứ ai ăn bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. (1 Cor 11:27) Rước Chúa trong tình trạng có tội năng là phạm sự thánh.

Sau nữa, để rước Mình Thánh Chúa cách xứng đáng, chúng ta phải tin Chúa Giêsu hiện diện thật trong bí tích này. Một lần nữa, Thánh Phaolô nhắc chúng ta: Ai ăn và uống mà không phân biệt được thân thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình. (1 Cor 11: 29) Vậy phải chuẩn bị tâm hồn để chịu lễ mà nhớ rằng chúng ta sắp được rước lấy Mình và Máu Chúa chúng ta.

Sau cùng, chúng ta phải tuân giữ chay lòng. Giáo hội ban hành luật này: không được ăn hay uống gì (trừ nước lã hay thuốc men) một giờ trước khi rước lễ, vì lòng cung kính để chúng ta có thể dọn mình rước Chúa cao cả và là Vua chúng ta. Sự hy sinh nhỏ này nhắc chúng ta về điều mình sắp cử hành. (Các bệnh nhân và những người săn sóc họ thì được chuẩn khỏi việc giữ chay lòng này).

Sau khi rước Chúa Giêsu rồi, chúng ta phải dành ra một thời gian để tạ ơn, tạ ơn Ngài vì ssã đến vơí chúng ta và cầu xin Ngài giúp chúng ta. Bài kinh sau đây, được gọi là kinh linh hồn Chúa Kitôm có thể giúp chúng ta suy niệm về món quà cao cả mà chúng ta vừa lãnh nhận. Nhiều người đọc kinh này sau khi chịu lễ:

Ớ xác thánh Chúa Kitô, xin cứu lấy con được rỗi.

Ớ máu thánh Chúa Kitô, xin cho lòng con say mến.

Ớ nước lương long Chúa Kitô, xin rửa con cho thanh sạch.

Ớ sự thương khó Chúa Kitô, xin cho lòng con bền vững.

Lạy Đức Chúa Giêsu nhân từ, xin nhận lấy lời con cầu nguyện.

Xin Chúa ẩn con nơi thương tích Chúa.

Xin Chúa chớ để con lìa khỏi Chúa.

Xin Chúa chữa con khỏi kẻ dữ thù.

Xin Chúa gọi con trong giờ lâm tử.

Xin Chúa dạy con chạy đến cùng Chúa, hiệp cùng các thánh mà ngợi khen Chúa muôn muôn đời muôn kiếp chẳng cùng. Amen

Vì Thánh Thể là nguôn ban của ăn thiêng liêng cho chúng ta, vậy ta nên năng chịu bí tích này. Khi tham dự Thánh Lễ mỗi ngày Chúa Nhật, chúng ta có thể rước lễ ít nhật là một tuần một lần. Tuy nhiên ý thức được sự cao cả của bí tích này, chúng ta hãy cố gắng rước Chúa thường xuyên hơn, nếu được hằng ngày, bằng cách đi dự lễ những ngày trong tuần. Thánh Phanxicô đễ Salê, trong cuốn dẫn nhập vào đời sống đạo đức, nhắc cho chúng ta điều này:

Hai hạng người cần rước lễ thường xuyên, những người hoàn thiện, vì đã được chuẩn bị đầy đủ, nếu họ không tiến đến gần nguồn mạch sự trọn lành là phạm một sai lầm lớn; và người bất toàn, để họ có thể bảo tồn sự dũng mạnh của họ; những người yếu đuối để họ có thể tìm được sự chữa lành; những người lành mạnh để họ có thể giữ được khỏi đau ốm.

Cho dù không thể tham dự Thánh Lễ được, chúng ta cũng có thể rước Chúa cách thiêng liêng mà xin Chúa Giêsu đến với chúng ta và ở trong chúng ta một cách đặc biệt.

Khi cầu nguyện, Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, chúng ta cũng có ý cầu xin được rước Mình Thánh Chúa. Khi ý thức được tình thương mến tột độ Chúa Giêsu đã tỏ ra cho chúng ta qua việc thiết lập cách thức ở lại với chúng ta như thế, chúng ta càng phải ao ước rước lấy Ngài thường xuyên hơn. Ngài là niềm hân hoan của các thánh. Thánh Têrêsa Avila đã cầu nguyện rằng: Mặc dù mắt phàm trần không thể được hạnh phúc nhìn thấy tôn nhan Ngài, vì Ngài ẩn mình khỏi mắt chúng ta, nhưng Ngai có thể tỏ mình Ngài cho mắt linh hồn chúng ta, và có thể tỏ mình Ngài cho chúng ta như một thứ lương thực, tràn ngập hoan lạc và vui mừng, để nâng đỡ sự sống của chúng ta.

Thánh Bonaven tura cầu nguyện rằng: Xin cho linh hồn con đói Chúa, là Đấng mà các thiên thần ao ước ngắm nhìn; và ước chi hương vị ngọt ngào của Chúa tràn ngập đáy lòng con; Xin cho con luôn khát khao Chúa, là nguồn mạch sự sống, là nền tảng sự khôn ngoan và hiểu biết, là nguồn sáng bất diệt, là nguồn suối đem lại vui thỏa , là sự phú quí của nhà Chúa.

Thêm vào việc rước Chúa trong Phép Thánh Thể, chúng ta còn có thể thờ phượng Ngài và đến gần Ngài bằng việc thờ lạy Bí Tích này. Chúa Giêsu còn hiện diện thật trong Phép Thánh Thể sau Thánh Lễ. Do đó các bánh đã truyền phép được cất giữ trong Nhà Tạm để tại Nhà Thờ. Vì Chúa Kitô hiện diện thật sự trong các nhà thờ và nhà nguyện, nên chúng ta phải cố gắng để giờ đến thờ lạy Ngài, cảm tạ Ngài và nói chuyện với Ngài về những nhu cầu của chúng ta. Nếu không thể đi lễ hằng ngày, thì chúng ta có thể đến viếng thăm Chúa trong Bí tích Thánh thiện này.

Ngoài những lần viếng Chúa, thỉnh thoảng còn có những việc sùng kính đặc biệt phép Thánh Thể mà chúng ta có thể tham dự. Chúng ta có thể đến nhà thờ Chầu Phép Lành. Mình Thánh Chúa được đặt trong một vật gọi là Hào Quang (hay Mặt Nhật), để chúng ta có thể thấy và thờ lạy Mình Thánh Chúa. Linh mục nâng cao Hào Quang và chúc lành chúng ta với Chúa Giêsu hiện diện ở đó. Đôi khi Mình Thánh Chúa trong Hào Quang được đặt trên Bàn thờ suốt ngày để chúng ta có thể cầu nguyện Chúa một cách đặc biệt.

Những việc sùng kính này nhắc đến sự hiện diện của Chúa Kitô trong phép Thánh Thể và giúp chúng ta đến gần Chúa hơn. Chúng ta có thể thắt chặt sự kết hiệp với Chúa Kitô bằng việc rước lễ thường xuyên và viếng thăm Ngài trong Phép Thánh Thể.

Những Chữ Nên Biết: Bí tích - Phép Thánh Thể - Ơn thánh - Chầu Phép Lành - Hào quang.

Kinh đọc sau Rước Lễ

Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa đang ngự thật trong con với Mình và Máu, linh hồn và thiên tính của Chúa; phủ phục trong sự hư vô của con, con khiêm cung thờ lạy Chúa là Thiên Chúa và là Chúa của con.

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Bí tích là gì?

Bí tích là những dấu hữu hiệu ban ơn thánh mà Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập để làm chúng ta nên thánh.

2.         Các bí tích làm chúng ta nên thánh bằng cách nào?

Thưa bằng cách ban cho ta ơn thánh hóa đầu tiên, cho chúng ta được sạch tội, hoặc bằng cách gia tăng ơn thánh mà chúng ta đã có rồi.

3.         Chúng ta phải làm gì để bảo tồn ơn thánh do các bí tích đem lại?

Thưa phải hợp tác bằng cách sống của chúng ta, bằng làm các việc lành và xa tránh điều dữ.

4.         Phép giải tội là gì?

Thưa là bí tích do Chúa Giêsu thiết lập để tha những tội chúng ta phạm sau khi chịu phép Rửa tội.

5.         Có những điều nào phải làm để xưng tội nên?

Thưa phải làm 5 việc sau đây: Xét mình - Thống hối về các tội đã phạm - Dốc lòng chừa - Xưng thú tội ra - và Làm việc đền tội.

 

6.         Làm thế nào để xét mình?

Thưa hãy nhớ lại những tội đã phạm trong tư tưởng, lời nói và việc làm có tính cách nghịch lại với các giới răn của Chúa, các điều răn Hội thánh và những bổn phận của chúng ta kể từ lúc xưng tội lần cuối cùng.

7.         Bí tích Thánh Thể là gì?

Thánh Thể là Bí tích chứa đựng thật sự Mình, Máu, linh hồn và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, dưới hình bánh và rượu, để nuôi dưỡng linh hồn chúng ta.

8.         Chúa Giêsu Kitô hiện diện trong Phép Thánh Thể có phải là Đấng đã được đức trinh nữ Maria sinh ra trên trần gian này không?

Thưa phải. Chúa Giêsu Kitô hiện diện trong Phép Thánh Thể cũng là Đấng đang ở trên thiên đàng, và xưa kia đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria.

9.         Muốn rước lễ nên thì phải làm gì?

Thưa phải làm ba điều cần thiết này: Trước hết phải có ơn thánh Chúa trong lòng - Phải ý thức và để ý đến Đấng mà chúng ta sắp rước lấy - và Phải giữ chay lòng.

 

10.       Rước lễ thường xuyên có phải là điều tốt và hữu ích không?

Rước lễ thường xuyên, và nếu được mỗi ngày, là làm một điều rất tốt và rất ích lợi, miễn sao luôn luôn làm việc này với những trạng thái tâm hồn xứng đáng.

**************************************************************

BÀI 23: SỰ CHẾT VÀ SỰ PHÁN XÉT

Những lời này được nói lại hằng năm vào ngày Thứ Tư Lễ Tro để nhắc nhở chúng ta về thân phận phải chết của mình. Mỗi người trong chúng ta rồi sẽ phải chết. Đây là một trong những hậu quả cho mọi tạo vật sinh sống, vật hất. Cây cối và súc vật sẽ phải chết; ngay cả những vật bất động, vô tri, sự vật nào cũng không tồn tại mãi mãi. Vì là kiếp con người, cuối cùng chúng ta cũng phải chết, và đó là hậu quả của tội nguyên tổ.

Mặc dù sự phân ly giữa thân xác và linh hồn, tức là sự chết, là điều không tránh khỏi, chúng ta biết còn có sự sống bên kia nấm mồ. Con người có một thân xác phải chết, nhưng cũng có một linh hồn bất tử. Vì lý do đó mà chúng ta thấy rằng sự chết không phải là sự kết thúc của sự sống, nhưng đúng hơn chỉ là kết thúc của sự sống đời này mà thôi. Trong Kinh Tiền Tụng Thánh Lễ cầu cho người qua đời, chúng ta được nhắc rằng đối với người Kitô hữu, sự sống không phải mất đi, nhưng chỉ thay đổi.

Đức tin của chúng ta dạy rằng sự chết đó là cổng dẫn vào cuộc sống với Thiên Chúa. Trong Sách Tin Mừng, Mattha chị của Lazarô, chỉ cho người Kitô hữu phải hiểu sự chết như thế nào. Khi Chúa Giêsu đến Bêtania sau khi Lazarô đã chết, Mattha thưa với Chúa Giêsu rằng: Con biết em con sẽ sống lại thời sống lại ngày sau hết. (Jn 11:24)

Vì sự chết sẽ đến với mọi người, vậy thái độ của chúng ta trước sự chết phài thế nào? Chúa Giêsu dạy chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn để chờ giờ chết. Chúng ta phải nhớ dụ ngôn về những đầy tớ đang đợi chờ chủ về. Vì họ không biết rõ ngày giờ nào chủ sẽ đến, cho nên họ phải chuẩn bị sẵn sàng:

Vậy anh em hãy tỉnh thức, vì anh em không biết Chủ nhà đến, chiều hôm nay hay nửa đêm, gà gáy hay tảng sáng...(Mc 13:35)

Chúng ta có thể tự chuẩn bị mình thế nào để chờ sự chết? Chúng ta chuẩn bị suốt cả đời sống của chúng ta bằng cách lớn lên trong lòng tin và lòng yêu mến Chúa. Cách thức chuẩn bị hoàn hảo nhất để chờ sự chết là sống theo ý Chúa, bằng việc phát triển đời sống thiêng liêng của chúng ta nhờ cầu nguyện và tham dự các bí tích. Khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta cầu xin Mẹ trên trời cầu bầu cho chúng ta hôm nay và trong giờ lâm tử. Đeo đuổi ơn kêu gọi của mình và quảng đại phụng sự Chúa sẽ giúp chúng ta chuẩn bị đón sự chết và gặp gỡ Chúa Kitô. Chúng ta phải cầu xin để có thể lãnh nhận các bí tích trước giờ chết. Bằng bí tích Xức Dầu, những người đau ốm nặng được phó thác cho Chúa để Người nâng đỡ họ và cứu thoát họ. Chúng ta hy vọng sẽ có cơ hội chịu các Bí Tích Giải tội và rước Mình Thánh Chúa như Của Ăn Đàng.

Khi chúng ta chết, chúng ta sẽ gặp Chúa Giêsu và Ngài sẽ xét xử chúng ta. Sự phán xét riêng xảy ra lúc chúng ta chết và căn cứ trên những việc chúng ta đã làm trước kia, hoặc xao lãng không làm ở đời này. Trong giờ phán xét, chúng ta sẽ thấy rõ mặt thật con người của mình, nghĩa là các tội lỗi và sai quấy, cũng như những nhân đức của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ thấy sự phán xét vô cùng công bình của Thiên Chúa. Vì lý do đó nên hãy tập cho có thói quen kêu cầu đến lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta là những kẻ tội lỗi là một việc làm tối quan trọng. Làm thường xuyên, lời kêu cầu ấy sẽ kéo lòng thưong xót của Chúa xuống trên chúng ta và trên những kẻ khác trong những lúc chúng ta cần đến một cách khẩn thiết. Nhớ lại những gì Thánh Phaolô đã nói, chúng ta sẽ chuẩn bị cho mình giờ phút quan trọng ấy.

Chúa sẽ theo tội phúc mà thưởng phạt mỗi người: những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà hông tuân phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.

Lúc phán xét riêng, những ai đã chết trong tình trạng tội trọng, nghĩa là không thống hối ăn năn, sẽ bị lìa xa Chúa đời đời. Họ sẽ chịu cực hình muôn đời do bởi chính những việc làm và sự lựa chọn của họ. Trong dụ ngôn về người giàu có và Lazarô, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về tình trạng bất biến của tình trạng này. (Lc 16:19-31) Một khi đã sa hỏa ngục rồi thì không còn cơ hội để ăn năn thống hối nữa! Tuy linh hồn của những người bị đọa đày phải chịu những thống khổ kinh hoàng, nhưng cái cực hình lớn nhất trong hỏa ngục là vì đã mất Thiên Chúa. Họ sẽ sống trong vô vọng vì biết rằng lý do làm họ bị đày đọa chính là vì họ đã từ bỏ Thiên Chúa.

Cũng nên nhớ rằng Thiên Chúa không muốn một ai phải chịu khổ hình trong hỏa ngục. Thật ra, Người không dựng nên hỏa ngục cho con người. Các thiên thần nổi loạn chống lại Chúa nên đã bị xua đuổi ra khỏi nhan Chúa, và đó là hỏa ngục. Chúa đã tạo dựng cho con người, giống như các thiên thần, là cho họ có tự do. Cho nên, nếu chúng ta quay lưng lại với Người, chúng ta sẽ gia nhập vào sổ các thiên thần đã sa ngã mà chịu khổ hình đời đời đó!

Một số người chết không ở trong tình trạng tội trọng, nhưng còn những tôị nhẹ mà họ chưa hoàn toàn thống hối ăn năn hay chưa làm việc đền tội đầy đủ. Vì họ chưa hoàn toàn xa Chúa, nên sẽ không phải xuống hỏa ngục. Họ sẽ vào luyện ngục trước tiên. Ở đó họ sẽ được chuẩn bị để lên thiên đàng. Giáo lý về luyện ngục đem lại nhiều an ủi vì nhờ lòng lân tuất của Chúa có thể được cứu độ, mặc dù chúng ta chưa hoàn thiện. Chúng ta có thể trải qua một thời gian tẩy luyện. Tuy sự tẩy luyện này là một cực hình đầy đau đớn, nhưng chúng ta tràn đầy hy vọng.

Những người khác có một lòng mến Chúa trọn vẹn sẽ lên Thiên Đàng thẳng. Phần thưởng cho người công chính là sự sống đời đời với việc hưởng nhan Chúa. Sự kiện này đưọc gọi là Sự Hưởng Kiến (thấy nhan Chúa) trên Thiên Đàng, Thiên Chúa thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy. (1 Jn 3:2) Chính điều này sẽ cho chúng ta hạnh phúc chân thật. Trên Thiên Đàng, chúng ta sẽ biết Chúa đến mức hoàn hảo mà ta có thể có:

Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giời biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết...(1 Cor 13:12)

Ở đó chúng ta có thể yêu mến Chúa và tha nhân một cách toàn vẹn. Chúng ta biết rằng Thiên Đàng sẽ đem lại niềm vui lớn lao, thế nhưng hiện tại chúng ta khó mà hiểu được niềm vui ấy sẽ giống cái gì. Thánh Phaolô nói rằng: Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người chẳng hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. (1Cor 2:9)

Thiên Đàng sẽ muôn lần to lớn hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng. Nó sẽ tốt đẹp hơn tất cả những vật thật sự đã tốt đẹp.

Ngoài niềm vui lớn do việc hưởng kiến đem lại, còn có những niềm vui khác trên Thiên Đàng. Trên Thiên Đàng sẽ không còn phiền muộn hay đau khổ như thánh Gioan kể cho chúng ta trong Sách Khải Huyền: Người sẽ lau sạch nước mắt họ...cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa.(Rev. 21:4)

Cũng sẽ không còn tội lỗi hay cám dỗ trên Thiên Đàng nữa. Sự chiến đấu sẽ chấm dứt và chỉ còn hòa bình. Chúng ta sẽ được đoàn tụ với các thiên thần, các thánh, và với những người chúng ta đã quen biết và yêu mến dưới trần gian này.

Vì chúng ta không thể hiểu rõ nhiều về Thiên Đàng như thế nào, nên đôi khi bị cám dỗ nghĩ rằng ở trên Thiên Đàng thì nhàm chán lắm! Phải, sự nhàm chán là một điều bất toàn của cuộc sống dưới thế này, nhưng nó không thể là một phần của đời sống trên thiên đàng. Tuy chưa biết được những nét đặc biệt của đời sống trên thiên đàng, chúng ta [hải nhớ lời Thánh Phaolô dạy: Thiên đàng vượt xa tất cả những mộng kỳ lạ nhất mà ta có thể có!

Chúng ta phải bắt đầu chuẩn bị ngay bây giờ cho ngày Chúa Kitô sẽ kêu gọi về quê trời và sống với Ngài. Chúng ta phải có thể nói được lời của Thánh Phaolô đã viết ra vào giai đoạn cuối cuộc đời của ngài, trong thư gửi cho Timôtê:

Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ hy tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong cuộc chiến đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện. (2 Tim 4:6-8)

Những Chữ Nên Biết: Phán xét riêng - Được hưởng kiến - Bất tử.

**************************************************

BÀI 24: THIÊN ĐÀNG - LUYỆN NGỤC - HỎA NGỤC

Chúng ta không biết nhiều về THIÊN ĐÀNG, nhưng chỉ biết những gì được nghe kể lại. Tuy nhiên mỗi lần ngước mắt nhìn cây thánh giá, ta nhớ đến Chúa Giêsu đã chịu tước lột tất cả những gì mà con người coi là quí giá, và đã mở rộng hai cánh tay trên thập tự để giàng được cho chung ta một tương lai vô tận với niềm vui hạnh phúc vượt trí tưởng tượng của con người.

Nói thế không có nghĩa là không cần thử tìm hiểu về hạnh phúc chân thật, mà chỉ nên luôn nhớ rằng thực tại lúc ấy sẽ vượt xa bất cứ điều gì ta có thể nghĩ ra. Ta không bao giờ có thể phạm một sự sai lầm nào mà phóng đại hạnh phúc trên Thiên Đàng. Chỉ có thể phạm một sai lầm lớn mà có những ý nghĩ về Thiên Đàng quá nhỏ nhoi. Sự sai lầm cũng sẽ không nhỏ khi nghĩ Thiên Đàng là một nơi buồn tẻ!

Việc sống gần Chúa chuẩn bị chúng ta nhiều kiểu nhiều cách để sống trên Thiên Đàng. Không chỉ việc sống gần Chúa làm ta đáng được ân thưởng, nhưng với năm tháng trôi qua, chúng ta trở nên quen dần với Chúa và những sự thuộc về Thiên giới, và lòng ao ước được lên Thiên Đàng cùng với lòng cậy trông sẽ đạt tới đó càng gia tăng. Hãy nếm thử và xem Giavê tốt lành nhường bao! (Ps 34:8)

Mục đích của đời chúng ta là được thấy Chúa trên Thiên Đàng một ngày nào đó. Nhưng điều này không phải là một cái gì dễ tưởng nghĩ tới. Thật ra ta không thể tưởng tượng về Chúa như thế nào được, vì Người là thần linh thuần túy, còn ta, ta chỉ có thể tưởng tượng về những sự vật ta đã thấy mà thôi. Như thế thì làm thế nào có thể có một ý niệm về Thiên Đàng? Có thể có một ý niệm về Thiên Đàng bằng nghĩ về vẻ đẹp, về kiểu mẫu, về trật tự, về sự chân, thiện và về năng lực của thế giới bao quanh chúng ta. Chúa là thế nào đi nữa, thì Ngài vẫn luôn luôn lớn hơn điều ta có thể nghĩ. Ngài đẹp hơn, quyền năng hơn, tốt lành hơn, chân thật hơn. Thế giới này đầy hứng thú ư? Nó có được điều gây hứng thú ấy cũng nhờ Ngài, và cũng bởi Ngài mà có sự thiện, mỹ và năng lực.

Thế thì bây giờ ta có thể đặt câu hỏi này: Thiên đàng là gì? Và ta có thể nói thế này: Thiên đàng là được ở cùng Chúa luôn mãi, yêu mến Người và sống chính đời sống của Thiên Chúa, nghĩa là thấy những gì Chúa thấy, làm những gì Chúa làm, biết những gì Chúa biết, yêu mến và vui hưởng những gì Chúa yêu và hưởng theo khả năng tối đa của ta. Nó còn có nghĩa là giống như Chúa! Chúng ta sẽ không buồn chán; cho dù chỉ trong giây lát. Do đó, sự sống đời đời không có nghĩa là chỉ sống mãi mãi, nhưng là sống sự sống của Chúa muôn đời muôn kiếp!

Chúa nói: Dân Ta sẽ được đầy dẫy những sự tốt lành của Ta.

LUYỆN NGỤC

Ta dễ mất thời giờ vì những chuyện nhẹ dạ không đâu. Ta phải biết dùng từng phút, từng giờ, từng ngày để lớn lên trong đời sống thiêng liêng, để tiến đến gần Chúa. Đời sống thiêng liêng của ta bắt đầu từ lúc mới rửa tội. Bí tích này tẩy xóa hình phạt ta phải chịu do tội nguyên tổ gây ra, nhưng vẫn còn để lại những vết hằn trong bản tính của ta.

Nếu đời sống của ta sau khi chịu phép rửa tội là một đời sống cầu nguyện, siêng năng lãnh nhận các bí tích và hay làm việc thiện thì sẽ chữa lành các vết thương ấy. Còn nếu nó là một đời tội lỗi và trụy lạc thì sẽ đào sâu các vết thương ấy thêm.

Thánh Gioan Thánh giá có một cuốn sách nhan đề Tiến Lên Núi Carmêlô. Sự tăng trưởng về mặt thiêng liêng được ví như một cuộc trèo lên núi cao. Ta càng treò lên cao bao nhiêu, thì càng thay đổi bấy nhiêu. Có một số người leo lên tới tận đỉnh núi và họ được ân thưởng một đời sống kết hiệp với Chúa đến mức khi họ chết, họ đi thẳng về Thiên Đàng.

Luyện ngục cũng có thể ví như một cuộc trèo lên núi Carmêlô. Những ai chết như là những bạn hữu của Chúa, nghĩ là chết trong ơn thánh, tâm hồn sạch tội hoặc không vương vấn tội lỗi, đã sạch hết phần phạt do tội gây ra, thì sẽ lên Thiên Đàng thẳng ngay sau khi chết. Nhưng còn những ai chết như là những bạn hữu của Chúa, nghĩa là chết trong ơn thánh, nhưng còn vướng những nợ chưa đền do tội đã phạm trước kia thì thế nào? Các linh hồn ấy chưa sẵn sàng để vào Thiên Đàng. Chỉ có những gì là hoàn toàn thánh thiện mới vào được Thiên Đàng. Vậy điều gì xảy ra cho những kẻ ấy?

Họ sẽ đến một nơi tẩy luyện gọi là Luyện Ngục để linh hồn họ được thanh tẩy và giải thoát hết mọi phần nợ chưa trả do tội gây ra.

Bị tẩy luyện thì rất đau khổ, cả ở đời này và đời sau; không có một cách nào để được chữa lành và tăng trưởng mà lại khỏi đau khổ. Nhưng ta có thể tránh khỏi luyện ngục của ta ngay ở đòi này. Ta có thể được chữa lành, được tẩy luyện và đền tội của ta bằng cách làm việc đền tội và khiêm tốn chấp nhận những khó khăn và đau khổ đến với ta ở đời này.

Tâm trí của mọi linh hồn đang ở trong Luyện ngục chỉ nghĩ tới một điều: đó là Chúa. Các linh hồn ấy ao ước Chúa với một cường độ mạnh mẽ ta không thể tưởng nghĩ được. Họ biết cách rất chắc chắn mình được cứu thoát và sẽ lên Thiên Đàng. Họ không còn sợ nguy hiểm cho phần rỗi của họ. Họ đang được chuẩn bị để sống kết hiệp với Chúa, cho nên họ cần được tẩy sạch mọi chướng ngại cho sự kết hiệp hoàn hảo ấy. Những điều làm trở ngại cho sự kết hiệp ấy giống như rỉ sét, những vết tích của tội lỗi làm cản trở linh hồn không hưởng được dung nhan Chúa. Thánh Catarina thành Gênoa nói: Rỉ sét giảm bớt dần khi linh hồn trở nên trong sạch hơn dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Do đó trong Luyện ngục vừa có nhiều hạnh phúc, vừa có nhiềi đau khổ.

Các thánh trên thiên đàng được gọi là Hội thánh Hiển thắng, các linh hồn trong Luyện ngục được gọi là Hội thánh đang đau khổ; và các tín hữu tại thế gọi là Hội thánh Chiến đấu. Tất cả chúng ta hợp thành Hội thánh của Chúa Kitô. Chúng ta còn tại thế, chúng ta có thể giúp các linh hồn trong Luyện ngục bằng cách cầu nguyện, làm việc hãm mình và dâng Thánh Lễ để cầu nguyện cho họ.

HỎA NGỤC

Chúa Giêsu phán rằng những ai làm theo ý Chúa Cha sẽ lãnh phần thưởng hạnh phúc đời đời, còn những ai chối bỏ Chúa Cha và từ chối làm theo ý Người sẽ bị trừng phạt đời đời. Hỡi phường bị chúc dữ, hãy xéo đi xa Ta, mà vào lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỉ cùng chư thần của nó. (Mt 25:41) Những người bị chúc dữ là những người chết mà không ăn năn các tội trọng của mình.

Nhiều người muốn nghĩ rằng không có Hỏa ngục. Họ nói rằng Chúa không bao giờ đày đọa ai ở một chốn cựu hình muôn đời vì người yêu thương ta vô cùng. Chúa không muốn một ai phải đến đó thật. Nhưng Người đã tạo dựng nên ta và ban cho ta sự tự do để có thể chọn hoặc yêu mến Người hoặc chỉ yêu mến bản thân chúng ta thôi. Bất cứ ai xuống hỏa ngục đều có tự do lựa chọn chỉ yêu mỗi bản thân mình. Họ hoàn toàn cô đơn vì do chính họ muốn như vậy!

Mất Chúa là cực hình lớn nhất trong Hỏa ngục. Chúng ta được tạo nên cho Chúa, nhưng vì các linh hồn trong Hỏa ngục đã chối bỏ Chúa hoàn toàn, nên họ không có gì để cậy trông nữa. Và điều này làm cho cực hình của họ càng lớn hơn, là mỗi linh hồn ở đó sẽ nhận thức chỉ mình họ là nguyên nhân cho sự đày đọa của mình.

Chúa ban cho mọi người ơn thống hối và trở lại cùng Người. Chúng ta phải luôn luôn cầu nguyện cho những kẻ sắp qua đời, để họ tìm thấy lòng thương xót Chúa nới rộng tới họ.

Những Chữ Nên Biết:   Hội Thánh Chiến Đấu - Hội Thánh Đang Đau Khổ.

Được lời lãi tất cả thế gian, mà thiệt mất sự sống mình, nào có ích gì? Vì người ta cho gì để chuộc lại sự sống mình mất? Kẻ nào hổ thẹn chối Ta, và các lời Ta trước mặt thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, thì Con Người sẽ hổ thẹn chối nó, khi Ngài đến trong vinh quang Cha Ngài với các thánh thiên thần. ( Mc 8: 36-38 )

Sinh Hoạt

Câu hỏi:

1.         Sự sống đời đời là gì?

Sự sống đời đời có nghĩa là sự ân thưởng, cũng như hình phạt, sẽ kéo dài mãi mãi, và việc trực kiến Thiên Chúa sẽ là sự sống và nguồn hạnh phúc đích thực của linh hồn; mất Người sẽ là sự bất hạnh lớn nhất, tựa như sự chết đời đời!

2.         Luyện ngục là gì?

Luyện ngục là sự đau khổ tạm thời vì không được thấy Chúa, và vì những hình phạt khác. Đau khổ này sẽ gột khỏi linh hồn những tì tích tội lỗi, làm linh hồn xứng đáng chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa.

3.         Thiên đàng và Hỏa ngục chắc chắn có thật không?

Thưa chắc chắn có thật. Chúa đã mạc khải điều này, và thường hứa ban sự sống đời đời cùng vui hưởng thánh nhan Người cho kẻ lành, và ngăm đe kẻ dữ sự đày đọa và lửa thiêu đời đời.

4.         Thiên đàng và Hỏa ngục kéo dài bao lâu?

Thiên đàng và Hỏa ngục kéo dài mãi mãi, đời đời kiếp kiếp!

**********************************************************

BÀI 25: NGÀY TẬN THẾ

Khi Chúa Giêsu đã về trời, hai thiên thần nói với các tông đồ rằng:

Tại sao các ông cứ đứng đó nhìn trời? Đức Giêsu đây, Đấng vừa siêu thăng xá cách các ông, Ngài sẽ đến cũng một thể như các ông thấy Ngài đi về trời. (Acts 1:11)

Trong Kinh Tin Kính, của Công đồng Nicê, ta đọc rằng: Chúa Giêsu sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Khi Chúa Giêsu đến với chúng ta lần thứ nhất, Ngài đến trong sự nghèo nàn, khiêm nhường và yếu đuối. Ngài sinh ra trong một máng cỏ dành cho các súc vật, chứ không phải một nơi dành cho vua chúa. Ngài là Thiên Chúa, nhưng đã mặc lấy bản tính loài người và bắt đầu cuộc sống của Ngài với một trạng thái khiêm tốn nhất, trạng thái một em bé. Ngài là Thiên Chúa, nhưng đã mặc lấy những yếu đuối của bản tính nhân loại, ngoại trừ tội lỗi, để dạy dỗ chúng ta. Khi Ngài đến trở lại, tức đến lần thứ hai, trong ngày tận thế, Ngài sẽ đến trong khải hoàn vinh quang như vị Vua và Đấng phán xét thế giới. Ngài sẽ đến trong vinh quang và lúc ấy sẽ nhìn nhật Ngài là Đức Kitô Vua.

Thời điểm sự việc ấy sẽ xảy ra lúc nào thì không ai biết trước được. Khi các tông đồ hỏi Chúa Giêsu về ngày Tận thế (Mt 24), Ngài chỉ nói đến những dấu và điềm báo khác nhau sẽ xảy ra trước biến cố ấy. Ngài nói sẽ có chiến tranh và tin đồn chiến tranh, đói kém, các tiên tri giả và bắt đạo. Tất cả những điều này đã xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử. Và nhiều người trong quá khứ (cũng như trong hiện tại) đã hiểu lầm về những rối loạn trong thời đại của họ như là những điềm báo trước ngày tận thế. Nhưng họ đã quên lời nói sau cùng của Chúa Giêsu về ngày tận thế, một lời rất quan trọng: Nhưng về Ngày ấy hay giờ ấy, thì chẳng ai biết được, cả các thiên thần trên trời, chỉ trừ một mình Cha...(Mt 24:26)

Ta không biết khi nào thế giới sẽ đến ngày cùng tận, thì cũng sẽ không biết nó kết thúc cách nào! Có thể ngày tận cùng ấy sẽ do chính con người gây ra, ví dụ bằng chiến tranh hay do lạm dụng những tài nguyên thiên nhiên. Nhưng cũng có thể do chính Thiên Chúa sẽ trực tiếp làm ngày Chúa muốn.

Đến ngày tận thế, Chúa Giêsu sẽ phán xét tất cả nhân loại. Biến cố này được gọi là cuộc Phán Xét Chung, và được Chúa Giêsu mô tả trong Tin Mừng Thánh Matthêô (Mt 25). Lúc ấy, Chúa Kitô sẽ xét xử cả những người còn sống cho đến ngày ấy và những người đã chết. Tất cả mọi việc làm của chúng ta, dù là những việc kính ẩn nhất, cũng sẽ được bày tỏ ra hết!

Mọi người sẽ công nhận sự thánh thiện của những người công chính và sẽ hiểu tại sao họ được ân thưởng. Ta cũng sẽ thấy sự công bình của Thiên Chúa trong việc luận phạt như4ng kẻ có tội không chịu ăn năn hối cải. Họ sẽ bị đày đọa trong Hỏa ngục muôn đời. Sẽ không có một sự thay đổi nào đối với những kẻ đã chết rồi. Nhưng lúc ấy, sự phán xét về họ sẽ được thông tỏ cho mọi người biết.

Những ai yêu mến Chúa và phụng sự Người trên trần gian này sẽ đứng bên phải của Người. Họ sẽ được ban thưởng Nước Thiên Đàng. Còn những kẻ đã quay lưng lại với Người sẽ đứng bên trái và bị đuổi xuống hỏa ngục đời đời. Ngày tận thế sẽ không còn Luyện ngục nữa. Những linh hồn còn ở trong luyện ngục cho đến ngày ấy tất cả sẽ lên Thiên đàng. Tất cả sự khôn ngoan, công bình, thương xót và lòng nhân hậu của Thiên Chúa đối với loài người sẽ được tỏ rõ. Chúa Kitô sẽ được hiển dương trọn vẹn. Ngài sẽ hiện đến trong vinh quang và khải hoàn. Sự ác sẽ hoàn toàn bị đánh bại. Nước Chúa sẽ ngự đến đầy đủ.

Chúng ta sẽ không chết hết thảy, nhưng hết thảy chúng ta sẽ biến đổi, bất thần, trong nháy mắt, vào tiếng loa cuối cùng. Vì loa sẽ thổi, và người chết sẽ chỗi dậy bất hoại, và ta sẽ biến đổi. Vì chưng cái hư hoại này sẽ mặc lấy bất hoại, và tính hay chết này sẽ mặc lấy trường sinh bất tử. (1 Cor 15: 51-53)

Đến ngày tận thế, bản tính nhân loại của ta cũng sẽ được toàn vẹn lại. Xác ta sẽ được kết hợp lại với linh hồn mình, vì con người có hồn có xác. Sự kiện này gọi là sự sống lại của thân xác (phục sinh thân xác). Ta sẽ được hưởng sự vinh hiển trên Thiên Đàng hay chịu hình phạt trong hỏa ngục với cả con người toàn vẹn, nghĩa là cả hồn và xác!

Thân xác của những người công chính sẽ được vinh hiển trên Thiên Đàng. Điều này có nghĩa là thân xác của ta sẽ được thành toàn như thân xác của Chúa Giêsu sau khi Ngài sống lại. Các thần học gia nhận ra bốn đặc tính hoặc bốn đặc sủng mà các thân xác vinh hiển sẽ được. Những thân xác được vinh hiển sẽ không còn đau khổ về phần xác và sẽ được giải thoát khỏi sự chết. Đó là tính bất cảm đau khổ. Thân xác của ta sẽ tính thông suốt, nghĩa là bản tính thiêng của ta sẽ chiếu sáng xuyên qua thân xác tahy vì bị che phủ như trước kia. Thứ ba là thân xác hiển vinh sẽ có tính nhanh nhẹn, nghĩa là có khả năng tuân phục linh hồn cách dễ dàng và nhanh chóng. Điều này được Chúa Giêsu sống lại chứng minh khi Ngài biến mất khỏi các tông đồ một cách lẹ làng. (Jn 20: 19, 26) Sau cùng thân xác sống lại của ta sẽ có tính trong sáng. Nó thoát khỏi mọi dị dạng, cho dù là nhỏ đến đâu, và sẽ nên đẹp đẽ tối đa.

Ngay cả thế giới vật chất cũng sẽ biến đổi một cách nào đó. Thánh Gioan có một thị kiến về sự biến đổi vũ trụ vật chất này khi Ngài viết trong Sách Khải Huyền rằng:

Và tôi đã thấy một trời mới và một đất mới, vì trời cũ và đất cũ đã qua, và biển không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh từ trời xuống, nơi Thiên Chúa... Và tôi đã nghe có tiếng lớn tự ngai phán ra: Này là Nhà Tạm của Thiên Chúa với loài người. Người sẽ ở với họ và họ sẽ là dân của Ngài.. .(Rev 21:1-3)

Tất cả những sự ấy là nguồn hạnh phúc toàn vẹn đang chờ đợi chúng ta. Thiên Chúa đã chuẩn bị sự ấy cho ta. Ta phải để tất cả đời sống của ta lãnh nhận hầu có thể hưởng phước lành trên Thiên Đàng muôn đời.

Những Chữ Nên Biết: Đến lần thứ hai - Phán xét chung.

*************************************************************

QUYỂN THỨ III

PH ẦN TI ẾNG ANH

CHAPTER 1

GOD GIVES US THE LAW

If we observe the world around us we will see that there is a certain order or consistency in the way things happen. When we throw a stone in the air it falls back to the ground. We say it does that because of the law of gravity. Wild geese will fly for miles and miles to return every year to the same place to nest and hatch their goslings. It is said that they do that by instinct. And if we look at men now and through the ages, in different countries and cultures, we find that they always have a rule about right and wrong: “do good and avoid evil'. Human beings all over the earth have the idea that they ought to behave in a certain way.

Now, the difference between this rule of human behavior and the law of gravity or instinct is that the law of gravity or instinct tells us what things do, and the rule of human behavior tells us what we ought to do. In other words, the stone or goose has no choice in the matter. The stone doesn't decide to fall back to earth -- it must. But while the rule of human behavior may tell us what is right and wrong to do, we are still free to decide lust what we will do.

This presents a problem or two. The first is that though all men might agree that we should “do good and avoid evil”, they don't always agree about what is good and what is evil in our acts. In fact, people are often mistaken as to what behavior is right and wrong. So how can we know for sure?

The second problem concerns our motivation to follow this law of human behavior. Since, unlike the stone obeying gravity, men aren't forced to act in accord with law but may freely choose, why do they?

The Master Plan

So where can we find the solution to these problems? Well, as you probably know, the best way is to look to the Master Planner and see what he had in mind.

As we all know, God is the Creator and Lord of Heaven and earth. In his great wisdom he made the universe and governs it all. Now, just as he made the law of gravity and instinct, he made all men with this notion of doing good and avoiding evil. But he also made men with free will, allowing them to decide for themselves what they would do.

Well, we all remember what happened when Adam made his choice One of the results of origin sin is that it is harder for all men to know what is right and wrong and to behave accordingly. And if we read the beginning of the Old Testament we can easily see that men soon made a mess of things acting on their own.

But God promised Adam that he would nor abandon us and would give us a means of salvation. So God called upon Abraham and made him the father of his chosen people And when God wanted to establish his covenant with Israelites to show that he would be their God and they would be his people, he gave them the Decalogue -- the Ten Commandment. God wanted his people to know what was tight and Wrong and what was Pleasing to him, for he was Preparing them for a special role in salvation history. Some people think that God simply Wanted obedience to a set of rules. But what he really wants b a particular kind of people He gave his people a law to teach and guide them in every part of their lives.

Fulfiffinent Of The Law

When Jesus came to establish the New Covenant, he did not set aside the Old Law, the Ten Commandments, but completed them. He said: “so no think that I have come to abolish the law and the prophets, I have come, nor to abolish them, but to fulfill them” (Mt 5: 17). Jesus teaches that the foundation of all law is love: to love God above all things, with one's whole mind and heart and soul, and to love one's neighbor as oneself Jesus wants all men to turn their minds and hearts to God with love. Disobeying any of the Ten Commandments is a failure to love either God or our neighbor.

Words To Know: Covenant - Ten Commandments - Decalogue

‘Do not think that I have come to abolish the law and the Ptophets. I have come, not to abolish them, but to fulfill them' (Mt 5: 17)

Ten Commandment

1. 1 am the Lorrd Your God; You shall not have strange gods before me.

2. You shall not take the Name of the Lord Your God in vain.

3. Remember to keep holy the Lord's Day.

4. Honor Your father and mother.

5. You shall not kill.

6. You shall not commit adultery.

7. You shall not steal.

8. You shall not beat false witness against your neighbor.

9. You shall not covet your neighbor's wife.

10. You shall not covet your neighbot's goods.

 

Questions

1. What must we do to live according to the will of God?

To live according to the will of God we must believe the truths which he has revealed and obey his commandments, with the help of his grace, which we obtain by means of the sacraments and prayer.

2. What are the commandments of God?

The commandments of God, called the Decalogue, are the moral laws which God gave to Moses on Mount Sinai in the Old Testament, and which Jesus Christ perfected in the New Testament.

3. What is the foundation of all our duties toward God and neighbor?

The foundation of all our duties toward God and neighbor is charity, as Jesus Christ explained: the greatest and first commandment is the love of God, and the second is love of neighbor; upon these two commandments depends the whole law and the prophets

4. Are we obliged to keep the commandments of God?

Yes, we are obliged to keep the commandments of God, because they are imposed on us by him who is our supreme Ruler, and they can be known by sound reason.

5. Does he who breaks the commandments of God sin gravely?

He who deliberately breaks even one commandment of God in a serious matter sins gravely against God, and thus merits hell.

********************************************************

CHAPTER 2

LAW AND CONSCIENCE

'The law is holy, and the commandment is holy and just and good”. (Rom 7: 12)

When we look at the world we see that everything operates according to a certain plan or order. For example, rivers flow to toward the sea, birds build nests each spring for their young, and when we drop a stone it falls to the ground. As creator of the world, God has provided for all of his creatures. In his providence he governs all things, directing and ordering each to its proper end or purpose. This is the eternal law of God which encompasses all creatures on earth.

Physical Laws

God's eternal law is first divided into physical laws and moral laws. Physical laws, also called laws of nature, are those which govern the nature and operation of all material things and natural forces. The law of gravity or other laws of physics and chemistry are examples of physics and chemistry are examples of physical laws. The instincts of animals, which cause them to act in particular ways, are also physical laws. The laws which govern the physical world can neither be disobeyed not repealed.

The laws which direct our will toward the good are called moral law. Since human beings have free wills, the laws which guide our actions can be broken. We are always free to choose good or evil. Such laws help us to direct our wills toward their proper purpose perfection of earth and, finally, happiness in Heaven.

Blessed are those whose way is blameless, who walk in the law of the Lord! who also do no wrong, but walk in his ways! (Ps 119: 1, 3)

The entire moral law comes to us from God. Part of it comes directly from him, but another part of it comes indirectly from him through a human lawgiver. The first part, divrne law, is divided into two sorts -- natural law and revealed law.

 

DIVINE LAW

Natural Law

The natural law is the basic moral law which God has placed in human nature and which we discover through reason. This law is written in the hearts of men, and its most basic principle is “Do good and avoid evil”.

However, because of original sin, which has clouded our intellects, we do not always recognize what is good and what is evil. Most people, even pagans, can easily see that certain things, like murder, stealing, or lying are wrong. However, it is not so easy to see that at times it can be wrong to say something which is actually true. For example, spreading facts that would deliberately harm or embarrass another person might be seriously wrong.

Revealed Law

Because human beings often find it difficult to know what is right and wrong on their own, God has also revealed certain commandments to us. This is what we call positive or revealed law. These are the commandments which are contained in the Old Law given through Moses at Mount Sinai and the New Law given by Our Lord when he was on earth. The Old Law was given by God in the Old Testament -- for example, the Ten Commandments. This law was the first stage of God's revelation and by itself is incomplete. This law was perfected in the New Testament. Our Lord said: 'Think not that I have come to abolish the law and the prophets; I have come not abolish them but to fulfill them' (Mt 5: 17). Our Lord tells us to keep his law out of love rather than out of fear (Jn 14: 15). While the Ten Commandments are examples of revealed laws given in the Old Testament, the forbidding of divorce by Jesus (Mt 19: 1-9) is an example of a revealed law from the New Testament. It is important to recall that the Church's magisterium is the authentic interpreter of divine law, that is, of both the natural law and positive revealed law.

Many of the revealed precepts repeat and confirm points in the natural law which men might discover on their own. God repeats these -- for example, “Thou shalt not kill', “Thou shalt not steal” -- because of their importance. Other precepts require God's revelation if we are to know them. Thus, for example, God tells us that we are to worship him on a particular day each week.

Human Laws

Many moral laws are made by humans themselves and are called human laws. Human laws are divided into civil laws and ecclesiastical (Church) laws. Civil laws are those made by the civil authorities. Laws regarding the payment of taxes or traffic law are examples.

Ecclesiastical laws are those made by the Church. There are many of these, and they are contained in the book of Canon Law. However, seven of them are particularly important for all Catholics and we should know them. They are:

1. To keep holy the day of the Lord's Resurrection: to worship God by participating in Mass every Sunday and Holy Day of Obligation: to avoid those activities that would hinder renewal of soul and body, e.g., needles work and business activities, unnecessary shopping, etc.

2. To lead a sacramental life: to receive Holy Communion frequently and the sacrament of Penance regularly:

- minimally, to confess grave sins in the sacrament of Penance at least once a year (annual confession is obligatory only if serious sin is involved).

- minimally, to receive Holy Communion at least once a year, between the First Sunday of Lent and Trinity Sunday.

3. To study Catholic teaching in preparation for the sacrament of Confirmation, to be confirmed, and then to continue to study and advance the cause of Christ.

4. To observe the marriage laws of the Church: to give religious training (by example and word) to one's children: to use patish schools and religious education programs.

5. To strengthen and support the Church: one's own parish community and parish priests: the worldwide Church and the Holy Father.

6. To do penance, including abstaining from meat and fasting from food on the appointed days:

- Abstaining on Ash Wednesday and all the Fridays of Lent;

- Fasting on Ash Wednesday and Good Friday.

7. To join in the missionary spirit and apostolate of the Church.

Sometimes the government and the Church repeat and reaffirm divine laws. For example, a state may have laws against murder or stealing, and the Church also teaches us that these actions are wrong. Such laws, though repeated by men, are not human laws. They are divine laws. It is important to understand this because these laws cannot be changed by men.

We must also realize that there is a hierarchy among laws; for example, God's laws are higher than man's. Thus if a law of man is in conflict with or contradicts a law of God, we must follow God's law.

When we speak of laws we speak of both the spirit and the letter of the law. The spirit is the understanding behind the law and the letter is the actual words of the law. In following these laws we must follow both the spirit and the letter.

There is a cleat difference between the law and legalism. Christ said, “It is easier for Heaven and earth to pass away than for one dot of the law to becoe

void” (Lk 16: 17). One the other hand, he severely rebuked the Pharisees for their legalism. They had forgotten all about the spirit behind the law, while holding fast

to the letter. Thus they made the law void. For instance, there was a tradition among them that if you said to your parents that you were dedicating your goods

to God, then you were no longer obliged to help and honor them. Jesus said, “So or the sake of your tradition you have made void the Word of God. You

hypocrites! Well did Isaiah prophesy of you when he said, 'This people honors me with their lips, but their heart is far from me” (Mt 15: 7-9). Time and again Christ

showed that the law of charity is supreme. It does not void the law but fulfills it. St. Paul reminds us: “Above all these things have love'. (Col 3: 14)

Conscience

Besides the external guide of the moral law, God has also given us an internal guide to help us determine which actions are good and which are bad. This is

known as our conscience. Many of us may think of our conscience as a 'little voice' -. like Jimminy Cricket -- which tells us what to do or scolds us when we do wrong. This is a false understanding of conscience.

Cosience is a specific action of our reason, or intellect, by which we judge the rightness or wrongness of a particular action. It is not a feeling or emotion.

Conscience is the application of certain principles - found in the moral law – to a specific, concrete motal situation.

In order to be of any use to us, our conscience must be correctly formed or taught. We are obliged follow our conscience, but we are also obliged to make sure

that our conscience is properly formed. When our conscience is correctly formed and the judgments which we make are correct, we have a true conscience. If our judgments are incorrect we have a false conscience. A false conscience is lax if it fails to see sin where sin actually exists. For example, our conscience is lax if we do not think deliberately missing Mass on Sunday is a serious sin. A false conscience is scrupulous if it magnifies the gravity of sin or finds sin where there really is none. For example, our conscience is scrupulous if we think that missing Sunday Mass when we are very ill is a sin. Such false consciences have not been correctly formed.

To form out conscience we must look to the Church, which speaks the Word of God to us today, and we must listen to her voice. At the same time we should

try to understand these laws of God so that we may be better able to follow them.

Words To Know:

eternal law - natural law - civil law - ecclesiastical law - moral law - divine law - conscience

****************************************************

CHAPTER 3

THE FIRST COMMANDMENT IN OUR OWN DAY

The First Commandment of God is:

I am the Lord your God; you shall not have strange god.s before me.

This commandment requires all men to recognize or acknowledge God as the one true God, Creator and Lord of all things, and to worship and adore him as our God. This is demanded of us because as creatures we own everything to God; we are completely dependent on him. By our reverence and worship we acknowledge our debt and gratitude to our Creator.

To give God loving worship we must believe in him and believe all that he has revealed to us. This means that we must learn more about God, especially if he has given us the means to do this; we have no excuse for going ignorant about God and his truths.

Just as this commandment requires certain behavior from us, it also forbids us to act in any way contrary to what we owe God. It is wrong if we are superstitious or impious, which means being irreverent and disrespectful of God or sacred things. It is also wrong if we willfully doubt some truth about God or refuse to know what we should know about God and our religion. There are times when some people are so willful that they publicly acknowledge their disbelief or disagreement with the truths of the faith. This is called heresy -- the denying or disagreeing with one particular truth, or spostasy -- deserting or leaving the true religion.

Strange Gods

We have read about people in ancient times who used to worship idols -- false gods, things like golden calves. Remember when the Israelites worshipped the golden calf in the desert before God gave them the law? This is called idolatry. We don't run into too many people who worship golden calves, but many still place ‘strange gods’ before God in their lives.

Not to have ‘strange gods’ means that we are nor to love anyone or anything as much as we love God. We are to worship and adore him -- that is, give him a special love which is owed to him alone, a love which acknowledges his supreme position above all creation.

In our love for God, we are to put nothing he has made before him. No creature is to be adored -- that is, worshipped with that special love which we own to God alone. Our love for or attachment to things God has made is not wrong in itself it is not wrong for a radio or a dog to have a place in our life.

But these things must never compete with our love for God or with his plans for us. For example, if we love a stereo so much that we steal one, then we have put it before God. There is a story from the Gospel which makes all this clear.

The Rich Young Man

A rich young man received an invitation from Our Lord himself to give up his riches and become a follower of Jesus. St. Mark tells us that Jesus looked at the young man and loved him, for the youth had always kept all of God's commandments and wanted to do even better. Jesus said to him: ‘There is one thing more you must do, God and sell what you have and give to the poor; you will have treasure in Heaven. After that, come and follow me’. (Mk 10:21)

But the young man turned away sadly and left Jesus because, as the Gospel says, he ‘had many possessions’. He could not follow Jesus because he loved ‘creatures’ too much. They may not have been the same creatures we have -- not radios or televisions or cars -- but whatever they were, he could not find it in his heart to give them up. He missed the chance to follow Jesus because creatures were competing in his heart with love for God.

Therefore, there is danger in having many possessions, because they may turn our hearts from God. Our love for such things must be a “detached” love, a love that is ready to let go of things when God asks it of us.

Due Worship

In ages before Chirst, the Hebrew people offered public sacrifice by slaughtering a valuable animal, like a lamb, upon an altar to honor God, to acknowledge him as Creator of all, and especially to make up for their sins.

The sacrifice of the Hebrew people pleased God but could never really make up for sin. As we know, the sin of Adam had closed the gates of Heaven. None of the many sacrifices offered by the Hebrews could change this. For sin offends God who is so great, and no offering of man alone, no matter how valuable, can make up for it.

Man's helplessness was not an obstacle to God who wanted to save man. God himself became man and offered himself on the Cross as a fitting sacrifice, which was far more than enough to make up for all sins of all men. This sacrifice is renewed daily in every Mass around the world. The sacrif ice of Jesus on the Cross is the greatest gift we can offer to God.

The sacrifice we offer in the Mass is the highest possible act of worship. It contains all that is necessary for giving due worship to God. In the Mass we acknowledge God as Creator, our Lord and Master.

We offer thanks to him in gratitude for all he has give us. And, in recognition that we are dependent on him, we ask for all we need and for what will help other. Finally, we offer in the Mass the only thing that can make up for our sin and offenses. We offer the sacrifice of Jesus Christ on the Cross.

We can give God the love and worship we owe him when we participate in Holy Mass. Let's do so often!

Words To Know:

adore - idolatry - heresy - apostasy - worship - sacrifice - impiety

- superstition - voluntary doubt - culpable ignorance

Question

1. What are we told to do by the First Commandment ?

The First Commandment commands us to be religious, that is, to believe in God and to love him, to adore him, and to serve him as the one true God, the Creator and Lord of all things.

2. What does the First Commandment forbid?

The First Commandment forbids impiety, superstition, and irreligious behavior and in addition, apostasy, heresy, voluntary doubt, and culpable ignorance of the truths of faith.

‘bless the Lord, all you works of the Lord,

Praise and exalt him above all forever’. (Daniel 3: 57)

******************************************************

CHAPTER 4

THE HOLY NAME

 

You shall not take the Name of the Lord your God in vain'.

The Second Commandment forbids any lack of respect or due reverence toward God in the use of his most Holy Name, or toward any holy thing. Anyone who offends God by breaking this commandment is usually spiritually unwell, since no one who truly loves God would think of purposely misusing his Name. On the contrary, someone who loves God goes our of his way to bless God's Name and to make up for the times when others misuse his Name.

When Moses asked God for his Name, God called himself 'I am who am” (Ex 3: 14). That's all he would say. For the Jewish people this name was so great that they would not even say it but simply called God ‘The Lord’.

What terrible foolishness, therefore, to misuse so great a Name! There are different ways in which people violate the Second Commandment.

One way is called blasphemy. That is verbal abuse or scorn toward God himself or, by extension, to the Blessed Virgin, the saints, or holy things.

Another is by swearing false oaths. A false oath calls on God to witness to the truth of what we are saying when in fact we are lying. An oath in itself is not wrong. We may be involved in a legal proceeding which requires one. This is a good enough reason to take an oath; however, we should not take oaths invoking the divine Name without serious reason.

Obviously, a false oath is a very serious sin, since we are calling God, who is all Truth and all Justice, to witness to lie.

Aside from the formality of a legal proceeding, it is common for people to use expressions like, “As God is my witness”, or “Honest to God”. Spoken seriously, these are oaths and should not be used lightly. Said thoughtlessly or for trifles, they are swearing and should be avoided. (We must nor confuse swearing with using bad language or cursing; using impure language may be against the Sixth. Commandment and cursing against the Fifth.)

The Second Commandment also requires us to fulfill the vows and promises we have made. A vow is a solemn declaration committing oneself to do something. A vow in religion is a vow by which someone promises something for a religious reason. Religious brothers and sisters make vows of poverty, chastity, and obedience. A married couple makes a vow of fidelity.

Holy Things

We must not only respect God but must extend that respect to all those things that belong to God in a special way. We refer to our church as the house of God

and a place of worship. It is a building consecrated to the glorification of God, and our behavior in church ought to express that, All of the object used for Mass, such as the altar, chalice, and paten, are holy because they are used in the highest form of worship. It is easy to see why we revere the Holy bible, since it contains the word of God. And just as we treasure pictures and mementos of those we love, we also cherish crucifixes, religious medals, and pictures as reminders of God and his saints.

Certain people within the Church (the pope, bishops, priests, deacons, religious brothers and sisters) have consecrated their entire lives to God. Because they belong to God in a special way, we honor and respect them. We express our love and reverence for God in the way we treat those things and people that belong to God.

Remember what God said to Moses from the burning bush: ‘Moses! Moses! Come no nearer. Remove the sandals from your feet, for the place where you

stand is holy ground’. (Ex 3: 4-5)

Words To Know:

Reverence - oath - blasphemy - vow

0 Lord, our Lord, how glorious is your Name over all the earth. (Psalm 8:10)

From the rising of the sun to its setting,

praised be the Name of the Lord!. (Psalm 113)

Exercise

1. What is forbidden by the Second Commandment?

The Second commandment forbids us to dishonor the Name of God: that is, to use his Name without respect; to blaspheme God, the most holy Virgin, the saints, or holy things; and to swear oaths that are false, not necessary, or wrong in any way.

2. What is an oath?

An oath is calling upon God as Witness for what is declared or promised. A person who swears falsely offends God seriously, for God is holiness and truth itself.

3. Is blasphemy a serious Sin?

Yes, blasphemy is a serious sin because it is injury and scorn toward God and his saints.

4. What are we ordered to do by the Second Commandment?

. The Second Commandment orders us to maintain always a reverence for the Name of God and to fulfill the vows and promises to which we have bound ourselves.

5. What is a vow?

A vow is a promise made to God of some good that is pleasing to him, to which we bind ourselves for a religious reason.

******************************************************

CHAPTER 5

THE LORD'S DAY

'Time is precious. Most people would agree on that. But this does not mean the same thing to everyone. Most people think that they never have enough time to do what they want to do.

So when God asks for some of our time for himself, people react differently. Some are so happy to give time to God that they are grateful for every opportunity. Others can't be bothered. They are shortsighted, for all men eventually run out of time, while God alone possesses a world without end which he wants to share with us. As we say in the prayer: Glory be to the Father and to the Son and to the Holy Spirit; as it was in the beginning, is now, and ever shall be, world without end. Amen.

The Third Commandment tells us to give one day a week to God. 'Remember to keep holy the Lord's Day'.

And it is written:

Six days you may labor and do all your work, but the seventh day is the Sabbath of the Lord, your God. (Ex 20: 8-10)

The Sabbath is a holy day, which, like anything holy, is consecrated or dedicated to God, set aside for him. God himself says that in six days he made the world and on the seventh he rested.

The Jewish people observe the Sabbath on Saturday, the last day of the week and the day on which God rested. But Christians observe Sunday instead, the day Jesus Christ, our Savior, rose from the dead. We give him this day, this entire day, to show that we recognize who he is and to honor and glorify him. Each Sunday is like Easter; we are celebrating the Resurrection of the Lord and his triumph over death.

Making It A Holy Day

We owe God a double debt as Creator and Redeemer, and we make some repayment -- at least a small amount -- by making Sunday a really holy day. First of all, we put aside our work, which has had our attention all week long, and we turn our eyes to God, because although work is very good and necessary, it is nevertheless a concern with what God has made--creation--and not with God who made it.

For this reason we are commanded not to do any unnecessary work on Sundays and Holy Days. Our jobs and unnecessary schoolwork should be set aside. There are some jobs which make it necessary for some people to work on Sunday, such as doctors and nurses, policemen, bus drivers, farmers, and others who must work because of economic necessity; but most jobs can and should be put aside on Sunday.

The Third Commandment demands of us some form of external worship, not just internal or private worship. This is because our entire being is subject to God, both body and soul. We need to demonstrate this external worship publicly as a witness to the whole community that God has first place in our lives. God desires that our devotion be visible; he wants to be worshipped in broad daylight for all the world to see. Private devotion cannot take the place of this. If we omit outward worship together as a community, our faith will weaken and we may fail away from God.

The principal tribute we offer to God one the Lord's Day is participation in the Holy Sacrifice of the Mass, because it is the greatest act of worship. For a Catholic, Sunday without Holy Mass is not a holy day. To miss Mass on Sunday is a mortal sin--unless, of course, there is a serious reason, such as sickness or lack of transportation or a need to work, that excuses us.

We must always remember that although Mass on Sunday is an obligation we are bound to, it is also a blessed opportunity for us. Anyone making a sincere effort to live the gospel will go not only to Holy Mass but to Holy Communion as well. Not to go to Sunday Mass is to cut ourselves off from the sacraments and the grace which flows through them from Jesus to us. For Jesus says: “I am the vine, you are the branches. He who lives in me, and I in him, will produce abundantly, for apart from me you can do nothing'. (Jn 15: 5)

Missing Mass on Sunday is a great misfortune. It is also a great pity to go to Mass regularly but stay away from the sacraments of Penance and Holy Communion. This would be a sign that Sunday Mass is just a duty, that there is no life in our observance, and that we do not understand much about the life of the spirit or taste much of the goodness of the Lord.

There is great disrespect for the Lord's Day in our society, and it is growing all the time. It has always been understood that certain stores and certain services, such as hospitals and the police, have to be available on Sunday; but now we see people buying all sorts of unnecessary things in department stores that hum with business on this day, as if it were a day like any other. It is a sign that many people have lost touch with the spiritual side of life. If they were aware that life is not just something to be lived any old way, but a time to become like Jesus, then we would not have such abuses.

Day Of Rest

Besides being a day to attend Mass, Sunday is supposed to be a day of joy and refreshment. Wholesome fun is a wonderful ingredient of holiness. We may take time for reading good books, for more personal prayer and private devotions, works of charity, sports, hobbies, and real rest,

Let's use our imagination? As Mother Teresa of Calcutta says, let's do “something beautiful for God”? Let's really make Sunday a holy day.

Words To Know:

Sabbath - holy days of obligation

“This is the day the Lord has made; Let us rejoice and be glad in it”. (Psalm 118)

Holy Days Of Obligation

In addition to the obligation of Sunday Mass, there ate holy days of obligation, days which have the same obligation as Sundays. The universal Church has ten special holy days that may fall on days other than Sundays. They are:

Solemnity of Mary the Mother of God--January 1

Epiphany--January 6

Feast of St. Joseph--March 19

- Ascension Thursday--forty days after Easter

Corpus Christi--first Thursday after Pentecost

Feast of SS. Peter and Paul--June 29

The Assumption of Mary--August 15

All Saints' Day--November I

Immaculate Conception--December 8

Christmas--December 25

In certain countries attendance at Mass is not obligatory on all these holy days. In the United States some are celebrated on Sunday and only six others require our attendance at Mass. These are the Solemnity of Mary, Ascension Thursday, Assumption, All Saints' Day, Immaculate Conception, and Christmas. However, If it is convenient for us to attend Mass on the other holy days and special feasts, we will want to do so.

Exercise

1. What are we Ordered to do by the Third Commandment?

• The Third Commandment orders us to honor God on Sundays and holy days by acts of external worship, and for Catholics the most important of these is Holy Mass.

2. Why must we do acts of external worship?

• Jr is not sufficient to adore God internally in the heart, but we must also give him external Worship as commanded, because we are subject to God in our entire being, both soul and body. Furthermore we are bound to give good example. And finally, if e were to omit external worship We might lose our religious spirit.

3. What is prohibited by the Third Commandment?

• The Third Commandment forbids us to do bervile Works” on Sundays and holy days.

4. What kind of works are called “servile'?

• “Servile works” is the name given to physical labor and those activities that would hinder renewal of soul and body on the Lord's Day.

*******************************************************

CHAPTER 6

IN THE HEART OF THE FAMILY

 

Sometimes see elderly people with their children who are themselves approaching old age. No matter how old the parents are, no matter how old the children, the law of the Lord remains:

“Honor your father and mother”.

Even without the Fourth Commandment we would be able to see that we have certain obligations toward our parents, for we would never have existed without them. They are special; they have given us life. This gift is so great that there is no way to repay them completely.

To see what is required of us by the Fourth Commandment, we need to look at family relations. Without children, husband and wife make a marriage; with a child, they make a family. The child is an extension of their love for each other and is included in their love The relation of parent to child is a lasting one, no matter how old one is. It is from his parents that a child learns what love is, and in that love the child is able to learn that God is also his loving Father.

Each child is a precious gift from God. But along with the blessing of a child there are many duties and responsibilities that parents must take on. God gives them the authority and duty to maintain good order in the home, to provide food and clothing, to educate, and to tend to the welfare of each member of their family.

Now, the commandment tells us to “honor” our parents. To honor means to hold in high regard, to respect, and to love. A child honors his parents when he respects their authority over him. This also includes respecting and obeying those whom our parents place in authority over us, such as a teacher or scout leader.

It is part of God's plan to provide for the wellbeing and development of children to place them under the loving authority of their parents. And so obedience to that authority is required.

With the years, children may discover faults and weaknesses in their parents; in God's plan children can sometimes be a powerful force for good and a source of grace for their parents. Prayer and sacrifice for the welfare of one's parents are always blessed by God.

As children get older they need less care and direction until they reach a point at which they are able to order their own live. It is only reasonable, then, that the relationship between parent and child should gradually change. Obedience turns into respect for the wisdom of our parents until we reach an age at which we are no longer bound by obedience but still gratefully accept our parents' advice

Anyone who honors his parents will, when he grows older, look after their needs. In this regard, life is like a seesaw with the heavier and holding up the other. As a youngster, the child sits at the end upraised, with mother and father holding down the other. Many years later, the child holds the seesaw down while the elderly parents receive the attention. They cared for us; now we care for them.

The Bible teaches: “My son, take care of your father when he is old; grieve him not as long as he lives”. (Sir 3: 12)

And God promises to bless those who keep the Fourth Commandment:

Honor your father and your mother, that you may have a long life in the land which the Lord, your God, is giving you. (Ex 20: 12)

The Family Today

In his Apostolic Exhortation Familiaris Consortio, “The role of the Christian Family in the Modern World”, Pope John Paul II singled out the family as the main target in the renewal of modern society. The family is so important that we cannot hope to survive as a society unless family life is healthy and strong. This means that strong love among all the members must unite the whole family and make it holy.

The Holy Family, Jesus, Mary, and Joseph, was united with that holy love. We should look to them as our model for family life.

There are many forces in our society that weaken the bonds of family life and even threaten to destroy it. The Christian family will survive only with renewed love for God and neighbor. We must pray together for our own families and for the family in general. “Where there is no prayer, there will be no family unity and peace. With prayer, we can hope for the blessings of family happiness on earth and reunion in our heavenly home.

Words To Know: honor

Father, it is your commandment that we should honor our father and mother; hear the prayers I offer you for my parents. Grant them many years on earth, and keep them healthy in mind and body. Bless their work and all they do. Give them back a hundredfold whatever they have done for me. Inspire them with your love, and help them to fulfill your holy law. One day, may I be there comfort and support, so that, having enjoyed their affection on earth, I may have the joy of being with them forever in your home in Heaven. Through Christ Our Lord. Amen.

Exercise

1. What does the Fourth Commandment order us to do?

• The Fourth Commandment orders us to love, respect, and obey our parents and whoever holds authority over us.

2. What does the Fourth Commandment forbid?

• The Fourth Commandment forbids us to offend or disobey our parents and superiors in authority.

*****************************************************

CHAPTER 7

CITIZENSHIP ---- RIGHTS AND DUTIES

As members of a family we see how we are dependent on others and others depend on us. We become more aware that the happiness and well-being of all men are connected. Men come together and form larger societies. So we are members not only of a family but also of a state. Our parents exercise certain rightful authority over us, and so does the state. The state's authority over us is from God. St. Paul tells us: “Let every person be subject to the governing authorities. For there is no authority except from God. . . . Therefore he who resists the authorities resists what God has appointed”. (Rom 13: 1-2)

The state has the authority to make just laws and regulations to govern its citizens. The purpose of the state is to promote and preserve the welfare of all the members of its society. Jesus never denied the rights of the state; he tells us to give to God what is God's, and to Caesar (the state) what is Caesar's.

The state can never demand something of us which is in violation of God's law. If it did, the State would be denying its own authority, since that authority is from God. As you probably already know, there are different kinds of government. Now, God has never told us that one particular type of government is better than another. There can be several legitimate and good ways to govern a nation.

Good Citizens

Just as the State has certain rights and duties, so do we as citizens. As Christians we must be exemplary citizens, obeying all just laws and regulations, paying taxes to support the government, and when necessary defending our nation from attack.

Patriotism is the virtue of love of one's country. This virtue is in keeping with Christianity because it is natural and good for us to love our fatherland. But patriotism is not mere flag-waving. It is dedication to the promotion of the true welfare of the whole country and its citizens.

As citizens, the health and well-being of the state is our concern. We must use our influence to make it a just state. The Christian input in society is essential. If there is an unjust practice or immoral law, then we must do all in our power to overturn it. We must work within the structure of our government to reestablish justice and to make it secure.

Above all we must remember to pray for our country and its leaders. Just because the state declares that some action is legal, it does not necessarily follow that it is moral. We have today the grave evil of 'legalized abortion”. The state has declared a seriously immoral and evil act to be acceptable and 'within the law'.

Not only are we forbidden to support such a declaration but we are also required to do all in our power to overturn such a law. We are not allowed to tolerate such violations of the law of God. 'Better for us to obey God than men”! (Acts 5: 29)

Across Boundaries

As followers of Christ we must not isolate ourselves within our own nation. We must be concerned about the needs of all people. Many people and nations are oppressed and deprive of basic human rights by severe poverty or by lack of freedom. Just as there are different forms of good governments, so there are governments that are bad and threaten the well being of their citizens. Wealthier and stronger countries have a responsibility to aid these oppressed nations. As citizens we must encourage our government to do what is possible to help people in need.

St. Thomas More

In the year 1535 Sir Thomas More was beheaded by order of the King of England and his court of law. Thomas More had been friend to King Henry the Eighth and had even held the office of Lord Chancellor, second in power to the King. What had Sir Thomas More done that caused his one-time friend and ruler to have him put to death? He had chosen to obey God's law rather than man's. King Henry the Eighth had declared himself to be the supreme head of the Church in England. Thomas More knew that such a declaration was a violation of the law of God, and so he would not accept it, even if his refusal meant death. St. Thomas More had been a great statesman and had dedicated himself to the service of his king and country. But he knew that God's law was above the King's, and so he was willing to die “the King's good servant, but God's first”. For suffering this martyrdom, Thomas More has been declared a saint by the Church.

Question

1. Why are we obliged to obey superiors in authority?

.We ate obliged to obey superiors in authority because there is no

authority except from God;. . . as a consequence the man who opposes authority rebels against the ordinance of God”. (Rom 13:1- 2)

******************************************************************

CHAPTER 8

CHURCH AUTHORITY -- OUR FATHERS IN FAITH

Besides our parents and the state there is another society that has authority over us and demands our obedience and allegiance. That is the Catholic Church as founded on earth by Jesus.

It is Jesus who gave to the Church its mission to save souls, to teach all men the truths of the Faith, and to govern the Church as a body. Establishing the Church was the means Jesus chose to remain with us always and to lead us to his Heavenly Kingdom, our final goal.

The Vicar Of Christ

It is Jesus who is the Head or Ruler of his Church. He is the one who has given the authority to the pope to rule the Church on his behalf. It was to St. Peter, the first pope, that Jesus said: “I will give you the keys of the kingdom of Heaven, and whatever you bind on earth shall be bound in Heaven, and whatever you loose on earth shall be loosed in Heaven”. (Mat 16: 19)

Including our present Pope, john Paul II, there have been 264 popes, and the authority of St. Peter has been passed on to each one down to our own day.

The mission of the Church is to preach the gospel and lead all people to holiness. The pope is chiefly responsible for seeing that this mission is accomplished. It is for this purpose that the pope and bishops, as successors of the apostles, have the authority to make the precepts or laws and disciplines of the Church.

A bishop is the chief authority in his own diocese as long as he governs in union with the pope. He delegates some of his authority to the priests of his diocese. The priests, the bishops, and the pope are all instruments of Christ, who governs his Church through these ordained ministers.

The Church is carefully governed so that it may be clearly recognized by the unity of its faith and worship.

Unity Of Faith

To make sure that the Faith is taught correctly and the gospel preached to all without error, the pope has the authority to declare lust what is to be taught. He answers moral questions and addresses himself to any current problem which affects the lives of Christians.

The pope does this in his speeches, encyclicals, letters, and declarations. The bishops do the same in their dioceses, usually through pastoral letters which are read to us in Church.

One in The Sacraments

Since it is through the sacraments that the Church fulfills its role in sanctifying men, it is necessary that they be administered in a consistent way in all times and places. It is the Church that determines what is required to receive each sacrament: For example, how old a person must be and what the accompanying ceremony should include. The Church also sets the requirements for becoming and remaining a member of the Church.

Holy Mother Church

The Church is often referred to as out Holy Mother Church. This denotes the attitude we should have toward the Church and her leader. Like all mothers, the Church exists to give us life and to provide for our well-being and development until we reach our final goal. We should have great reverence and love for the Church, because Jesus gave us the Church as a sign of his love for us.

Word to Know: Vicar of Christ - precepts

Precepts of the Church

1. To keep holy the day of the Lord's Resurrection; to worship God by participating in Mass every Sunday and holy day of obligation; to avoid those activities that

   would hinder renewal of soul and body on the Lord's day.

2. To lead a sacramental life; to receive Holy Communion frequently and the Sacrament of Penance regularly mitiimaky to receive the Sacrament of Penance at least

   once a year (annual confession is obligatory only if serious sin is involved); minimally also, to receive Holy Communion at least once a year, between the First

   Sunday of Lent and Trinity Sunday.

3. To study Catholic teaching in preparation for the Sacrament of Confirmation, to be confirmed, and then to continue to study and advance the cause of Christ.

4. To observe the marriage laws of the Church; to give religious training, by example and word, to one's children; to use patish schools and catechetical program.

5. To strengthen and support the Church--one's own parish community and parish priests, the worldwide Church, and the pope.

6. To do penance, including abstaining from meat and fasting from food on the appointed days.

7. To join the missionary spirit and apostolate of the Church.

Questions

1. Why does the Church have the authority to make laws and precepts?

• The Church has the authority to make laws and precepts because it has received this authority from Jesus Christ through his apostles. Thus he who disobeys the Church disobeys God himself.

2. Who can make laws and precepts in the Church?

• In the Church the pope and the bishops as successors of the apostles can make laws and precepts, for Jesus Christ said to them: 'He who hears you heats me. And he who rejects you rejects me”. (Lk 10:16)

**********************************************

CHAPTER 9

RESPECT OF LIFE

 

'The Fifth Commandment is:

“You shall not kill”.

Man is a creature composed of body and soul. Some people go about their bussness as if they had never heard of the soul. It is also possible to find some, though today they are fewer in number, who look down on the body and alsnost try to live like angels, who are pure spirits. The truth is that both body and soul are essential to the human being. And, though parted by death, the body and the soul are destined to be reunited at the resurrection on the Last Day.

Because we have a soul we are called to share in God's life. We call this supernatural life, because it is above our natural life here on earth.

The Fifth Commandment gives us the responsibility to care for both the natural and supernatural life that God has given to us and all men.

Right To Life

Since God is the giver of life, no man or group of men has the right to take innocent human life. To do so is murder. And murder is a serious crime and a very serious sin, a mortal sin. If we look around, we can see that many people think they can take the matter of life and death into their own hands. Many people ignore or accept the murder of millions of unborn babies in our own nation and around the world. An estimated fifty million unborn babies are killed every year.

Another area where there is a weakening of respect for human life is what is called euthanasia, or 'mercy killing”. It is never justified. A sick, elderly person must be given the normal or ordinary treatment to keep him or her alive. To do otherwise would be murder. Extraordinary treatment is another matter--it is not obligatory. These days there is more and more pressure for euthanasia from many quarters. Men are taking the beginning and the end of life into their own hands.

The Fifth Commandment makes it cleat that it is wrong to take innocent life. Some people maintain that all killing is wrong and never allowable, no matter what the reasons. But there are certain situations in which killing is not the same thing as murder. The most obvious examples of this are the taking of life in self- defense, capital punishment, and just wars. The Church has never condemned these atcs as murder, but since every act of taking human life is a serious matter, we must always look to the Church for guidance in this area.

Murder is not the only violation of the Fifth Commandment. It would be a mortal sin to insure someone seriously by careless driving. It is wrong not care

whether our actions may injure others.

Suicide, the act of killing oneself, is always wrong. If someone commits suicide without full knowledge and consent, however, his responsibility before God is lessened. God alone is the Master of our lives, and we are too precious in his sight to toss our lives away. But it is wrong, too, not to take proper care of ourselves, with proper diet, exercise, and rest. We should avoid risking our lives by doing foolish stunts when we are egged on by a dare or a desire to show off. We should protect ourselves from disease by sensible habits of cleanliness and dress. We should avoid impatience and carelessness that may lead to accident or injury.

Intemperate eating and drinking is a sin that can harm the body; so is the improper use of medicines and other drugs. All in all, taking a little less food and drink than we want is a small but sensible restraint on our bodies and an excellent form of self- denial. As we have seen, some self-denial is a necessary part of Christian living.

Words To Know: murder suicide

'Anyone who hates his brother is a murderer, and you know that eternal life abides in no murderer's heart”. (1 John 3: 15)

Questions:

1. What does the Fifth Commandment forbid?

• The Fifth Commandment forbids us to harm the life, either natural or spiritual, of our neighbor as well as of ourselves. It prohibits murder,

suicide, unjustified fighting, curses, and scandal.

2. Why is suicide a sin?

• Suicide is a sin, like murder, because God alone is Master of our life, just as he alone is Master of our neighbor's life.

***************************************************************

CHAPTER 10

CHARITY TOWARD ALL

The law of love-..'Love your neighbor as yourself'..is closely connected to the rules that arise from the Fifth Commandment. We have seen many striking and violent offenses against this commandment. There are other more common offenses in which persons are not hurt physically but harm is done. Such actions are far from Christian.

Goodwill

Christ preached goodwill toward all, friends and enemies alike. This is what is involved in the injunction: 'Love your enemies'. It is hard enough not to strike back when we are hurt; it is even harder to respond with love.

But how do we know if we love our enemies? Do we have to love them with our feelings? Do I have to feel this love for my enemy? Not necessarily. We will not be held accountable for the absence of such feeling, but we are responsible for goodwill.

I will know whether I love my enemy if I wish him well. We must wish well to everyone; my will, where I wish others well or ill, is the center of my love. I may not like my enemy, but if I wish him well and treat him well, I am fulfilling Christ's words, 'Love your enemies".

One thing that gets in the way of goodwill is anger. When we lose our tempers, we say things and do things to get back at others, to hurt them. How terrible, then, the gift of speech can be! We can make it a weapon by yelling at someone, calling someone names, or cursing. All these things come under the Fifth Commandment, which prohibits deliberate injury to another human being in any way.

Closely linked to anger is hatred. To hate someone is to wish evil to someone, or even to wish that he did not exist! It may be conceived in the heat of anger but persist even when the feelings have cooled down because, like love, it is willed, although it is the very opposite of love. This is ill will, a wish that another person be hurt and suffer, perhaps even be killed.

St. John wrote: "Anyone who hates his brother is a murderer" (1 Jn 3: 15). Indeed, we can have our neighbor dead and buried in our minds without ever

doing anything to him, but because of our hatred we are murderers!

All this can start; perhaps, because we lost our tempers and began to nurture ill will. The danger of anger is that we do things blindly, unaware of the evil in our thoughts, careless of the bitter enmity we may provoke with our stinging words, perhaps stirred even to the point of physical violence. Jesus left no doubt about the sinfulness of anger when he said in the Sermon on the Mount:

You have heard the commandment imposed on your forefathers, 'You shall not commit murder, every murderer shall be liable to judgment. What I say to you is: everyone who grows angry with his brother shall be liable to judgment; any man who uses abusive language toward his brother shall be answerable . . . . (Mt 5: 21-22)

When someone has hurt us in some way, we are required to refrain not only from striking back but also from harboring ill feeling toward him. We must do something positive. Jesus says: 'Love your enemies, do good to those who hate you; bless those who curse you and pray for those who maltreat you". (Lk 6: 27-28)

And St Paul wrote: 'Bless your persecutors bless and do not curse them. Never repay injury with injury. (Rom 12: 14-15)

Here is a thought which can take a lot of the sting out of hard words and bad treatment: try offering the pain to God for the salvation of the one who hurts you. No matter how you feel, surely you would like to see your enemy in Heaven someday.

In ađition, If you get the opportunity, show respect and consideration to your enemy. Suđenly you may see things through the eyes of Jesus. How many times he was insulted! No doubt he felt the pain, like every other man-- perhaps even more--but he knew that the souls of those who insulted him were wonderful creations and that no matter how bad they were, they were continually being called to a new life of grace.

Not all anger is wrongful. There is such a thing as just anger; for instance, when Jesus chased the moneylenders from the Temple or when he rebuked hypocrites. Righteous anger can help us to stand up for the rights of oppressed persons or come to the defense of those suffering unjust aggression. It may help us to speak up for someone who isn't getting his rights--ourselves or others. Finally, a holy anger may motivate us to fight for a very important cause -- like working in the pro-life movement to end the evil of legalized abortion.

Scandal

There is a special case of bad will which Jesus condemned with utmost severity: scandal. It is a fully conscious and deliberate bad example or encouragement meant to lead another person into sin. It is probably the worst of all sins because it endangers someone elsés eternal destiny. There can be no greater lack of charity.

Any sinful act could lead another into sin, but anything said or done with the knowledge that it may weaken the faith or destroy the spiritual life of another is scandal. The person who gives scandal is responsible for all the sins into which others are led. Jesus said: It would be better for anyone who leads astray one of these little ones who believe in inc to be drowned with a millstone around his neck in the depths of the sea. (Mt 1& 6)

Forgive Us, As We Forgive Others

On the Cross Jesus prayed to his Father to "forgive them, for they know not what they are doing". As followers of Christ we must be willing to forgive those who hurt us. And we must also govern our thoughts and actions so that we do not injure other people physically or spiritually.

Words To Know : Scandal - cursing

"Let all bitterness and wrath and anger and clamor and slander be put away from you, with all malice, and be kind to one another, tenderhearted, forgiving one another, as God in Chrht forgave you". (Ephesians 4: 31-32)

Questions

1. What is scandal?

Scandal is the leading of others into sin by any of our actions.

 

2. What are we ordered to do by the Fifth Commandment?

The Fifth commandment orders us to be of good will toward all, including our enemies, and to make up for any bodily or spiritual evil done to our neighbor.

*********************************************************

CHAPTER 11

THE SACRED FLAME

All men were made by God in his image and likeness. And all of us are known and loved by God as distinct individuals. It is this special relation each of us has to God that is the foundation of our dignity as persons.

Everyone has this dignity as a child of God, and so every individual is worthy of our respect, for each person is made by God to be loved by him and to have God's life within. We ourselves have this dignity, of course, and so we must also have respect for ourselves -- self-respect.

To maintain our self-respect and respect for others we have to do what we know is right and avoid what we know is wrong. To do this we need to develop our self-control and overcome our weaknesses.

The Sixth and Ninth Conimandments,

"You shall not commit adultery and

"You shall not covet your neighbor's wife,

demand from us that respect which we are to have for ourselves and for others, and in a special way for those things that belong to married life and the family.

Be Fruitful

When a seed is planted in the earth there are certain laws that govern its development, and if the conditions are tight it grows into a specific plant, whether it is a sunflower or an olive tree. Then it will produce seeds after its own kind which will propagate the species -- that is, reproduce or multiply. God finds this very good, it is the way he designed things.

Animals propagate as well. Like the flowers, when conditions are right everything happens according to certain laws and there is no misuse of these powers. We don't have to preach self-control to plants and animals because they act through instinct.

But man is different. Like plants and animals, he reproduces and multiplies and fills the earth. This is what God wants, for Scripture says:

God created man in his image; in the divine imageỄ he created him; male and female he created them. God blessed them, saying: "Be fruitful and multiply; fill the earth...." (Gen 1: 27-28)

But, unlike the rest of visible creation, man does not multiply blindly, following the seasons, like plants, or by instinct, like animals. These creatures are not free to make decisions about their reproductive powers. Man is free. This is an aspect of man's dignity. It is also a possible source of abuse.

Man may have very powerful urges, but he is not led blindly by his instincts. The plant or animal does not have to trouble itself about the proper use of its powers. For man, though, their use is not a matter of "instinct". Man is called to cooperate with God in a plan that is not recorded in his genes or in his blood but is revealed by God in his Commandments -- specifically, the Sixth and Ninth Commandments.

Many people look upon these two Commandments as restrictions; but we can think about them in the following way. The seed that becomes a sunflower is guided to this fulfillment by a biochemical blueprint invented by God. And though we do not see it, God who holds the sacred flame of all life has a blueprint for our fulfillment too, and he alone is wise enough to guide the use of man's reproductive powers. If he can lead the sunflower to full beauty from a seed, then he can lead a man to fullness of life by the laws he has given us, though we may see only a little of his plan.

When you are about to plant a seed and water it, you do not have to remind it to trust God, the seed knows all that, so to speak. It is man who needs to be reminded to trust God!

Laws Of life

All this is said to point out the proper beauty and value of the human reproductive powers. The Sixth Commandment guides us in our actions, the Ninth in our thoughts and desires. It is important to remember that all our actions start in our mind, and so we should see the importance of properly directing our thoughts and desires.

Put simply, the pleasures and joys of human sexuality are reserved for marriage. Any use of these powers outside of marriage is a serious sin. God plans to give those who marry an actual share in the creation of a new human being; God creates the soul and the human parents help fashion the body. Does it seem unreasonable, then, for God to surround the use of these powers with laws to ensure their rightful use? Sexuality is something central to our human nature; isn't it important to use our sexuality according to the will of God, who created and loves our nature?

The love between a man and a woman, made fruitful and blessed by God in marnage, lovingly brings a new child into a family, where he will have the attention and devotion of both father and mother. It is to assure such conditions for children that God has designed human sexuality to be enjoyed only in marriage, and then only in the proper way. Society is filled to overflowing with the problems and evils and affections caused by disregard for God's wise guidance and authority.

The proper use or control of our sexual powers is called chastity, which is a virtue or good habit. It requires that we practice self- denial and self-control. A chaste person will avoid anything that might be a temptation to sin, such as indecent books and movies. Our purity is something to be protected. To safeguard it we are forbiđen to commit any act in thought or deed that is impure and shameful

What God requires of us is purity of heart and soul, all in keeping with our dignity as his children.

Words To Know: chastity - impurity

Purity prepares the soul for love, and love confirms the soul in purity.

(Cardinal Newman)

St. Maria Goretti

In 1950, at Rome, a girl who had died at the age of twelve was declared a saint She had been stabbed to death because she refused to commit an act of impurity. Her name is Maria Goretti. Maria was born in Ancona, Italy, in 1890. Her father was a tenant farmer; his family moved a lot as he looked for work. He died when Maria was ten.

Maria never had the chance to go school; she never learned to read or write. But she was carefully instructed in the Catholic faith by her mother, Assunta. She received her First Holy Communion when she was twelve.

Assunta had advised her daughter Maria as she had all her children: "Never, at any cost, never must you sin!" Maria never forgot. Shortly after her First Communion, a nine-teen-year-old boy who worked with Mariás family wanted her to be unchaste and threatened her with a knife. When she would not give in, he stabbed her to death.

Many years later, the man who had killed her repented and turned to a life of devotion. He joined those who sought her canonization.

Maria is the great saint of purity for our difficult age.

Questions:

1. What does the Sixth Commandment forbid?

The sixth Commandmeat forbids impurity of any kind. this means

immoral actions, words, looks, books, pictures, and shows.

2. What does the Sixth commandment order?

The Sixth Commandment orders us to be holy in body, conducting ourselves with the greatest respect for our own person and the person of others, as works of God and temples where he dwells with his presence and his grace.

 

3. What does the Ninth Commandment forbid?

The Ninth Commandment forbids impure thoughrs and desires.

4. What are we ordered to do by the Ninth Commartdment?

The Ninth commandment orders us to practice perfect purity of soul and the greatest respect for family life.

*****************************************************

CHAPTER 12

OWNERSHIP

 

You will find very few things around you that someone does not own. The things around us may be owned by a group of people like a company, or by a larger community such as a city, state, or nation, or by a single person. Every person has the right to own property; groups have the same right. This requires respect for the right of ownership; all have the right to have their possessions safe from theft. damage, and destruction.

These rights are protected by the Seventh Commandment:

You shall not steal'.

This commandment regulates how we handle other peoples' possessions or property. It forbids the unjust taking of what belongs to another. If I take your record without asking you, I am guilty of theft To be free from guiLt I must return what I have stolen or replace it if I can, as well as confess my sin if the matter is serious. If I purposely damage your record by scratching it I have destroyed it, and justice demands that I make restitution -- that is, pay for the damage.

We must have nothing to do with stolen property, even if we didn't steal it ourselves. Neither can we claim to own something that belongs to someone else -- as for example, when one student copies another's homework. Such a student is guilty of both stealing and lying, since he presents the work as his own.

 

On Loan

There are questions which come up about our duties and obligations when we make rightful use of another's property by permission. Perhaps we have borrowed a record to see how we like it before buying one of our own. Then we must return it in the same condition in which we received it. If we have damaged it, we must replace it. So too, in a store, we must handle merchandise with care and be honest if we damage something. We must always pay back in full all loans and debts; if we don't we are stealing.

The Seventh Commandment also forbids any kind of deception or breach of contract in our dealings with others' property. This is called fraud. There is another evil practice called usury in which someone loans money at an excessively high rate of interest This is a very bad thing, for someone who practices it is making money out of another person's great need.

The Tenth Commandment,

"You shall not covet your neighbor's goods", is meant to direct our desire for possessions.

There are two very common ways in which people break this commandment: envy and avarice. Both reveal that something is wrong with the way a person looks upon material goods. Envy is being resentful of another's success. The envious man is unhappy because he wants what another man has. Avarice is like greed. The avaricious man has an excessive desire for wealth He always wants more, no matter how much he already has.

Justice And Charity

There are certain societies in which the right to own private property is denied. However, the right to private property is acknowledged by God in the Ten Commandments. He would not condemn stealing if nobody were to own anything. Stealing is wrong because it is unjust. Thus, justice is the virtue that protects personal possessions. Justice obliges me to make restitution if I steaL It obliges my employer to pay me my due wage and obliges me to earn it with honest labor.

But the right to private property by justice, is not a sufficient foundation for the happy life of a society; charity is needed. For instance, the right to property may be acknowledged by everyone, while at the same time some persons have more than they need -- even much more -- and others do not have even a minimum required by human dignity.

Should my possessions, if they are many, be taken away from me to give to the poor? Would that be justl If not. should I forget the poor? Charity obliges me to share what I have with those who need decent food, clothing, and shelter. If people are in extreme need, then the taking of what is necessary to maintain life is not stealing since it is not the unjust taking of another's property. Jesus identifies himself with the poor when he says:

Come. You have my Father's blessing! Inherit the Kingdom prepared for you from the creating of the world. For I was hungry and you gave me food, I was thirsty and you gave me drink. I was a stranger and you welcomed me, naked and you clothed me. I was ill and you comforted me, in prison and you came to visit mẹ... I assure you, as often as you did it for one of my least brothers, you did it for mẹ (Mt 25: 34-36, 40)

We are also required to be just in payment for services of goods bought We must always pay a worker what he has earned.

Words To Know :   Steal - envy - avarice - usury - fraud

Be not anxious about what you have, but about what you are. (Pope St. Gregory)

Spirit Of Poverty

St. Francis of Assisi was known as the poor man. He won this title by owning little more than the shirt on his back. If he was asked about his circumstances he would often reply that he was married to Lady Poverty. Francis meant that he loved poverty and never wanted to own anything.

This was a great shock to his father, who was a rich cloth merchant and had great plans for his son. But God had other plans. Francis's father, Pietro Bernardone, did not accept God's plans gracefully. The result was that father and son parted company. Pietrós plans were ruined, but a whole new world opened up for Francis. He roamed the hillsides of Assisi; he walked the byways praising God; he lived in the open; he prayed long hours; he begged; and he rebuilt a mountain chapel that had fallen into disrepair. Soon others began following him, until finally a great religious order grew up around Francis's example.

St. Francis is set before us as one who had the right attitude toward material possessions. We should not set our hearts on riches. Few of us are called to be as poor as Francis, but Our Lord ađressed the following words to all men: "No man can serve two masters. He will either hate one and love the other or be attentive to one and despise the other. You cannot give yourself to God and moneý. (Mt &.24)

Jesus means that a person who has his heart set on material possessions will not be able to pay attention to the Kingdom of God. Instead of looking for chances to serve God, to pray, or to study Our Lord's words and example, such a person will be looking for chances to collect more riches. (This may mean piling up much more than one needs). One cannot have onés mind on both things -- God and money. It must be one or the other.

Serving God wholeheartedly, of course, need not mean choosing Lady Poverty, like Francis; but it cannot mean choosing riches instead of God's plan, like his father. We should try to be content with what we have and take reasonable care of our interests.

"Keep your life free from the love of money, and be content with what you have". (Hebrews 13: 5)

Questions:

1. What is forbiđen by the Seventh Commandment?

The Seventh Commandment forbids damaging our neighbor's property. This includes thefts, destructive actions, usury, fraud in contracts and in services, and assistance in any such acts.

2. What does the Seventh Commandment order us to do?

The Seventh Commandment orders us to give back the property belonging to others, to repair damages that we are responsible for, to

honor debts, and to pay a just wage to working men.

3. What does the Tenth commandment forbid?

The Tenth Commandment forbids the unrestrained desire for riches, without regard for the rights and welfare of our neighbor.

4. What does the Tenth Commandment order us to do?

The Tenth Commandment orders us to be just and moderate in the desire to improve our own condition of life, and to suffer with patience the hardships and other sufferings permitted by the Lord for our good, because " we must undergo many trials if we are to enter into the reign of God'. (Acts 14: 22)

*************************************************

CHAPThR 13

BACKED BY TRUTH

 

The Eighth Commandment,

'You shall not bear false wuness against your neighbor",

requires that we speak the truth always, but especially in matters involving the good name and honor of others. Truth is very important to us. If men were not truthful it would be impossible for us to live together.

When he was on trial before Pilate, Jesus said: "The reason I was born, the reason why I came into the world, is to testify to the truth. Anyone committed to. the truth hears my voice". "Truth!" said Pilate. "What does that mean?" (Jn 18:37-38). Evidently Pilate, who may at one time have been concerned about truth, about the meaning of life, about right and wrong, no longer cared, or had given up on it and decided there was no such thing.

But Our Lord had come as a witness to the truth. And Pilate could not help being impressed. This is perhaps what led him to make a few attempts to save Our Lord's life; but as we know, Pilate gave in under pressure and agreed to a lie by condemning Jesus.

We all know what harm can be done just by one lie. The Eighth Commandment tells us we must never tell even a single lie. But it also directs all our powers of communication. We are obliged to speak the truth and must never intend to deceive another when he has the tight to the truth.

Lying

A lie is a deliberate attempt to mislead others. It is always, sinfuL We may not lie to get out of trouble, to cover up for a friend, or to get into a movie. Even if what we want is good, we may not lie to get it.

We can be strongly tempted to lie sometimes ---- it can seem so simple and so harmless. But we must always tell the truth to those who have a right to know.

Hypocrisy

A special kind of untruthfulness is hypocrisy, when someone pretends to be better than he really is or pretends to believe something he really denies just to impress people. Jesus condemned this sin many times. However, it is not wrong to be on onés best behavior with those on whom one wishes to make a good impression.

Promises and Oaths

An important aspect of honesty is keeping one’s word. One makes one’s word true by living up to it. It is telling the truth about one’s future actions.

In taking an oath in a courtroom one promises to tell the truth with God as one’s witness. This is very serious. It is always a serious sin to lie in an important matter, but to lie under oath before God is much worse. Such a lie is called perjury.

Another's Good Name

However, there are times when we may be telling the truth and still sin. We must always speak the truth if we speak at all, but sometimes it is more prudent or charitable for us to remain silent. There are even times when we must not tell what we know to be true, for to do so would be wrong.

We have a precious possession that we may take for granted: our good name or reputation. We may hardly think of it, unless it is endangered. But if it is hurt or lost we see how precious it is to us. "A good name is more desirable than great riches" (Prov 22: 1). Regaining a good name once it is lost is very difficult; just think how hard it must be for an ex-convict to find a job. To damage a person's reputation is a serious matter. Therefore, one must have a very good reason for revealing anything about a person which would hurt his good name.

As for ourselves, we should take care to be worthy of a good reputation ---- not by seeking fame and renown, but by loving God and our neighbor and by being known as faithful followers of Christ.

There may be times when we are called upon to reveal what we know about someone ---- for instance, in legal proceedings ---- but we must be very careful about what we do with damaging facts, even if they are true.

How much worse, then, is a damaging story which is not true! Irresponsible or malicious use of the truth to harm another is called detraction and is a serious sin. The use of lies to hurt 'someone is called calumny or slander and is an even greater sin. There is a grave obligation to repair the damage done by any of these sins.

 

Rash Judgment

Besides being careful in what we say about someone, we must also be careful in what we think. There is a sin called rash judgment which is to judge another person's character on flimsy evidence. This does not mean that we may never make a judgment, but that we must be very careful about it. Otherwise someone may lose our esteem without a good reason. We should be very slow to judge.

 

Gossip

As a rule, we should not talk about the faults of others unless there is a good and important resson to do so. Gossiping usually consists of talking about the faults of others or exaggerating them. People who gossip may deal with facts, but they destroy another person's good name to satisfy idle curiosity. We must not be willing even to listen to people who gossip about others.

Secrets

We must keep any promise we have made, including the promise to keep a secret If someone tells us a secret, or if we find out something that must be kept secret for another person's good, then we must be silent about what we have learned.

Our power of speech is a precious gift that must not be used to hurt others! Jesus says:

I tell you, on the day of judgment men will tender account for every careless word they utter; for by your words you will be justified, and by your words you will be condemned (Mt 12: 36-37),

Words To Know

Slander - flattery - detraction - rash - judgement - gossip - false witness

"Never let evil talk pass your lips; say only the good things men need to hear, things that will really help them" (Ephesians 4: 29)

Questions:

1. What is forbiđen by the Eighth Commandment?

The Eighth Commandment forbids all falsehood and unjust damage to another person's reputation. This includes false witness, slander, lies, detraction, flattery, unfounded suspicion, and rash judgment

 

2. What does the Eighth Commandment orders?

The Eighth Commandment orders us to speak the truth responsibly and to avoid rash judgment of our neighbor's actions.

3. What is a person required to do who has damaged his neighbor's good reputation by accusing him falsely or speaking badly of him?

He who has damaged his neighbor's good reputation by false accusation or bad talk about him must repair the damage he has done, so far as he is able.

****************************************************

CHAPTER 14

THE UNWERSAL CALL TO HOLINESS

“But as he who called you is holy, be holy yourselves in all your conduct since it is written you shall be holy, for I am holy". (I Per L 15-1&)

As members of the Mystical Body we have a general calling, or vocation, from God. Each Christian is called to holiness, which means that we are each called to follow Christ so that one day we may be with him in Heaven for eternity. As St. Paul tells us in his letter to the Christians in Epheaus, God "chose us in him before the foundation of the world, that we should be holy and blameless before him" (Eph 1: 4). The vocation of each Christian, then, is to become a saint.

In ađition to becoming saints, we are also called by God to spread the faith given at our Baptism. Each of us must be a missionary, or apostle, for Christ, preaching the gospel in whatever way we can, by word and by example. We call this work the apostolate.

For each of us, becoming a saint and spreading the faith are done in different ways. This is our specific vocation, to which God calls us, according to our own gifts, talents, and circumstances. St. Paul, in his letter to the Romans, reminds us that the Church, like the body, has many members, each of which has its own particular role:

Having gifts that differ according to the grace given to us, let us use them: if prophecy, in proportion to our faith; if service, in our serving; he who teaches, in his teaching; he who exhorts, in his exhortation; he who contributes, in liberality; he who gives aid, with zeal; he who does acts of mercy, with cheerfulness. (Rom

12: 6-8)

Thus our own particular vocation depends upon the gifts that God has given us.

In discovering our vocation, we cannot simply follow our own desires, for often these may lead us away from God. Nor can we expect God to hand us a detailed list of instructions about how to live our lives. Rather, we should pray for the wisdom to recognize our talents and abilities -- as well as our limitations -- and to choose our lifés work accordingly. We also have to recognize the circumstances we are in, where God has placed us. For instance, a father who has to take care of his family cannot say, Well, I have a special gift to be an artist (for some other talent), so I ought to pursue that instead of the drudgery of my job or of the care of my children". In later chapters we will consider the possible states of life to which God may call us.

Obstacles To Holiness

Before considering how to become holy, we shall look first at those things that are obstacles to holiness. We know that all men are born with original sin, and that it is removed through Baptism. After Baptism, however, we are still weak and inclined toward sin. We are still easily tempted, and inclined toward evil, toward disobedience to God and his Commandments.

This inclination to sin can also be seen in the way we often use our natural tendencies. God has placed in all men certain tendencies to help us live here on earth. For example, we have a natural desire for food and drink so that we can survive physically. Because of original sin it is easy for these tendencies to get out of control. When this occurs, they lead us to sin. For example, the desire for food and drink can become excessive, leading a person to gluttony or drunkenness.

If we allow these tendencies to get out of control frequently, they can become habits. Habits are ways of acting that are acquired by repetition of certain actions. Habits are a familiar part of our daily routine. We brush our teeth, for example, without giving it much thought. Once we have learned to ride a bicycle, we develop the habit and ride without thinking about all the steps we are following. These habits are morally indifferent that is, they are neither good nor evil. Some habits, however, are sinful. These are acquired by repeatedly doing bad actions and are known as vices.

There are seven principal vices, which are known as the seven capital sins. They are called capital, from the Latin word for head or source, because they are the source of all other sins and vices, They are not the only vices, just the chief ones from which many more stem. Because these vices are the major obstacles in our path to holiness, we should consider each of them briefly and learn to recognize them.

The beginning of man's pride is to depart from the Lord . . . for the beginning of pride is to sin, and the man who clings to it pours our abominations’. (Sir 10:

14.15)

Pride is the chief capital sin, for it is at the root of all the others. It is an excessive, disordered love of oneself. This leads us to prefer our own desires to those of God and our neighbors. It is pride that was at the root of the sin of our first parents - their desire to be like God. They did not want to be subordinate, as creatures, to their Creator. We should not confuse this vice with the rightful pride we take in our accomplishments or with a correct sense of self-esteem. These are sinful only if we exaggerate them.

'And Jesus said to them Take heed, and beware of all covetousness; for a man's life does not consist in the abundance of his possessions'. (La 12 15)

Covetousness, or avarice, means greed. It is an uncontrolled desire for earthly possessions, such as money, clothes, and so on. A certain desire for these things is natural, since they are necessary in order to live in the world. However, we must constantly take care that these desires do not turn to greed, and that we do not put these things first in our lives or ahead of more important values. Not only is covetousness itself wrong, as the Ninth and Tenth Commandments tell us, but greed can easily lead to further sins. For example, the person with this vice may eventually lie, cheat, steal, or even murder, in order to possess those things he desires.

‘But I say, walk by the Spirit, and do not gratify the desires of the flesh. For die desires of the flesh are against the Spirit, and the desires of the Spirit are against the flesh, . . . Now the works of the flesh are plami immorality, impurity, licentiousness’. (Gal 5: 16-19)

Lust is the uncontrolled desire for or indulgence in sexual pleasure. It should not be confused with the lawful use of our sexual powers within the holy state of marriage. God created human beings with a natural attraction to the opposite sex. As long as this attraction is controlled and ordered finally to Christian marriage, it is healthy and good. This attraction becomes disordered when it is focused on our own pleasure instead of a selfless, true love of another person, and when it is separated from marriage and the purpose of marriage.

‘Be angry but do not sin; do not let the sun go down on your anger… Let all bitterness and wrath and anger and clamor and slander be put away from you’. (Eph 4 26, 31)

Anger is an uncontrolled expression of displeasure and antagonism, often accompanied by a desire for revenge. This is not the same as the righteous anger spoken of by St. Paul in his letter to the Ephesians or that exhibited by Our Lord when he threw the moneychangers out of the Temple. Anger is the proper response to an injustice .- for example, defrauding the poor, abortion -. but we must control it and use it properly. If our anger is uncontrolled or if it is bitter and full of hate and we seek only revenge, it has become a vice.

‘Do not have an insatiabie appetite for any luxury, and do not give yourself up to food, . . . Many have died of gluttony, but he who is careful to avoid it prolongs his life’. (Sir 37: 29-31)

Gluttony is an uncontrolled desire for and indulgence in food and drink. Eating and drinking are intended to be pleasurable and are certainly not sinful in themselves. In fact, they are necessary for our survival. However, like our desire for possessions, these desires can become excessive and be abused by us.

‘For where jealousy (envy) and selfish ambition exist, there will be disorder and every vile practice'. (James 3: 16)

Envy is unhappiness or discontent over the good fortune or success of others. We are envious when we are saddened at another's prosperity or when we rejoice in another's misfortune. This vice is not the same as the ordinary desire or wish we might have to be successful like someone else. Similarly, it is not the wish or desire to possess a certain talent.

‘And we desire each one of you to show the same earnestness in realizing the full assurance of hope until the end, so that you may not be sluggish, bus imitators of those who through faith and patience inherit the promise?. (Heb 6: 11-12)

Sloth is excessive laziness or carelessness. It is unlike the other vices, because it is not an ordinary desire that is uncontrolled. It is really a lack of desire to do one's duties, particularly spiritual ones, because of the effort that is involved. It is not the same as a reasonable desire for times of rest or leisure.

We do not all have equal inclinations to these vices. Some of us must struggle more against temptations to envy, while others are more tempted by anger or gluttony. The first step on the path to holiness is to look at ourselves, try to recognize our weaknesses, and try to overcome them with God's help.

Words To Know: vocation - apostolate - habit - seven capital sins.

Questions:

1. What is a vice?

A vice is a habit of doing evil, acquired by repeating bad actions.

2. What are the principal vices?

The principal vices are the seven capital sins. They are given this name because they are the source and the origin of other vices and sins.

 

3. What are the virtues opposed to the capital sins?

The virtues opposed to the capital sins are humility, liberality, chastity, patience, sobriety, brotherliness, and diligence in the service of God.

**********************************************************************

CHAPTER 15

THE WORKS OF MERCY AND HAPPINESS

'Then the just will ask him: Lord, when did we see you hungry and feed you or see you thirsty and give you drink? When did we welcome you away from home or clothe you in your nakedness? When did we visit you when you were ill or in prison? The king will answer them. I assure you, as often as you did it for one of my least brothers, you did it for me.’ (Mt 25: 37-40)

We grow in virtue, particularly in practicing the works of mercy. In these acts we show our love for Christ by helping our neighbor. Our Lord told us, ‘Truly, I say to you, as you did it to one of the least of these my brethren, you did it to me’. (Mt 25: 40)

Since we have both bodies and souls -- and both require care -- the works of mercy are divided into two groups. We care for our neighbors' soul and spiritual needs through the spiritual works of mercy. We care for their bodies and physical needs through corporal works of mercy.

Because our souls are the most important part of our human nature - - the part by which we can think, know, and freely choose good or evil -- the seven spiritual works of mercy are the most important As we consider each of them, think of how you can practice these in your life. Remember that the heart and soul of each of these works is love; love is their moving force.

Spiritual Works

Admonish the sinner. Because sin separates one from God, it is truly art act of love to help another person realize the seriousness of sin and the need for forgiveness. This does not mean humiliating someone in public or acting as if we ourselves have never sinned. Rather, we should quietly and tactfully steer our friends away from occasions of sun or encourage those who have sinned to seek forgiveness in the sacrament of Penance, giving them hope that they will be able to overcome sinful ways with the mercy of God.

Instruct the ignorant. Helping a person to learn or understand the truths that God has revealed to us is a second way to nourish another's spiritual life. Our religion teachers and parents, of course, do this for us, but there are also other ways to practice this work of mercy as well. There are many people who have not heard the message of the gospel in its fullness. We can often find opportunities to tell them about it, remembering the works of Our Lord:

No one after lighting a lamp puts it in a cellar or under a bushel, but on a stand, that those who enter may see the light. (Lk 11: 33)

We have been given the “light of faith' and should not hide it but should let it shine forth. However, we must avoid preaching or acting as if we know all the answers.

Counsel the doubtful. To counsel some one means giving him advice or guidance. Those who most need this counsel are people who are weak in the virtues of faith and hope. For example, someone may reject certain beliefs of the faith -_ or at least question them -- or may fall into despair, doubting that God will forgive him for his sins. These people need loving guidance and encouragement to strengthen them, thus bringing them closer to God once more.

Comfort the sorrowful. Suffering is a part of our life in this world. Indeed, Our Lord told us that those who wish to follow him must first take up their cross, just as he took up his Cross for us. Each of us has our own specific crosses that 0ur Lord asks us to bear out of love for him. This is not always easy, and this work of mercy reminds us that we should help one another to bear the sufferings in our lives. Sometimes a word of love and understanding can help Sometimes a kind deed can lighten the burden of someone else's suffering.

Bear wrongs patiently. It is important to remember that it is better to suffer an injustice than to be guilty of committing one ourselves. In his Sermon on the Mount Our Lord saicd:

I say to you.... Love your enemies, do gabd to those who hate you, bless those who curse you, pray for those who abuse you. To him who strikes you on the cheek, offer the other also; and from him who takes away your cloak do not withhold your coat as well. (Lk 6: 27- 29)

This true charity is the mark of the Christian, and we must learn to be patient and strong when we are the victims of injustice. It is by such actions that we may draw others to Christ.

Forgive all injuries. Not only must we patiently bear these wrongs, we must also forgive those who injure us. In the Lord's Prayer, which Jesus taught us, we say, ‘forgive us our trespasses, as we forgive those who trespass against us’ (Mt 6: 12). This means the measure by which we forgive will be the measure by which God will forgive us. By forgiving others we imitate the love that Christ shows for us. He offers forgiveness to all -- even those who put him to death on the Cross.

Pray for the living and the dead. We have already seen that the Communion of Saints means that we can pray for one another. This act of love is one of the easiest –‘ and one of the most important -- ways to help others. We recall that charity toward our neighbor includes our enemies, and our prayers should extend to them as well. When we pray for those who have died, let us remember not only our relatives and friends, but also those would who are most forgotten.

Corporal Works

The seven corporal works of mercy are those acts of love that Our Lord spoke about when he described the Last Judgment. To those who practice these works Our Lord will say:

Come, 0 blessed of my Father, inherit the Kingdom prepared for you from the foundation of the world; for I was hungry and you gave me food; I was thirsty and you gave me drink; I was a stranger and you welcomed me; I was naked and you clothed me; I was sick and you visited me; I was in prison and you came to me. (Mt 25: 34-36)

Feed the hungry, give drink to the thirsty, and clothe the naked. Most of us have been greatly blessed by God. Nevertheless, there are many people in the world -- even some in our country -- who lack many of the basic needs of life. We must not neglect these people. It is an obligation of charity to help them. While we may not be able to help these people directly or dramatically, we can contribute money or possessions to groups whose works are such charitable activities. For example, there may be an organization in your parish -- such as the St. Vincent de Paul Society -- which carries out these works of mercy.

These works of mercy start in the family. Parents are responsible for seeing that their children are fed and clothed. in the same way, when the children are older they are responsible for taking care of these needs for their aging parents. At this point in our lives we can practice these works of mercy in simple ways. For example, we can prepare lunch for a hungry brother or sister or share some of our clothes with others in our family. Families together can reach out to other poorer families. These acts of mercy will prepare us for greater works as we grow older.

Visit the imprisoned. There are many kinds of people in prison. There is the hardened criminal. Some great conversions have taken place among the must hardened, and perhaps the grace they received came through the prayers or kindness of people who knew them. There are some who were weak and make mistakes but are now sorry for what they have done. These need to be encouraged, so that they will continue to reform their lives. Some are innocent, If we are able, we should help them obtain justice. In the meantime, they need our moral support.

There are still other people who ate not in jail, but whose state in life can be like a prison -- separating them from other people and the support such contact brings. For example, some who, for a long period of time, must care for a sick relative at home may need our visits to help him accept his present cross.

Shelter the homeless. There are many homeless people in our cities. We should pay attention to their great need. For example, Trevor Ferrell, a twelve years old boy in Philadelphia brought the street people blankets from his own home. The word got around and soon the whole neighborhood was helping. Finally they even rented a house for the homeless.

We may not always be able to do much directly for those people who are homeless. However, we can practice this work of mercy by being willing to share our homes with someone in need -- for example, a friend whose home has been damaged by a fire or flood. We can also willingly share our own room with a brother or sistet if this is needed in our family.

Visit the sick. The sick are often frightened and may be in particular need of encouragemeflt It is not always easy fot us who are healthy to understand the suffering sick people go through. Visiting them may give them the strength they need to bear their cross. Perhaps they may need us in some practical way. Christ can touch them through our acts of love.

Bury the dead. The final act of mercy is mentioned in the Old Testament. The angel Raphael praised Tobias for this charitable act: And when you buried the dead, I was likewise present with you. When you did not hesitate to rise and leave your dinner in order to go and lay out the dead, your good deed was not hidden from me. (Tob 12: 13)

By this action we show respect for the body, because it is part of the human being. We can practice this work of mercy by attending a funeral of someone we knew -- and offering consolation to those who are bereaved -- or by respecting cemeteries, perhaps leaving flowers at the grave site of a relative.

By livmg the virtuous life and procuring the works of mercy, we will be happy for ever with God in Heaven. This is the happiness of which Our Lord spoke in the Sermon on the Mount (Mt 5: 3-11). He promised this happiness to those who live the Christian life, which he summarized in the eight Beatitudes.

‘Beatify means 'to make happy'. A beatitude is a special happiness or blessing of spiritual nature. These eight Beatitudes are the promises for happiness that

Christ makes to those who faithfully accept his teaching and follow his example.

The happiness of which Our Lord speaks, however, is not what the world identifies with happiness money, power, fame, and so on. Even when such things bring us pleasure or happiness, it is fleeting. The happiness that belongs to the meek, the pure in heart, and so on, is the lasting happiness of eternal life. This happiness brings us true joy and peace even in our life on earth. It is the happiness which no one can take from us. It lasts forever.

Words To Know

Corporal works of mercy spiritual works of mercy

Questions

1. Did Jesus Christ recommend to us any particular moral virtues?

Jesus Christ recommended certain moral virtues in a particular way, included in the eight evangelical beatitudes, calling him happy and blessed who puts them in practice.

2. Why does Jesus Christ in the evangelical beatitudes, contrary to the opinion of the world, call persons happy who are humble and who suffer tribulation?

Jesus Christ, contrary to the opinion of the world, calls persons who are humble and who suffer tribulations “happy' because they will have a special reward from God; and he teaches us to imitate them, without paying attention to the deceitful maxims of the world.

3. Can they be truly happy who follow the maxims of the world?

They who follow the maxims of the would cannot be truly happy, because they do not seek God, their Lord and their true happiness; for this reason, they do not have peace of conscience, and they are on the way toward damnation.

****************************************************************

CHAPTER 16

VOCATION & THE RELIGIOUS LIFE AND THE PRIESTHOOD

 

'Under the impulse of love, which the Holy Spirit pours into their hearts, they live more and more for Christ and for his Body, the Church. The more fervently, therefore, they join themselves to Christ by this gift of their whole life, the fuller does the Church's life become and the more vigorous and fruitful its apostolate! (PC 1)

In an earlier chapter we spoke of the vocation that all of us share as Christians -- to follow Christ and ultimately to be with God in Heaven. Yet, each must pursue this goal differently, according to his own temperament and particular call from God. The vocation of most Christians is the life of a layman or laywoman in the world. For others, though, it will be the priestly or religious life.

We have seen that, from the beginning of Christianity, some in the Church have directly consecrated their lives to God by a vow. Although not everyone is called to this life, Our Lord invites many to follow him in this way. In the Gospels he tells us of the reward that will be given to those who answer this call:

And every one who has left houses or brothers or sisters or father or mother or children or lands for my name's sake, will receive a hundredfold, and inherit eternal life. (Mt 19: 29)

The call to the priesthood or the religious life is a vocation to follow Christ most perfectly on earth. Once Our Lord was approached by a rich, young man who asked what he must do to have eternal life. Our Lord told him:

‘If you would enter life, keep the Commandments....’ The young man said to him, “All these I have observed; what do I still lack? ‘ Jesus said to him, ‘If you would be perfect, go, sell what you possess and give to the poor, and you will have treasure in heaven and come, follow me’. (Mt 19.1 7, 20-21)

Here Jesus was speaking of the call to the religious life . following the counsels of perfection.

Although this vocation is the highest call, God does not intend everyone to live the religious life. Each of us must seek holiness in the state that God wants us to live. The consecrated life calls for great generosity. Objectively, religious life is the most perfect. This does not mean that a lay person cannot attain perfection. Every vocation leads to holiness. Everyone must try to find out what God calls him to.

Religious Life

The religious life consists in following the three evangelical counsels, also known as the counsels of perfection. These are commendations for perfect love taught and practiced by Christ -- poverty, chastity, and obedience. Those who follow these counsels take vows (free, deliberate promises made to God) to keep each one. They willingly give up certain good things of this life -- money and possessions, marriage, and liberty -- in order to devote themselves more completely to loving and serving God and neighbor. These vows set a person free from temporal goods, so that he may freely give himself to love of God and neighbor.

The first counsel is poverty. The person who takes this vow gives up his earthly possessions in order to follow Christ. In our modern world, where so much emphasis is placed upon jobs, money, and possessions, this is indeed a sacrifice, even for one who is not rich.

Through religious life Christ calls for a life of total consecration in individual service to God and to one's neighbor. This means that you give to God the highest natural goods. One of these is the loving union with another person in marriage and family life. Human love in marriage is a holy thing, which Our Lord has blessed. Thus the sacrifice involved in giving this up is truly great. By the vow of chastity a person consecrates himself more completely to God, surrendering the good of marriage.

Since one might fulfill the counsels of poverty and chastity but still be filled with love of self, God asks one final sacrifice of the person who dedicates his life to him. He asks that one surrender his own personal preferences and wishes. This is the vow of obedience. The person who follows this path then gives up his liberty, submitting himself completely through his legitimate religious superiors, to the will of God as it is manifest in the Church.

One who enters the religious life, practicing the vows of poverty, chastity, and obedience, does so in imitation of Christ himself. At his death Our Lord had nothing; the soldiers even cast lots for the clothes he had been wearing (Mt 27: 35). At one time he said of himself, “... the Son of man has nowhere to lay his head” (Mt 8:20). We know Our Lord never married; he spent his public life preaching and teaching the Good News.

Most impxlant, he submitted his will to his Father in Heaven. This was particularly demonstrated on the eve of his death, when he prayed in the Garden of Gethsemane. Knowing what lay ahead of him, he said: Father, if thou art willing, remove this cup from me: nevertheless not my will, but thine, be done. (Lk 22: 42)

Those in the religious life are an example to all people. They remind us of the importance of placing God first in our lives. Although we are not all called to sacrifice these goods, even those living in the world are called to place their love of God above the love of possessions, family, and self.

As we have seen, various religious communities have been officially instituted throughout history for those who are called to the religious life. There are communities for men and others for women. In both, members live a community life according to a particular rule. Prayer and contemplation ordered to a more perfect love of God and neighbor are the basic work of all religious communities. For some communities this is their principal work. These members of contemplative orders spend their days in prayer, by which they serve God and the entire Church. This is a great work that helps the world tremendously, since there are so many who forget God. The contemplarives usually live a cloistered life, separated completely from the world and working within their monasteries or convents to mpport themselves. The Benedictine and Cistercian communities, as well as come Carmelite communities, are examples of the contemplative religious life.

Other religious communities dedicate themselves to a more active service of God and neighbor by engaging in various works of mercy - - both corporal and spiritual. These active orders may operate schools, hospitals, or orphanages. There is one community of sisters who both visit and pray for those in prison, helping them to refoan their lives. This orders has, in fact, many sisters who were once prisoners themselves. Mother Teresa's Missionaries of Charity are an active community who care for those who are dying and perform other active works. This active work, however, must always flow from and be an expression of the prayer life of these religious communities. Prayer, then, even in the active religious life is the basis for all their work.

Priesthood

There is a very special calling of Christ which is of great importance in the Church. It is not something one can simply choose, but something one is called to. It is the priesthood, the sacrament of Holy Orders. This call to exercise the priestly power of Christ and to be “another Christ” is a great honor but also a great and beautiful sacrifice. Those who have received Holy Orders share most perfectly in the redeeming work of Jesus Christ. They are the ministers of grace to the Church, as they administer the sacraments.

Some priests or clergy are members of religious community. The clergy is made up of deacons, priest, and bishops. Most ordained ministers in the Church have been called to serve Christ as diocesan clergy. They are members of a particular diocese, often serving in parish work.

At their ordination the diocesan clergy promise obedience to their bishop, and bishops owe their obedience to the Pope. In the Latin rite the priests do not marry, taking a vow of celibacy. However, in the Latin rite permanent deacons may be married, and in some Eastern rites priests may be married. Those who are married do promise, however, not to marry again if their spouse dies. Diocesan clergy are not bound to take a vow of poverty. They may own things and usually receive a small salary for their personal expenses. They try to live a simple life in order to imitate Our Lord more closely and to be a witness for Christ to the world.

The Church needs many men and women to follow Christ, answering God's call to the religious life and the priesthood. We should pray to know if this is God's will for us. Even if this is not our vocation, we should pray that those who are called will joyfully respond, for:

The harvest is plentiful, but the laborers are few; pray therefore the Lord of the harvest to send Out labors into his harvest. (Mt (: 37-38).

Words To Know: evangelical counsels - celibacy - contemplative - clergy

Questions:

1. Is the priesthood a great dignity?

The dignity of the priesthood is very great, because of its power over the real Body of Jesus Christ which is made present in the Holy Eucharist and because of its power over the Mystical Body of Jesus, the Church, which the priesthood rules and governs, with the sublime mission of leading men to holiness and to the life of the blessed.

2. What purposes must he have in view who takes Holy Orders?

He who takes Holy Orders must have as his purpose only the glory of God and the salvation of souls.

3. Can a person enter into Holy Orders at his own will?

No one may enter into Holy Orders at his own will but he must be called by God: in other words, he must have the vocation to Holy Orders, with the attitudes required by the sacred ministry.

******************************************************

CHAPTER 17

THE LAY APOSTOLATE

“From the fact of their union with Christ the head flows the laymen's right and duty to be apostles. Inserted as they are in the Mystical Body of Christ by baptism and strengthened by the power of the Holy Spirit in confirmation, it is by the Lord hirnself that they are assigned to the apostolate”. (AA,3)

While God calls some to serve him in the religious life or the priesthood, he calls most people to serve him in the world. Those members of the Church who are not ordained or do not belong to a religious community are called the laity.

The laity share the universal call to holiness with those in religious life. They, like priests, sisters, and brothers, must develop a strong spiritual life, uniting themselves with Christ through prayer, work, and the sacraments This form of the spiritual life, however, will be different for each group because of their activities and obligations.

In addition to this universal call to holiness, members of the laity are also called to serve the Church in various capacities. This service begins within their individual parish communities. They may also serve the Church at the diocesan, national, or even international levels. Finally, the laity, like the religious, are called to be witnesses of Christ and his Church. Both by their word and their example, laymen are called to bring Christ's gospel message to the world. Because their manner of life is the same as that of others in the world -- raising families, working, and so on -- they may at times be more effective witnesses of the gospel than are those in religious life.

Unlike priests and religious, who are called to live separated from the world, the layman must live in the world. He must permeate society with the leaven of the gospel. The laity must be the salt of the earth (Mt 5: 13), drawing the world to Christ. This means that they must try to bring Christian justice and charity into all the activities of human life -- social, economic, industrial, political, cultural, and recreational activities. All of these are temporal (worldly) goods, and it is the specific vocation of the layman to sanctify them. The grace of Christ does not take the place of nature but respects the natural order and perfects it.

The layman is especially called to use the three great goods that religious freely give up -- wealth, sexuality, and independence. The laity are called to use their money and possessions for the good of the Church, of their families and of those in need. Most are also called to marry and raise a family, thus bringing new souls to Christ. Finally, they are called to use their freedom to make Christ present everywhere in the world.

Even though the layman's vocation is to live in the world, he must always keep in mind the warning of Our Lord that we live in the world but not be of the world. The laity must work to renew the temporal order, drawing all toward God. But at the same time, they must strive to keep themselves free from the corruptions of the world. St. Paul wrote, “do not be conformed to this world . (Rom 12: 2)

The lay apostolate encompasses both work and leisure (those activities that are not work and are done for their own sake). The layman must sanctify himself as well as the world through these activities.

Each person is called to sanctify his ordinary labor, using it as a means of serving God. For you, as students, your principal 'work' or duty right now is to study. You must, then, use your studies to praise God. This means beginning now to do the best you can in your schoolwork, so that it may be a fitting offering to God. The same is true of any duties you may have at home -- for example, doing the dishes, caring for the yard -- or at a job. The layman is also called to sanctify his leisure serving God through excellence in art, music, athletics, and the like.

The lay vocation embraces both the married and the unmarried life. Both are called to live chastity in different ways, according to their state. While most of the laity are called to the married state, there are some people who live the lay life as unmarried person. These people continue to live in the world and have no intention of entering a religious community. While this calling may not be for many, those who are called to the single life in the world are given the graces they need to become holy through the sacrament of Confirmation. They also gain strength from the sacraments of Penance and the Eucharist.

The single state may be chosen by some people who desire to serve others in the world more fully than they could if they had a family. For example, it was common in our country in the last century for women teachers to remain unmarried, so that they could devote themselves more fully to educating others. Others may remain unmarried because obligations in justice or charity require it. For example, one might remain single iii order to be able to care for aged parents or other relatives who need one's care.

Most lay people however, live the married life. This state is a great vocation, instituted and blessed by God at the Creation of the world. We will consider the married state in the next chapter.

Words To Know:   Laity

************************************************

CHAPTER 18

MARRIAGE AND THE FAMILY

God craned man in his oum image and likeness: calling him to existence through love, he called them at the same time for love”. (FC,II)

There are two main vocations to love: marriage and virginity or celibacy. The vocation to marriage is a vocation to a specific kind of human love (conjugal love), blessed by God and instituted by him at the creation of the world. In the first two chapters of Genesis we read about the creation of the world and the institution of married life.

In the above quote, the Pope refers to the words of Genesis 1:27 telling us that God made man and woman in his own image. This means that they are different from everything else in the world that God had created until then. They have an intellect and free will as God has. They are persons, a man and a woman, equal in dignity -- male and female he created them. God is love, and since they were made in his image they were made to love God and each other. The words of Genesis continue, God blessed them. Thus they formed the first community of love, an image of the Trinity, which is the divine community of love.

Then God said to them, Be fruitful and multiply, and fill the earth... (Gen 1: 28). This tells us that God meant this community of love, which is marriage, to bear fruit. He gave them a share in his act of creation. The fruit of marriage is children. This is its first purpose. God intended that through the loving union of man and woman in marriage, children be brought forth. They are its crowning glory.

In the second chapter of Genesis we read more about the vocation of marriage:

The Lord God said, It is not good that the man should be alone; I will make a helper fit for him and the rib which the Lord God had taken from the man he made into a woman and brought her to the man. Then the man said: 'This at last is bone of my bones and flesh of my flesh.... Therefore a man leaves his father and mother and cleaves to his wife, and they become one flesh. (Gen 2: 18, 22-24)

Here God reveals to us that marriage, which by its nature is a union of love, has as a second purpose mutual love and support of the husband and wife. The man and woman united in marriage are to support one another in life. They are to help one another in their tasks on earth -- primarily raising their children. Through marriage they become one and are no longer simply individuals. They are called to sacrifice some of their individual freedom for the sake of a greater good - the new family they have formed.

We also learn from the above quote that the man and woman shall become one flesh -- that is, the union in marriage is one of body as well as of soul. There is a total giving, under God, of the whole person to the other. There can be no total conjugal self- giving apart from marriage. Total self-giving means giving of oneself, until death, exclusively to one person. You enter freely and consciously into marriage. You make a public promise in front of witnesses which, once made, you are no longer free to take back. You even give up the right to decide otherwise in the future. Total giving of self also means accepting all the consequences, which includes openness to the gift of life.

Since bodily union is an expression of the total self-giving of two persons, it is a lie if it takes place between two unmarried persons. If your body expresses, 'I am yours for ever, but your mind knows that is not true, then you are lying. That is why sex outside of marriage is a lie. It is also, of course, fornication or adultery.

The Sacrament Of Marriage

The married state has been blessed by Our Lord, as well. At the beginning of his public life, Our Lord attended a wedding feast where he worked his first miracle (Jn 2: 1-11). By his presence at this wedding, Christ blessed the vocation of marriage. He also raised marriage above the natural level to the dignity of a sacrament. Thus, the baptized man and woman who unite themselves in marriage receive from Christ the graces that they need to live this life. These are special graces to help them overcome obstacles, bear their crosses, and become better spouses and parents.

For the Christian the natural ends, or purposes, of marriage are raised to a supernatural level. The bearing and raising of children are not simply for life here on earth. Christian parents raise children that they may eventually be united for ever with God in Heaven. Similarly, the Christian husband and wife not only support one another in mutual love but, even more importantly, must help one another to know, love, and serve God so that they may reach Heaven. This is called the mutual sanctification of the spouses.

Christ also emphasized the indissoluble nature of marriage. He taught us that the union of husband and wife is a lifelong union, which ends only with death. On one occasion, when Our Lord was questioned by the Pharisees about divorce, he quoted the passage from the second chapter of Genesis and then said:

What therefore God has joined together, let no man put asunder.... I say to you, whoever divorces his wife.., and marries another, commits adultery; and he who marries a divorced woman commits adultery. (Mt 19: 6, 9)

 

Thus did Our Lord make clear that marriage must be a permanent state on earth. He himself taught this on his authority as Son of God, for even in the Gospels we see that his contemporaries accepted divorce. Because the indissolubility of marriage is often rejected in today's world as well, the Christian must be an example and witness to the world.

The New Testament also teaches us about the supernatural element of marriage. In his letter to the Christian community in Ephesus, St. Paul reminds us of the mutual obligation of husbands and wives to love one another: 'Husbands, love your wives, as Christ loved the Church... and let the wife see that she respects her husband' (Eph 5: 25, 33). Thus, we are to love one another with Christ himself as our model.

The Family

As we have seen, husband and wife unite in marriage to form a new community -- the family. The family is the basic unit of society. It is in the family that new human beings are brought into the world. It is here that we first learn how to live in society. And it is in the family that children are first taught and prepared for their place in the Church and irs society. There are then obligations for both rents and children in the family.

In addition to helping one another to serve God and neighbor and thus reach Heaven, the atate of marriage places other obligations and responsibilities on the husband and wife in their roles as parents. The first obligation is that they must be open to the gift of life. This means that they must accept children as coming from God and destined for God. While it is true that not all marriages will be blessed with children, this openness to children must alwayi be present. In such childless marriages the couples can glorify God through their union of love and their mutual sancnfication. They are called to be spiritually fruitful through works of mercy such as, for instance, adoption or foster care of children.

The second obligation of parents is to care for those children whom God has given them. The basic needs of life must be met first. Satisfying physical needs, however, is not sufficient for preparing children for the world or for eternal life.

The third obligation of parents is to educate and form their children so that they will be able to lead good and useful lives on earth and, finally, to attain salvation in Heaven.

Naturally, parents must see to the basic instruction of their children -- reading, mathematics, and the like. More importantly, parents are responsible for their moral and religious education. They must care for the spiritual needs of their children -- not simply their physical needs. One of the first duties of Christian parents, for example, is to have their children baptized.

Since moral, religious, and intellectual education begin very early in life, parents are the first teachers of their children, by both word and example. They are also the primary educators of their children. This means that the obligation for educating their children belongs first to the parents. Even though most parents eventually delegate their role of educator to the school, they should not abandon their role as the primary educators. Parents must continue to teach their children and help to form their moral characters.

 

Filial Piety

Children also have obligations and duties within the family, and must develop the virtue known as filial piety. This is the virtue of giving honor and respect to our parents, who are immediately responsible for our existence and well-being. Like the virtue of religion, filial piety is a part of justice and is an acknowledgement of the debt that we own to our parents.

Filial piety requires us to obey our parents since they have been given authority from God to raise us. In this we can model ourselves on Jesus, who was obedient to Mary and Joseph. “And he went down with them and came to Nazareth and was obedient to them” (Lk 2: 51). This obligation is proper to us until we reach adulthood and are responsible for our own lives.

Filial piety, however, does not end with our maturity. We are still obliged to honor and respect our parents. We must recognize the great work they have undertaken with God and should show them esteem and gratitude. That is what the Fourth Commandment is all about.

Finally, filial piety requires us to care for our parents in their old age or infirmity. The Words of God in the book of Sirach reminds us of this duty: '0

son, help your father in his old age, and do not grieve him as long as he lives'. (Sir 3: 12)

Behold how good and pleasant it is when brothers dwell in unity. (Ps 133: 1) Children also have the duty within the family to love and respect their brothers and sisters. This charity should be offered to everyone, but since we shire a more intimate bond with the members of our family, it is even more important there. Often this is difficult to achieve, but we must each work to make our homes centers of Christian charity and unity.

Finally, children also have an obligation to respect the authority belonging to those who teach them. Since parents may delegate some of their authority to the school, just as they respect, honor, and obey their parents, children must respect, honor, and obey those who teach them. We recognize this special role of the school as taking the place of our parents temporarily when we call the school our alma mater, which means 'loving or nourishing mother”. Truly we are nourished by the school as we are nourished by our parents.

In addition to this, as children grow older, they must take upon themselves more and more responsibility for their education. This is particularly important in our religious education. Often people study their faith during their youth, are confirmed, and then do not pay any further attention to their religious development. Our knowledge of our faith does not end with our Confirmation. Rather, we must, as adults in the Church, take charge of our religious development and continue to grow in the knowledge and love of God.

The married state, through family life, prepares us for our place in society. In the next chapter we will examine the role of the Christian in the state and the world.

Words To Know : filial piety

***************************************************************

CHAPTER 19

THE CHRISTIAN IN THE WORLD

'By me kings reign, and rulers decree what is just; by me princes rule, and nobles govern the earth”. (Prove & 15-16)

Just as men and women naturally come together to form families, human beings also join together to form larger societies. Not only are we members of a family, but we are citizens of a city or town, state, and a nation. Just as our parents have legitimate authority overs us in the family, so do the officials of the civil governments. St. Paul reminds us that their authority, like that of our parents, comes from God:

Let every person be subject to the governing authorities. For there is not authority except from God.... Therefore he who resists the authorities resists what God has appointed.... (Rom 13: 1-2)

The purpose of civil society is to promote and ensure the common good of its members. The common good is the welfare of the whole community, not just an individuaL In order to promote the common good of the whole community the State has the authority to make just (fair) laws and regulations to govern its citizens. And citizens have an obligation to obey and respect these laws. Our Lord taught us the importance of recognizing civil authority when he was asked about the lawfulness of paying tribute to Caesar, “Render to Caesar the things that are Caesar's, and to God the things that are God's” (Lk 20 : 25). It is important to remember that in this passage Our Lord gives two commands. As Christians we must first of all obey the laws of God. Then, as citizens, we must obey the laws of society.

God's Laws Come First

While the civil government -- sometimes called “the state” - has legitimate authority, it does not have the right to demand something which violates God's law. For example, no government has the right to command willful murder, since this is a violation of God's law. When such laws are made, citizens are not bound to obey them. In fact, in some sense they are not really laws. In such a situation we should think of the words of St. Peter to the Sanhedrin, “We must obey God rather than men”. (Acts 5: 29)

Civil Laws

Although we are not bound to obey such laws, we are bound to obey all laws which conform to God's laws. For example, we must obey laws regarding the property rights of others. In addition to obeying just laws, there are several other duties which we have as citizens.

As citizens we must develop the virtue of patriotism, which is love of one's country. It is natural and good for us to love our native land. Patriotism is not merely the emotional reaction we may have when we sing our national anthem or see our nation's flag. This emotional reaction may be the beginning. However, patriotism is actually a deep love for our country which prompts us to dedicate ourselves to promoting those things which are good for our country and its citizens.

At the same time, we must avoid that excessive love of country which can result in the error of excessive nationalism. This can result from a love which is blind to the defects of one's nation. One must also avoid the opposite error which is a lack of love for one's country which can lead one to despise and turn against one's own country. The actual betrayal of one's country is known as treason.

The Christian citizen must use his influence to help make his nation just. This is an area in which the laity are especially called to bring Christ to the world. We must work to promote just and moral laws, in keeping with God's law. When there are unjust laws, we must work to change them. We must work to change harmful attitudes such as racism and lack of respect for human beings, including the unborn and the poor, by conforming our own attitudes to justice, truth, and love. In a democratic nation, the Christian, then, has a particular duty to take part in the government of his country -- voting for good leaders or perhaps even running for office himself.

Duties Of Citizens

There are also other duties which we have as citizens. We must support the government through the payment of taxes arid we should, if necessary, be willing to defend our country against unjust aggression. Finally, as Christians we have a particular obligation to pray for our leaders and our country.

Besides being citizens of our nation, we are also members of the larger society of the world. We cannot isolate ourselves in our own nation, but we must be concerned about all peoples. As Christians we have a responsibility to serve others -- particularly those whose rights and human needs are not recognized. We must work for peace and justice in the world, practicing the corporal works of mercy wherever we can.

The Christian View of Creatures

In the first chapter of Genesis we read of the creation of the world. Out of nothing God brought into existence all the creatures of our world. First he created many inanimate objects - the sun, the moon, the mountains, and the seas. Then he made the various plants and the many animals -- birds, fish, insects, and the beasts of the earth. Finally, as the pinnacle of his creation on earth, God created man and woman and said to them:

Fill the earth and subdue it; and have dominion over the fish of the sea and over the birds of the air and over every living thing that moves upon the earth. (Gen 1: 28)

When God created the world he gave human beings dominion over his creation. This means that God made the earth and all of the creatures on it -- animals, plants, mountains, rivers, etc. - for us. They were made, first of all, to glorify God and to remind us of him and lead us to himself -- as does, for example, a magnificent sunset But these things were also made to give us joy.

Because we are the highest creatures on earth, we have been entrusted with a great responsibility to exercise stewardship over creation. This means that we must take care of creation and use wisely the many gifts God has given us. We must not waste or abuse any of God's creation. Man depends on air, water, forests, plants, and animals for his life, food, and clothing. Stewardship does not mean that we cannot kill animals for these purposes, but we must use them for our needs, not wastefully. Nor should we cause animals any unnecessary suffering but treat them kindly.

St. Francis of Assisi can be an example for us of the care we should have for all God's creatures. Francis loved not only the poor of this world but all of God's creatures as well -- animals and all of nature. He saw all of creation as traces and reflections of God. His tenderness for and his gentle way over animals were often noted by his companions. He spoke of animals and indeed, all creatures, as his “brothers and 'sisters'. His beautiful “Cantide of the Sun” illustrates this reverence for God's wont.

Words To Know: common good - stewardship - patriotism

Questions:

Why are we obliged to obey superiors in authority?

We are obliged to obey superiors in authority because “there is not authority except from God; ... as a consequence the man who opposes authority rebels against the ordinance of God”. (Rom 13: 1- 2)

**************************************************

CHAPTER 20

THE CHURCH AND THE SOCIAL ORDER

Go therefore and make disdples of all nations, baptizing them in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit, reaching them to observe all that I have commanded you.. (Mt 2& 19-20)

Immediately before the Ascension, Our Lord stood on the mountain in Galilee and said these words to his apostles. This final command tells us of the duty to spread the gospel to every man. But Our Lord meant more than baptizing individuals. He told the apostles to baptize all nations. This means to infuse society with the message of the gospel -. to form Christian nations.

The Church's duty then extends beyond drawing individuals to Christ. The Church must also help to shape society so that the public morality will be Christian. In this way the Church baptize” the social order, so that all things may be renewed in Christ.

In Scripture we find mentioned four sins which “cry to Heaven for vengeance'. They are sodomy (perverse sexual behavior), willful murder, oppression of the poor, and defrauding the laborer of his just wage. These sins do not “cry to Heaven' because they are the most serious sins. Idolatry and blasphemy, for example, are even worse. These four sins, however, are all injustices which undermine the fundamental order of society -. particularly the family, the basic unit of society. Because of their effect on society, the Church, over the centuries, has often addressed these matters in her social teachings.

Much of the Church's social teaching may be found in the encyclicals of the popes. These letters addressed to all the bishops and the entire Church are also a means of instructing the world and bringing the gospel to all nations. As we consider the lt three of the sins which cry out to Heaven, we will mention some of these encyclicals. Because they are addressed to the entire Church, they were written originally in the universal language of the Church -- Latin.

Protection Of Human Life

Cain rose up against his brother Abel, and killed him. Then the Lord said to Cain, 'Where is Abel your brother? What have u done? The voice of )our bother's blood is crying to me from the ground. (Gen 4: 8-10)

Murder was the first sin committed after the Fall. God, in speaking to Cain, tells us of the grave injustice which has been done. Yet, we know that not all killing is necessarily wrong. If Abel had killed Cain in self-defense this would not have been murder. Murder is the unjust taking of innocent life, which is what Cain did. This is also what is meant by the Fifth Commandment 'Thou shalt not kill.

In modem times one of the most serious forms of willful murder is the killing unborn children in the wombs of their mothers - abortion. This is the destruction of the most innocent and helpless human life. It destroys the future of our families and society. Abortion is certainly a sin which cries out to Heaven.

Through her teachings the Church has always tried to protect human life from such injustices. During the twentieth century, when the practice of abortion has spread to many nations -- including our own -. the popes have frequently addressed the world on this matter. They have proclaimed the sacredness of human life from conception until natural death and the importance of family, where new life begins and is nurtured. Two important social encyclicals which speak on these matters are Casti Connubii (Christian Marriage) by Pope Pius XI and Humanae Vitae (Of Human Life) by pope Paul VI.

War And Peace

The Church has always taught that just as it is licit for a person to defend himself or his family or defenseless persons against attack, so it is licit for nations to defend themselves or help others defend themselves against unjust aggression. This is what is known as a just war. Of course, first, other avenues for stopping the attack must be considered and used, if possible and effective. Also, the response to an attack must not be Out of proportion. The moral principle used is:

“preserving the moderation of blameless defense”.

The Second Vatican Council taught:

Every act of war directed to the indiscriminate destruction of whole cities or vast areas with their inhabitants is a crime against God and man, which merits firm and unequivocal condemnation. (GS 80)

As far as nuclear deterrence is concemed Pope John Paul II stated that:

Under present conditions, deterrence based on equilibrium -. certainly not as an end in itself, but as a stage on the way to progressive disarmament -- can still be judged to be morally acceptable. However, to insure peace it is indispensable not to be content with a minimum which is always fraught with a real danger of explosion. (Message to the United Nations, June 1982)

Several national bishops' conferences have issued Pastoral Letters on the question of war and peace, for instance, the U.S bishops and French bishops. They agree on the basic principles, but also agree that the practical application may differ because prudential judgments are involved.

 

Social Justice

You shall not wrong a stranger or oppress him - you shall not afflict any widow or orphan. If you do afflict them, and they cry out to me, I will surely hear their cry.'. (Ex 22. 21-23)

Behold the wages of the laborers who mowed your fields, which you kept back by fraud, cry out, and - have reached the ears of the Lord (James 5:4)

Oppressing the poor, the widowed, the orphaned, etc., and defrauding the laborer of his wage are also sins which directly harm society. These two evils are the basis of the Church's teaching on economic and civil matters. The Church reminds all people and nations of their obligations in justice to care for the unfortunate among us. Thus, the

Church teaches us of the evils of economic systems that exploit the poor.

The Church also teaches us of the importance of paying the laborer a fair wage. Families cannot survive unless the heads of households are paid enough to provide for their basic needs -- food, clothing, and shelter.

These teachings on economic issues have been particularly emphasized during the last one hundred years. The popes have written a number of important encyclicals on these topics. The first, in 1891, which is the basis for all those which followed, was Rerum Novarum (The Condition of Labor) by Pope Leo XIIL A more recent one, called Laborem Exercens (The Dignity of Labor), was written by Pope John Paul II.

In our concern for the promotion of the dignity of man, we must note that nor every movement, ideology, or form of government which claims to benefit man or the poor does so.

Certain movements in the twentieth century have been condemned by the Church. Communism, while claiming to be for the oppressed classes in society, actually exploits them and suppresses basic human rights. National Socialism (Nazism) claimed the superiority of one race, and the Nazis brutally enslaved and persecuted others, even committing mass genocide. Any form of racism is condemned by the Church, since we are all created in God's image and Christ died for each one of us. Consequently, the Church has taught about the evils of these systems. Pope Pius XI wrote two encyclicals on these matters --Mit Brennender Sorge (Against the Nationalist Communism).

These social teachings remind us of our Christian call to live in the world without adopting the ways of the world. At various times in history, people have ignored the Church's guidance and lived in ways contrary to the gospel. Our task is to reshape the values of society, if we can. At all times, even if the world is against us, we must listen to and follow the Church.

Words To Know: just war - abortion

************************************************

CHAPTER 21: PRAYER

'Pray at all tunes in the Spirit, with all prayer and upplication. (Eph &L3)

All Christians we are called to sanctify our lives and unite ourselves with Christ The two principal means for accomplishing this are prayer and the sacramen

Prayer is the lifting up of our minds and hearts to God. Just as the spoken word is our way of communicating with friends, so prayer is our way of conversing with God. Every thought of God -- short or long - can be a prayer. For example, we might acknowledge the sovereignty of God or express gratitude to him for blessings he has given us. Or we might simply express our love for him. All of these are prayers.

Prayer is essential to our spiritual lives, as we can see from the Gospels. During his public life Our Lord often prayed. For example, he prayed in the desert before beginning his public ministry, he prayed on the mountain before he was transfigured, and he prayed in the Garden of Gethsemane on the night before he died. By these actions he taught us the importance of prayer.

But Jesus did not only teach us by example, he frequently spoke to the apostles about the necessity of prayer. At one point he told the apostles that they... ought to pray always and not lose heart (Lk 18: 1). Here he told us that we need to pray even when it is difficult There are times, for example, when various thoughts may distract us from our prayer. Such distractions may discourage us and tempt us to quit, but Jesus tells us that we should continue. Although these distractions are not always our fault, we should still work to draw our thoughts back to God as a sign of our love for him.

How should we pray? First, before we pray we should prepare ourselves to turn our thoughts to God. We should try to dismiss all other thoughts from our minds and direct our attention to God. Sometimes visible reminders -. such as statues or paintings -- will help us to concentrate on God. Next, we should pray with humility, like the tax collector in one of the parables told by Jesus (Lk 18:944). In addition, we should have faith and confidence that God will hear our prayer. As Our Lord said to his disciples at the Last Supper:

Truly, truly, I say to you, if you ask anything of the Father, he will give it to you in my name. (In l& 23)

Fourth, we should pray with resignation to the will of God, as Our Lord did on the eve of his death. That means that we accept how he answers our prayers. Finally, we should pray with perseverance. This means that we should keep on praying even if it seems as if God has not heard our prayer. To illustrate this point, Our Lord told the following parable:

Which of you who has a friend will go to him at midnight and say to him, “Friend, lend me three loaves; for a friend of mine has arrived on a journey, and I have nothing to set before him; and he will answer from within, Do not bother me; the door is now shut, and my children are with me in bed; I cannot get up and give you anything? I tell you, though he will not get up and give him anything because he is his friend, yet because of his importunity (persistence) he will rise and give him whatever he needs. (Lk 11: 5-8)

There are two forms of prayer -- mental and vocal.

Mental prayer is that which is said interiorly. Such prayer unites our hearts with God while we meditate on his holy truths. It usually begins with meditation

for example, on a passage from Scripture or one of the mysteries of our faith which stirs our hearts to love God and unite ourselves with him. A good opportunity to pray in this manner is after we receive Our Lord in Holy communion.

Vocal prayer is said by spoken words -. alone or with others. However, the words alone are not prayer, as the prophet Isaiah reminded the people of the Old

Testament: This people draw near with their mouth and honor me with their lips, while their hearts are far from me. (Is 29: 13)

We must join our hearts and minds to the words that we speak.

Vocal prayer may be formal or informal. Formal prayers are those that follow a set pattern or formula. These prayers use words composed by someone else -- for example, Our Lord, the angel Gabriel, or one of the saints. The Our Father, the Hail Mary, the Memorare, and the Act of Contrition are all examples of formal prayers. The Psalms of the Old Testament, written by David and inspired by God, are also formal prayers. There are many times when such prayers help us to communicate our thoughts to God. They show us how we ought to pray. They lift our minds and hearts and fill us with heavenly desires and right attitudes. These prayers also unite us with other members of the Body of Christ, who pray the same prayers.

At other times it is good to use our own words to pray. This is called informal prayer. It allows us to talk to God sincerely about ourselves, offering to him our particular joys and sorrows and asking him for the special help we need.

Prayers may be said for four reasons. Prayers that primarily acknowledge God's greatness and our dependence on him are prayers of adoration. While all of our prayers should begin as prayers of praise, some, such as the Sanctus (Holy, Holy, Holy) of the Mass are solely prayers of adoration.

The second reason for prayer is to give thanks to God for the blessings he has given us. These are prayers of thanksgiving. We are reminded of the importance of giving thanks during each Mass. Before the Eucharistic Prayer the priest proclaims, Let us give thanks to the Lord our God, to which we reply, It is right to give him thanks and praise.

Contrition is the third reason for prayer. In a prayer of contrition we acknowledge our sins and pray to obtain forgiveness from God. When we say the Conficeor (I Confess) at the beginning of Mass we are saying prayer of contrition.

The last reason for prayer is petition. This is the most common prayer, in fact, many people only remember to pray to God when they need something. Prayers of petition are those in which we ask God for blessings for ourselves and other. It is fitting that we should ask for God's help, since we do need it for our life on earth and in order to reach Heaven. The Prayers of the Faithful during Mass are examples of prayers of petition.

Let us now consider some of the formal prayers that are important in the Catholic Church.

First in importance are those prayers that are part of the Church's liturgy -- the Mass and the Liturgy of the Hours. The Mass is the perfect prayer, because it is the offering of Christ to his Father in Heaven. The Mass is also the supreme act of worship, by which we thank God. Because the Mass is the same sacrifice as that of Calvary, it is the perfect means of making satisfaction for our sins. Since the Mass is in memory of the Resurrection, it is prayer of thanksgiving. Finally, since the Mass is the perfect sacrifice, it is the best way of petition God.

The Liturgy of the Hours is also an important prayer. It is a prayer of praise, by which we can sanctify our entire day. As we have see, certain members of the Church -- priests and religious -- are required to pray the Divine Office each day. But we also are invited by the Church to join in this prayer.

One day the disciples said to Jesus, Lord, teach us to pray:, and he taught them the Our Ftsiier, or Lord's Prayer. This prayer contains an outline of all the qualities that should be present in our prayers and all those things that we should ask of God. Hence, it is not just a wonderful prayer, it is also a model for all of our prayers. It is so rich in meaning that we could meditate on it all our lives. Let us briefly examine the statements found in the

Our Father.

OUR FATHER, WHO ART IN HEAVEN,

We begin this prayer by placing ourselves in the presence of God, recognizing him as our Father, but also as God.

HALLOWED BE THY NAME,

Next we adore God, as we ask that his name be made holy and honored on earth.

THY KINGDOM COME,

We pray that his Kingdom -- the Kingdom of Christ the Church -- may grow and be spread throughout the earth.

THY WiLL BE DONE....

We end the first half of this prayer asking that God's will -- not ours be done. To all three of these first petitions we add “one earth as it is in Heaven', for God's name is honored in Heaven; in Heaven his Kingdom has been spread; and finally, in Heaven his will is done.

GIVE US THIS DAY OUR DAILY BREAD,

We pray now for ourselves, asking God to give us the things we need both physical and spirituaL

AND FORGWE US OUR TRESPASSES AS WE FORGIVE THOSE WHO TRESPASS AGAIN US.

We acknowledge our sins and ask that God in his mercy forgiven those who offend us.

LEAD US NOT INTO TEMPTATION, BUT DELIVER US FROM EVIL

We end the prayer asking God to help us in times of temptation and to strengthen us when we face occasions of sin.

Another great prayer that the Church especially recommends is the Rosary. This prayer has been part of the spiritual life of many Catholics -- mainly in the Latin rite -- for almost eight centuries. The Church has encouraged us to say this beautiful prayer by dedicating one month -- October -- to the Rosary. The Rosary combines both mental and vocal prayer. It is divided into fifteen mysteries, or episodes, from the lives of Jesus and Mary. As we recite the vocal prayers -- One Our Father, ten Hail Marys, arid one Glory Be for each mystery -- we meditate on the various events from the lives of Our Lord and his Mother.

It is important to develop times for prayer in our lives, so that we may fulfill our call to holiness. In the next chapter we will consider the sacraments that further nourish our spiritual lift.

Words To Know: mental prayer - vocal prayer - Rosary - Divine Office

Questions:

1. What is prayer?

Prayer is a lifting of the soul to God, to know him better, to adore him, to thank him, and to ask him for what we need.

2. How many kinds of prayer are there?

There are two kinds of prayer, mental and vocal

3. What is mental prayer?

Mental prayers is that which is said interiorly, with mind and heart alont.

4. What is vocal prayer?

Vocal prayer is said by spoken words with the participation of the mind and the heart.

5. How should one pray?

He who prays should do so reflecting that he stands in the presence of the Infinite Majesty of God and has need of his mercy; he should be humble, attentive, and devout in his prayer.

6. What things should we ask from God?

We should ask from God his own glory, and for ourselves we should ask eternal life and graces and also temporal good, as Jesus Christ has taught us in the Our Father.

7. What is the Our Father?

The Our Father is the prayer taught and recommended by Jesus Christ, called therefore the Lord's Prayer, the most excellent of all prayers.

8. Why is the Our Father the most excellent prayer?

The Our Father is the most excellent prayer because it came forth frosi the mind and heart of Jesus, and because it includes in seven brief requests everything we should ask from God as his sons and as brothers to each other.

9. What should we ask as good children of God?

As good children of God we should ask that all men come to know him, that all honor his name, that his kingdom, the Church, be propagated, and that his most Holy Will be fulfilled by all men. This is what we ask in the first three requests of the Our Father.

10. As brothers to each other what should we ask?

As brothers to each other we should ask for bodily and spiritual nourishment, for the pardon of sins, for protection against temptations, and for deliverance from evil. This is what we ask for ourselves and fat all men in the last four requests made in the Our Father.

****************************************************

CHAPTER 22

THE SACRAMENTAL LIFE

Whoever drinks of the water that I shall give him will never thirst; the water that I shall give him will become in him a spring of water welling up to sternal life (In 4: 14).

In addition to prayer, Christ has given us a wonderful means to become holy. The sacraments were given to the Church by Jesus Christ to sanctify us. They are the means by which we receive the “living water” of which Our Lord spoke. Water in this sense signifies the life of God called sanctifying grace.

A sacrament is an outward sign instituted by Christ to give us grace. A sign is a thing that stands for, or represents, something else. For example, our national flag represents our country; smoke indicates the presence of fire. We are all familiar with the signs in the sacraments. The water in Baptism, for example, indicates our death to sin, the cleansing of the soul, and the new life which is given by God. But the sacraments are more than ordinary signs. They are efficacious signs. This means that they actually bring about what they represent.

To understand this better, think about the ordinary stop sign. This sign indicates to the driver that he should stop at an intersection. But it cannot make him stop; he must stop himself, The sacraments are different. In Baptism when the water is poured and the words “ I baptize you...” are spoken, the soul is actually cleansed and the new life of grace is actually infused. This is the great power that Our Lord gave to these simple signs.

Christ himself gave us the sacraments so that we could share in his life and have that life nourished in us. He gave us these sacraments so that we could have certain, or sure, way to receive the grace he won by dying on the Cross for us. But why did he choose to give us this grace through the sacraments?

As human beings we learn through corporeal, material, things around us. Thus, to learn we depend on our senses ---- sight, hearing, touch, taste, and smelL Our Lord gave us the sacraments as sensible means ---- means that can be sensed for us to know that grace is active in our lives. At Baptism, when we see the water being poured and hear the words, we know that God's life now dwells in the soul of the person baptized. We are certain of this. In the same way, when we hear the priest in Confession say that our sins are forgiven, we know that God has forgiven our sins.

All of the sacraments make us holy by giving us grace or by restoring or increasing the life of grace in us. Thus all of the sacraments nourish and strengthen our spiritual life and help us draw closer to God. However, two of the sacraments are our lifelines to grace --- Penance and the Holy Eucharist.

The Sacrament of Penance

On the evening of the Resurrection, Our Lord appeared to the apostles in the upper room. He said to them, “Receive the Holy Spirit. If you forgive the sins of any, they are forgiven; if you retain the sins of any, they are retained” on 2: 22-23). Christ gave the apostles and their successors the power to forgive sins, thus instituting the sacrament of Penance, or Confession.

Although original sin is removed through the sacrament of Baptism, we know that we are still in a weakened state. We have a strong inclination to sin, and we do, in fact, easily fall into sin. Our Lord knew that even after Baptism Christians could still sin. He gave us the sacrament of Penance or Reconciliation so that we could receive God's forgiveness frequently.

The sacrament of Penance, then, is a great gift by which the sins we commit after Baptism are forgiven. If we have committed a mortal sin, God restores to our soul his life which had been lost. God increases his life within us and strengthens our friendship with him when we confess our venial sins. In addition, through the actual or sacramental graces which we receive, God helps us to avoid sin in the future. For example, if you confess that you have lied. God will give you strength and help you be truthful in the future.

The Sacrament of Penance can help us draw closer to God and make us better and stronger (Iristians. For this reason, it is good to receive this sacrament often

even when we have not committed any mortal sin.

To make a good Confession and worthily receive the sacrament we must do five things:

1. Before receiving the sacrament you must examine your conscience. You should ask God to help you recognize your sins since your last confession.

2. You must have true sorrow, contrition, for your sins. This contrition is based on your love of God, sorrow for having offended him, and hatred of our sins.

3. You must have a firm commitment not to sin again. This means that you must resolve to do all you can to avoid sin and the occasions of sin in the future. If you do not intend to give up your sinful ways, God cannot forgive you. You would not be truly sorry.

4. You must confess yours sins honestly to the priest. This means that you should not conceal any mortal sins. Neither should you try to hide anything out of shame

   or embarrassment. The priest, taking the place of Christ, is there o give you forgiveness and not to rebuke you unnecessarily. He may, however, give you some

   advice or guidance to help you overcome your sins.

5. You must be willing to perform the penance which the priest gives you and then ro do it.

The Holy Eucharist

Truly. truly, I say to you.. he who eats my flds and drinks my blood, has eternal life...

The Eucharist is the sacrament in which Our Lord is present Body and Blood, soul and divinity under the appearance of bread and wine. Just as our bodies need physical nourishment in order to live, our souls also must be nourished. The Euchasia is this spiritual food.

The Eucharist is a means of receiving grace and, at the same time, is the source of grace Jesus, himself. The Eucharist is thus the most important sacrament and the fountain from which all grace flows.

In receiving the Eucharist called Holy communion we become united to Christ. This union nourishes us by helping us to become more like Christ. Through reaeption of Communion the life of God is increased in our souls. bringing us closer to him. Just as food strengthens our bodies for difficult physical tasks, this great Sacrament helps us to become spiritually stronger.

To bentht from the graces of the Eucharist we must prepare ourselves to receive it worthily. First we must be in the state of grace when we receive Holy Communion. This means that if we have committed a mortal sin we must first go to Confession before receiving Our Lord. St. Paul told the Christians at Corinth:

Whoever... eats the Bread or drinks the Cup of the Lord in an unworthy manner will be guilty of profaning the Body and Blood of the Lord (1 Cor 11: 27). To receive Our Lord in the state of serious sin is a sin of sacrilege.

Secondly, to receive the Eucharist worthily we must believe that Jesus Christ is truly present in the sacrament. Again St. Paul reminds us: ... anyone who eats and drinks witlait discerning the Body eats and drinks judgment upon himself (1 Cor 11: 29). We must, then, prepare ourselves to receive Communion by remembering that we are about to receive the Body and Blood of Our Lord.

Finally, we must observe the Eucharistic fast. The Church gives us this law no food or drink (except water or medicine) for one hour before receiving Communion out of reverence so that we may prepare ourselves to receive our great Lord and King. This smalL sacrifice reminds us of what we are about to do. (The sick and those who care for them are exempt from this fast.)

After we receive Our Lord, we should spend time in thanksgiving thanking him for coming to us and asking Jesus to help us. The following prayer, called the Anima Christi, might help us meditate on the great gift we receive. Many people recite this prayer after Communion.

Soul of Christ, sanctify me.

Body of Christ, save me.

Blood of Christ, inebriate me.

Water from the side of Christ, wash me.

Passion of Christ, strengthen me.

0 Good Jesus, hear me.

Within thy wounds, hide me.

Suffer me not to be separated from thee.

From the malicious enemy, defend me.

In the hour of death, call me.

And bid me come to thee, that with thy saints I may praise thee for ever and ever. AMEN.

Because the Eucharist is our source of spiritual nourishment, it is good to receive this sacrament frequently. By attending Mass each Sunday we are able to receive Holy Communion at least once a week. However, realizing the greatness of this sacrament, we should try to receive Our Lord even more often even daily by attending Mass during the week. St Francis de Sales, in his Introduction to the Devout life, reminds us of this.

Two classes of people should communicate often, the perfect because, being well prepared, they would be very wrong not to approach the fountain of perfection; and the imperfect, that they might preserve their strength; the weak that they might become strong; the sick that they might find a cure; the healthy, that they might be preserved from sickness.

Even when we are unable to attend Mass we can make a spiritual communion in which we ask Our Lord to come to us and dwell in us in a special way.

When we pray, Give us this day our daily bread, we include asking to receive the eucharist. When we realize the extreme love for us which Jesus showed in establishing a way to stay with us on earth, we will long to receive him as often as possible. He was the delight of the saints. St Teresa of Avila prayed that “though our bodily eyes cannot feast themselves on the sight of him since he is hidden from us, he may reveal himself to the eyes of the soul and may make himself known to us as another kind of food, full of delight and joy, which sustains our life.

St. Bonaventure prays: Grant that my soul may hunger after you . upon whom the angels desire to look, and may my inmost soul be filled with the sweetness of your savor; may it ever thirst for you, the fountain of life, the foundation of wisdom and knowledge, the fountain of eternal light, the torrent of pleasure, the richness of the house of God.

In addition to the reception of Our Lord in the Eucharist, we can adore him and draw closer to him through adoration of the Blessed Sacrament. The Real Presence of Christ in the Eucharist remains after Mass. Therefore consecrated Hosts are reserved in the tabernacle in the church. Because Christ is truly present in our churches and chapels, we should try to spend time adoring him thanking him, and talking to him about our needs. If we cannot get to daily Mass, perhaps we can make a daily visit to Our Lord in the Blessed Sacrament.

Besides such visits, there are sometimes special devotions to the Blessed Sacrament in which we can participate. We may go to church for Benediction, the Eucharist is placed in a special container called a monstraisee. So that we may see and adore the Body of Christ. The priest holds up the monstrance and blesses us with Christ himself. Sometimes the Host in the monstrance will be exposed on our altars throughout the day so that we may pray to Our Lord in a special way.

These devotions remind us of Christ's presence in the Eucharist and help us draw closer to him, We can deepen our union with Christ by receiving Communion often and visiting him in the Blessed Sacrament.

Words to Know:

Sacrament - Eucharist - grace - Benediction - monstrance

Prayer After Communion

My Lord Jesus Christ, I believe that you are truly within me with your Body, Blood, soul and divinity; humbled in my nothingness, I adore you profoundly as my God and my Lord.

Questions:

1. What are the sacraments?

The sacraments are efficacious signs of grace instituted by Jesus Christ to make us holy.

2. How do the sacraments make us holy?

The sacraments make us holy either by giving us the first sanctifying grace which takes away sin or by increasing that grace which we already possess.

3. What should we do to preserve the grace of the sacraments?

To preserve the grace of the sacraments we must cooperate by our way of living, doing good, and avoiding evil.

4. What is Confession?

Confession (Penance or Reconciliation) is the sacrament instituted by Jesus Christ to forgive the sins committed after Baptism.

5. How many things are required to make a good Confession?

To make a good Confession five things are require& (I) examination of conscience; (2) sorrow for sins; (3) the intention of not committing sin again; (4) the accusation of our sin; (5) satisfaction or penance.

6. How is the examination of conscience done?

The examination of conscience is done by recalling to mind the sins we have committed in thoughts, words, and omissions against the Commandments of God, against the precepts of the Church, and against the obligations of our own state in life, beginning from the last good Confession.

7. What is the Eucharist?

The Eucharist is the sacrament which contains really present the Body, Blood, soul, and divinity of Our Lord Jesus Christ, under the appearance of bread and wine, for the nourishment of souls.

8. Is the same Jesus Christ present in the Eucharist who was born on earth of the Virgin Mary?

Yes, the same Jesus Christ is present in the eucharist who is in Heaven, and who was born on earth of the Virgin Mary.

9. What things are necessary for the worthy reception of Holy communion?

For a worthy reception of Holy Communion three things are necessary: first, to in the grace of god; second, to realize and to consider whom we are about to receive; third, to observe the Eucharist fast.

 

10. Is it a good and useful thing to receive Holy Communion frequently?

It is a very good thing and most useful to receive Holy communion frequently, even every day, provided it is done always with the right dispositions.

****************************************

CHAPTER 23

DEATH AND THE PARTICULAR JUDGMENT

Remember, man, that you are dust and to dust you will return.

These words are said each year on Ash Wednesday to remind us of our mortality. Each of us will eventually die. This is one of the consequences for all living, material creatures. Plants and animals eventually die; even inanimate' non-living, objects do not last for ever. Human beings, since we are mortal, must eventually die, a result of original sin.

Although the separation of body and soul -- death is inevitable we know that there is Life beyond the grave. Human beings have a mortal body but an immortal soul. Because of this we see that death is not really the end of life but only the end of this life, in the Preface used at Masses for the dead we are reminded that for the Christian life is not ended but merely changed.

Our faith tells us that death is the gateway to life with God. In the Gospel, Martha, the sister of Lazarus, showed us how Christians ought to understand death. When Our Lord came to Bethatty after Lazarus' death, Martha said to Him: I know that my brother will rise again in the resurrection on the last day'. (3n II: 24)

Since death will come for each of us, what should be our attitude toward it? Our Lord tells us that we should prepare ourselves for death. We should remember the parable about the servants who are awaiting their master's return. Since they do not know exactly when he will come, they must prepare themselves. We must also be prepared:

Watch therefore -- for we do not know when the master of the house will come in the evening, or at midnight. or at cockcrow, or in the morning. (Mk 13: 35).

How can we prepare ourselves for death? We prepare throughout our lives by growing in faith and love The best preparation for death is to live according to God's will, developing our spiritual lives through prayer and the sacraments. Whenever we pray the Hail Mary, we ask our Mother in Heaven to pray for us flow and at the hour of our death. Following our vocation and generously serving God will prepare us for death and our meeting with Christ We should pray that we may receive the sacraments before our death. By the sacrament of Anointing, dangerously ill persons are commended to the Lord, that he may support and save them. Hopefully, we will also be able to receive the sacrament of Penance and the Eucharist as Viaticum.

When we die we will meet Our Lord and be judged by him. The particular judgment occurs at the moment of our death and will be based on those things which we did or neglected to do in this life. At this judgment we will see ourselves as we are ---- our sins and failings, as well as our virtues. We will also see the perfect justice of God's judgment. For this reason it is extremely important to develop the habit of appealing to God's mercy for us sinners. This appeal, made habitually, will bring down his mercy on us and others for that moment when we so critically need it. By remembering what St. Paul said we will prepare for this great moment:

He will render to every man according to his works: to those who by patience in well-doing seek for glory and honor and immortality, he will give eternal life but for those who are factious and do not obey the truth, but obey wickedness, there will be wrath and fury. (Rom 2: 6-8)

At the particular judgment those who have died in the state of mortal sin without repenting ---- will be separated from God for ever. They will suffer eternal punishment because of their own actions and choice. In the parable of the rich man (Dives) and Lazarus, Our Lord reminded of the permanence of this state (Lk 16: 19-31). Once one is in Hell, there is no chance for repentance. While the souls of the damned suffer sensible pain, the greatest suffering in Hell is the loss of God. They will be without hope, knowing that their own rejection of God is the cause of their damnation.

It is good to remember that God does not want anyone to suffer in Hell. In fact, he did not create Hell for man. The angels who rebelled were banished from God's sight and this is Hell. God created man, like the angels, with a free will. Thus, if we should turn away from him we will join the fallen angels in suffering this eternal punishment.

Some who die are not in the state of mortal sin, but still have venial sins which they have not fully repented of or done adequate penance for. Because these people have not completely separated themselves from God, they will not go to Hell. They will go first to Purgatory. Here they will be prepared for Heaven. The doctrine of Purgatory is very consoling since, because of God's mercy, we can be saved even though we are not perfect. We can go through a time of purification. Even though it is a painful suffering, we are full of hope.

Other people whose love for God is perfect will go straight to Heaven. The reward for the just is eternal life in which they will enjoy the vision of God. This is called the Beatific Vision. In Heaven we shall see God as he is” (1 Jn 3: 2). It is this which gives us true happiness. In Heaven, we will know God as completely as we can:

Now we see in a mirror dimly, but then face to face. Now I know in part; then I shall understand fully... (1 Cor 13: 12)

Here we will be able perfectly to love God and others. We know that Heaven will bring us great joy, and yet it is difficult for us to grasp what it is really like. St. Paul tells us: No eye has seen, nor ear heard, nor the heart of man conceived, what God has prepared for those who love him. (1 Cor 2: 9)

Heaven will be far greater than anything we can imagine. It will encompass all those things which are truly good.

Besides the great joy of the Beatific Vision, there will be other joys in Heaven. In Heaven there will be no sorrow or pain as St. John tells us in the book of

Revelation: He will wipe away every tear from their eyes -. neither shall there be mourning nor crying nor pain any more.... (Rev 21:4)

There will also be no more sin or temptation in Heaven. The struggle will. be over and peace will remain. We will be united with the angels, the saints, and those we have known and loved on earth.

Since we cannot really understand much of what Heaven is like we may Sometimes be tempted to think that it will be boring. Yet boredom is an imperfection of life on earth and cannot be part of life in Heaven. If boredom is a part of life after death, it is part of life in Hell, not Heaven. Although the many particulars of life in Heaven are unknown, we should remember the words of St. Paul ---- Heaven is beyond our wildest dreams!

We should begin now by preparing ourselves for the day when Christ will call us to come home and be with him. We want to be able to say the words which St. Paul wrote near the end of his life, in a letter to Timothy:

As for me, my life is already being poured away as a libation, and the time has come for me to be gone. I have fought the good fight to the end; I have run the race to the finish;? have kept the faith; all there is to come now is the crown of righteousness reserved for me, which the Lord, the righteous Judge, will give to me on that Day; and not only to me but all those who have longed for his appearing. (2 Tim 4: 6-8)

Words To Know:

Particular Judgment - Beatific Vision - immortal

*************************************************

CHAPTER 24

HEAVEN - PURGATORY - HELL

 

We cannot know much about HEAVEN, only the little we have been told.. let every time we look at a crucifix we are reminded that Christ was stripped of everything men hold dear and opened his arms on the Cross to gain for us our everlasting future of unimaginable happiness.

This does not mean that we should not try to think about true happiness, but only that we should always recall that the real thing will be far greater than anything we can think of. We can never make a mistake by exaggerating the happiness of Heaven. We can make a great mistake by thinking of it too little. An even greater mistake would be to make Heaven sound boring.

Living close to God prepares us for Heaven in many ways. Not only does it merit reward., but as the years go by we become more attuned to God and the things of Heaven, and that increases our desire to reach Heaven and out confidence that we will get there. 'Taste and see that the Lord is good.” (Ps 34 8)

The purpe of your life and mine is to see God in Heaven someday. But that is not something that is easy to image: in fact, we cannot imagine God, since he is a pure spirit and we can only imagine things we have seen. So how can you get an idea of it? You can get an idea about it by thinking about the beauty and design and order and truth and goodness and power of the world about you. Whatever God is, he is greater than all these. He is more beautiful, he is more powerful, he is more good, he is more true. Is the world exciting? It gets its excitement from him, just as it gets its goodness and beauty and power from him.

So now we can ask ourselves this question: What is Heaven? And we can say this: Heaven is being with God forever and loving God and living God's own life

- which means seeing what God sees, doing what God does, knowing what God knows and loving and enjoying what God does to our fullest capacity. It means being like God! We will not be bored; not for a moment. Eternal life, therefore, means not only living forever, but living God's life forever!

God says: My people will be filled with my good things.

PURGATORY

It's easy to waite time out of thoughtlessness. We should use the minutes, hours, and days to grow in the spiritual life, to come close to God. Our spiritual life begins at Baptism, which removes the punishment for original sin but leaves us still with wounds in our nature.

Our life of Baptism, if it is a life of prayer, sacraments, and good works, will heal our wounds even more; if it is a life of sin and vice, it will deepen them.

There is a book about the spiritual life called Ascent of Mount Carmel, by St. John of the Cmss. Growing spiritually is compared to climbing a great mountain. The higher we climb, the mote we change. Some people climb all the way to the top and ate rewarded with such union with God that they go straight to Heaven when they die.

Purgatory can also be compared to the ascent of Mount Carmel. Those who die as God's friends - in the state of grace free of all sin or attachment to sin, free of all debt to make up for sin .- go immediately to Heaven when they die. But what about the who die as God's friends, in the state of grace, but with unpaid debts for past sins, all forgiven but not yet worked off? They are not yet ready for Heaven. Only what is completely holy can enter Heaven. What happens to them?

They go to a place of purification and penance called Purgatory where their souls are cleansed and freed of the unpaid debt of sin.

Being purified hurts, both here and hereafter; there is no way to be healed and grow that is ftee from pain. But we can avoid a Purgatory in the hereafter by working off our Purgatory here. We can be healed and purified and make up for our sins by doing penance and by humbly accepting the difficulties and sufferings that come to us in life.

In Purgatory, there is one thing on everyone's mind: God. The soul there desires God with a grness that is hard for us to imagine. The souls in Purgatory know with absolute cestainty that they are saved and are going to Heaven. They fear no more danger to their salvation. They are being made ready for union with God, and so they mt be cleansed of any obstacles to the perfect union. These obstacles to union are like rust, remains of sin that hinder the soul from enjoying God. St. Catherine of Genoa tells us that the rush diminishes as the soul becomes healthier under the rays of divine sunlight. So there is great happiness as well as great suffering in Purgatory.

The saints in Heaven are called the Church Triumphant, the souls in Purgatory are called the Church Suffering and the faithful on earth are called the Church Militant. All together we form the one Church of Christ. We on earth can help the souls in Purgatory by praying for them, sacrificing for them, and offering Masses for them.

HELL

Jesus told us that just as those who do the will of the Father will receive the reward of eternal happiness, those who reject the Father and refuse to do the will of God will be condemned to eternal punishment. Out of my sight, you condemned, into that everlasting fire prepared for the devil and his angels” (Mt 25:4). The condemned are those who die without repenting of their mortal sins.

Many people like to think that Hell does not exist. They say that God would never send anyone to a place of everlasting torment since he loves us so much. It is true that God does not want people to go there. But he made us with a free will so that we could choose whether we would love God or only ourselves, any persons in Hell have freely chosen to love only themselves; they are, of their own choosing, utterly alone.

The loss of God is the greatest pain in Hell. We were made for God, but since the souls in Hell have totally rejected him there is nothing left for them to hope for. And what makes their suffering in Hell even greater is that each one there will realize that he alone is the cause of his own damnation.

God offers everyone the grace to repent and turn to him. We should always remember to pray for those who are near death so that they will seek the mercy that God extends to them.

Words To Know: Church Militant - Church Suffering

What profit does a man show who gahis the whole world and destroys himself in the process? What can a man offer in exchange for his life? If anyone in this faithless and corrupt age is ashamed of me and my doctrine, the Son of Man wifi be ashamed of him when he comes with the holy angels in his Father's glory”. (Mark & 36-38)

Questions:

1. What does eternal life mean?

Eternal life means that the reward, like the punishment, will last forever, and that the vision of God will be the true life and happiness of the soul, while being deprived of him will be the greatest unhappiness, like an eternal death.

2. What is Purgatory?

Purgatory is the temporary suffering of the lack of the vision of God and of other punishments, which remove from the soul the remains of sin, making it worthy of seeing God.

3. Is it certain that Heaven and Hell exist?

Yes it is certain that Heaven and Hell exist: God has revealed this, frequently promising eternal life and the enjoyment of himself to the good, and threatening the wicked with damnation and eternal fire.

4. How long will Heaven and Hell last?

Heaven and Hell will last forever.

************************************************

CHAPTER 25 : THE END OF THE WORLD

At the Ascension of Our Lord into Heaven, two angels spoke to the apostles saying:

Why do you stand looking into Heaven! This Jesus, who was taken up from ou into Heaven, will come in the same way as jou saw him go into Heaven' (Acts h 11)

In the Nicene Creed we say that Jesus 'will come again in glory to judge the living and the dead”. When Christ first came among us, he came in poverty, humility, and weakness. He was born in a stable fit for animals, not a King. He was God, but he took on human nature and began his life in the most humble state -- as a baby. He was God, but he took on the weaknesses of human nature -- except sin -- in order to teach us. When Christ comes again -- the Second Coming -- at the end of the world, he will come in triumph, as the King and Judge of the world. He will come in glory and be recognized by all men as Christ the King.

The time when this will occur is unknown. When the apostles asked Our Lord about the end of the world (Mt 24), he spoke of various signs and warnings which would precede the event. He said that there would be wars and rumors of wars, famines, false prophets, and persecutions. All of these, however, have occurred at various times in history. Arid many individuals in the past (as well as the present) have mistaken the troubles of their own times as signs of the end of the world. But they neglected Our Lord's final words about the end, which are the most important:

But of that day and hour no one knows, not even the angels of Heaven only the Father .... (Mt 24: 36) Just as we do not know when the world will end, we do not know exactly how it will end either. It is possible that the end of the world well be caused by humans, for example through war or the misuse of natural resources. But it is also possible that God will directly bring about the end of the world. However, it will not take place until God wills it.

At the end of the world Our Lord will judge the entire human race. This in known as the General Judgment and is described by Our Lord in the Gospel of Matthew (Mt 25). At that time Christ will judge both those who are alive at the end and those who have already died. All of our deeds -- even secret ones -- will be made known.

Everyone will recognize the holiness of the just and understand why they have been rewarded. We will also see God's justice in the condemnation of unrepentant sinners who will be banished f or eternity to Hell. There will be no changes in the judgment for those who have already died. But now, however, their judgment will be made known to all.

Those who have loved God and served him on this earth will stand on his right. They will be rewarded with Heaven. Those who have turned away from God will stand on the left and will be banished for ever to Hell. There will no longer be any need for Purgatory at the end of the world. Those souls who are in Purgatory at the end will go to Heaven. All the wisdom, justice, mercy and loving kindness of God in his dealings with men will be made known. Our Lord Jesus Christ will be fully glorified. He will appear in splendor and triumph. Evil will be completely overcome. The reign of God will be complete.

We shall not all sleep, but we shall all be changed, in a moment, in the twinkling of sri eye, at the last trumpet. For the trumpet will sound, and the dead will be raised imperishable and we shall be changed. For this perishable nature must put on the imperishable, and this mortal nature must put on immortality. (1 Cor 15: 51-53)

At the end of the world, also, our human natures will once again be complete. Our bodies will be reunited with our souls, because man is both body and soul. This is called the resurrection of the body. We will enjoy the glories of Heaven or suffer the pains of hell as a complete human being -- body and soul.

The bodies of the just will be glorified in Heaven. This means that our bodies will be perfected as was Our Lord's body after the Resurrection. Theologians have distinguished four properties or gifts which will belong to the glorified body. The glorified body will be incapable of physical suffering and will be free from death. This is known as impassibility, which comes from the Latin word “to suffer'. Our bodies will have the property of subtlety, which means that our spiritual nature will shine through the body -instead of being hidden by it. Thirdly, the glorified body will possess agility, which means that the body will be able to obey the soul with great ease and speed. This was manifested by the risen Christ, who quickly disappeared from the midst of the apostles (in 20: 19,26). Finally our resurrected bodies will have clarity. They will be free from all deformities -- even minor ones -- and will be filled with beauty.

Even the earth will be transformed in some way. St. John had a vision of the transformation of all things which he tells us in the book of Revelation:

Then I saw a new Heaven and new earth; for the first Heaven and the first earth had passed away, and the sea was no more. And I saw the holy city, new Jerusalem, coming down out of Heaven from God ... and I heard a great voice from the throne saying, 'Behold. the dwelling of God is with men. He will dwell with them, and they shall be his people . (Rev 21: 1-3)

All of this is the perfect happiness which awaits us. God has prepared this for us. We must spend our lives preparing for this so that we may enjoy the blessings of Heaven for eternity.

Words To Know:   Second Coming - General Judgment