• Register

    

alt 

SUY NIỆM TIN MỪNG
SỢ HÃI

Một trong những thứ bóng tối ghê sợ nhất của đời người cứ như hồn ma ám ảnh: đó là những nỗi sợ hãi có tên lẫn không tên!  Có những thứ không tên gọi là sợ hãi vu vơ vô lý, như sợ ma chẳng hạn, cho dù cả đời chẳng hề thấy một bóng ma. Có những thứ sợ hãi mang tên đủ loại bao trùm cuộc sống nhân sinh từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời.  Người ta không thể thoát ra khỏi những hồn ma sợ hãi có tên bao lâu vẫn còn hiện hữu. 

Cứ thử ngẫm nghĩ một lúc thôi, là thấy đời mình đã và đang bị bủa vây chằng chịt bởi sợ hãi. Chẳng hạn khi vừa sinh ra thì đã vang lên những tiếng khóc có vẻ bi thương thống thiết mang tình cảm sợ hãi nhiều hơn vui mừng, bởi vừa thoát mất sự che chở an toàn của lòng mẹ để đi vào hụt hững của thế giới mênh mông bao la vô định. 

Rồi ngày qua ngày đời người ẩn hiện niềm hy vọng cho cuộc sống, nhưng trong những niềm hy vọng dù nhỏ bé mấy, vẫn luôn giấu kín nỗi thất vọng của bóng ma sợ hãi đó đây.  Từ những ước mơ cho đến những dự án hay lý tưởng cuộc đời, người ta đọc thấy nỗi sợ hãi như những sự thật cản ngăn bước tiến hoặc dập vùi ước mơ. 

Có lẽ dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc cảm nghiệm sợ hãi trong sự hiện hữu của mình nhiều nhất khi sống triền miên trong chiến tranh khói lửa hàng ngàn hay hàng trăm năm, cũng như chịu áp bức bởi những chế độ khắc nghiệt, hoặc trên đường trốn chạy vượt biên đối diện với tử thần. 

Có ai sống trên đời này mà dám tự hào cho mình không bao giờ sợ hãi cách này hay cách khác: từ chủ thể hay đối tượng, chủ quan hoạc khách quan. Có đó mà vẫn sợ mất đó!

Chúa Giêsu khi chọn đời sống nhân loại làm đường cứu chuộc, Ngài đã dấn thân đời mình vào những nỗi sợ hãi thực sự của kiếp người ngay từ lúc chào đời, như bị người đời từ chối không cho trú ngụ, bị săn đuổi ruồng bắt, bị chống đối triền miên, bị lập mưu bắt bớ, bị đánh đập xỉ nhục vô cớ, bị kết án tử hình bất công...

Với những kinh nghiệm sợ hãi của kiếp nhân sinh, Ngài dạy chúng ta một điều quan trọng trong Phúc âm hôm nay: Đừng sợ nói sự thật!  Chỉ sợ duy nhất một Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Bởi tất cả những gì xảy ra cho đời người đã được Thiên Chúa quan phòng cả rồi. 

Vì thế chúng ta có thể nói, sợ hãi đến từ quyền lực gian dối và bóng tối, đúng hơn từ Satan và bày quỷ theo chúng.  Không có ma quỷ, con người đã không sợ hãi mất Thiên Chúa, vì họ không có cảm nghiệm tội lỗi và phản bội Ngài.  Bởi một lần nghe theo ma quỷ làm mất Chúa, con người sẽ sợ hãi suốt đời. Sự chết ám ảnh đời người là một nỗi sợ rất kinh hoàng, nhưng còn kinh hoàng hơn nữa nếu cuộc đời ta mất Chúa. 

Ngược lại, nếu lúc nào hồn ta cũng có Chúa hiện diện, thì sợ hãi sẽ biến đi, bởi Chúa chính là bảo đảm an toàn cho cuộc đời giữa những bóng ma sợ hãi này.  Hãy phó thác cuộc đời cho Chúa như thánh Augustinô cảm nghiệm, ta sẽ sống bình an.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

 

ĐỪNG SỢ

Trên đời này có rất nhiều cái sợ: sợ đau khổ, sợ thử thách, sợ bệnh hoạn, sợ thiếu thốn và nhất là sợ chết.Xem ra, nỗi sợ hãi luôn ám ảnh con người và con người dù muốn dù không vẫn bị bủa vây bởi trăm ngàn mối hiểm nguy. Thấy rõ điều đó, nên khi dạy dỗ cho các môn đệ, Chúa Giêsu cho thấy con đường theo Chúa là gian khổ,là vất vả, nhưng vượt thắng khó khăn thử thách thì mới đạt được vinh quang. "Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo". Con đường theo Chúa là con đường chông gai, thử thách, khó khăn. Lướt thắng những nghịch cảnh, những khó khăn thử thách, con người mới tới được vinh quang nhờ niềm tin và hy vọng “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế (Ga 14, 18). Trong đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu nhấn mạnh với các môn đệ ba điểm.

- Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy.

- Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.

- Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh .hồn. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

Lời căn dặn “Đừng sợ” của Chúa Giêsu đã trở thành sức mạnh cho Giáo hội. Hai mươi thế kỷ sau, Thánh Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lập lại lời Thầy Chí Thánh: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa đón Chúa Kitô”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Đức Gioan Phaolô II không ngừng lặp lại với cả Giáo Hội và cả thế giới rằng “Đừng sợ!”.

Sống trong thời nhiễu nhương, có nhiều biến động tại Ba Lan và Đông Âu; cuộc đời nếm trải bao nhiêu thăng trầm dâu bể để có thể sống, học hành, rồi làm chủng sinh, linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng; Đức Gioan Phaolô II trải nghiệm qua những thách thức của nghịch cảnh, của khổ đau. Lập lại lời Chúa Giêsu, Ngài muốn nói lên tinh thần bất khuất, hiên ngang để trung thành với giáo lý Chúa Kitô, bảo vệ kỷ cương của Giáo Hội.

Đức Bênêđictô XVI tiếp nối đường hướng Đức Gioan Phaolô II, trong ngày lên ngôi giáo hoàng, ngài đã thắp lên lời hy vọng: “Hãy tiến lên phía trước”. Lý do để “tiến lên” là bởi có Chúa ở cùng. Nếu một phần tư thế kỷ trước là “Đừng sợ”, thì một phần tư thế kỷ sau lại là: “Hãy tiến lên phía trước, Thiên Chúa sẽ giúp đỡ chúng ta. Mẹ Chí Thánh của Người ở ngay bên cạnh chúng ta…”.

Đức Thánh Cha Phanxicô sau khi được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 13-3-2013, Ngài đã là cho nhiều người phải ngạc nhiên vì những hành động và các lời phát biểu của Ngài như là vị cha chung hiền lành và khiêm nhường. Nhiều lần ngài cũng dùng kiểu nói “đừng sợ”. “Rao giảng Tin Mừng là đích thân làm chứng về tình yêu Thiên Chúa, là vượt thắng sự ích kỷ của chúng ta, là phục vụ bằng cách cúi mình xuống rửa chân cho anh em chúng ta như Chúa Giêsu đã làm…Các con hãy ra đi, không sợ hãi, để phục vụ. Khi sống theo 3 điều này, các con sẽ cảm nghiệm được rằng người rao giảng Tin Mừng thì cũng được trở nên Tin Mừng. Ai thông truyền niềm vui đức tin, thì cũng nhận được niềm vui…Mang Tin Mừng là mang sức mạnh của Thiên Chúa để nhổ bỏ và phá hủy sự ác và bạo lực; để phá tan và đạp đổ những hàng rào ích kỷ, không bao dung và oán thù. Để kiến tạo một thế giới mới, Chúa Giêsu Kitô hy vọng nơi các bạn!..Đức tin hay đức cậy hoặc đức mến dĩ nhiên phải lấy Chúa Kitô làm trung tâm. Điều này đồng nghĩa với giáo huấn “Hãy mặc lấy Đức Kitô”, đặt niềm tin nơi Người, chứ không ở nơi ta, hay nơi của cải, tiền bạc, quyền lực.”

Nội dung lời phát biểu của các nhà lãnh đạo lớn của Giáo Hội chính là lời của đức tin và là lời của hy vọng.

Tin yêu và hy vọng sẽ lướt thắng mọi sợ hãi. Chúa Giêsu đưa ra một số lý do để khuyên “đừng sợ”.

1. Phải sợ Thiên Chúa hơn sợ người ta

"Đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục"; "Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy".

Người hèn nhát là người sợ khổ, sợ chết đến nỗi không dám làm theo đòi hỏi của lương tâm, luôn tránh những tệ hại nhỏ cho cá nhân mình để bắt cả xã hội hay tập thể phải gánh chịu những tệ hại lớn lao vì mình. Người nhát gan vẫn có thể không hèn, mà người bạo dạn đôi khi lại rất hèn.

Đức tin giúp con người nhận ra rằng: tệ hại lớn nhất trên đời là những gì làm thiệt hại cho linh hồn mình, cho sự sống vĩnh cửu của mình đời sau. Vì thế, người có đức tin có thể chấp nhận dễ dàng những tệ hại chóng qua ở đời này hầu đạt được những lợi ích lâu dài cho đời sống vĩnh cửu mai hậu. Trong chiều hướng này, Chúa Giêsu khuyên: “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Bị giết chết thân xác là một trong những điều đáng sợ nhất ở đời này, nhưng với cái nhìn sâu xa của đức tin thì bị “tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” còn đáng sợ hơn bội phần. Vì thế, thà bị giết thân xác mà cứu được linh hồn mình thì vẫn có lợi hơn. Nhưng than ôi, biết bao người lại sẵn sàng chấp nhận bị “tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” để tránh khỏi cái khổ cực hay cái chết thể xác, hoặc để thân xác được hưởng những vui sướng chóng qua ở đời này. Trước mặt thế gian, họ được coi là khôn ngoan, nhưng trước mặt Thiên Chúa, họ là những kẻ dại ngờ nhất.

2. Phải tin vào phẩm giá cao quý của mình và tình thương quan phòng của Thiên Chúa.

Con người - nhất là người Kitô hữu - là "con cái Thiên Chúa" (Mt 5,15; Rm 8,14.16; Gl 3,26; 4,6), được dựng nên "giống như Ngài" (St 1,26), "theo hình ảnh của Ngài" (1,26.27), được "thông phần bản tính Thiên Chúa" (1Pr 1,4), được Thiên Chúa yêu thương (Ga 3,16; 1Ga 3,1). Như vậy, con người có một phẩm giá hết sức cao quí. Cao quí đến nỗi Thiên Chúa đã phải sai Con Một mình xuống thế chịu chết cho con người (Rm 5,6-8; 1Cr 15,3). "Hai con chim sẻ chỉ bán được một đồng", thế mà "không một con nào rơi xuống đất ngoài thánh ý Thiên Chúa". Là con cái Thiên Chúa, được thông phần bản tính Ngài, con người quí giá hơn chim sẻ hàng tỷ lần: "anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ", đến nỗi "tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi"!

Tình yêu giải phóng con người khỏi sợ hãi. Thánh Gioan viết: “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18). Tình yêu giúp chúng ta vượt thắng sợ hãi, để không còn sợ hãi nữa. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân có thắng vượt được sợ hãi mới chứng tỏ là tình yêu chân thực. Thắng vượt được nỗi sợ càng lớn bao nhiêu thì tình yêu của chúng ta càng chứng tỏ được là lớn lao bấy nhiêu. Tình yêu càng tăng thì sợ hãi càng giảm.

Chính nhờ tình yêu và lòng nhiệt thành với Thiên Chúa và tha nhân mà biết bao người dám chấp nhận tất cả cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Thiên Chúa luôn quan phòng và chở che. Chúa Giêsu nói: loài chim sẻ chẳng đáng giá bao nhiêu thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Thiên Chúa, huống chi chúng ta là những con người quý giá hơn chim sẻ vô cùng. Con người quý giá trước mặt Thiên Chúa đến nỗi Ngài đã hy sinh Con của Ngài để chúng ta “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16); và “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi” (Rm 5,8; x. 1Cr 15,3). Vì thế, không có gì xảy ra cho chúng ta mà không do ý muốn yêu thương của Ngài. Do đó, ta đừng sợ khi tình yêu đòi hỏi ta phải dấn thân, khi lòng nhiệt thành tông đồ thúc đẩy ta phải mạnh dạn rao giảng, khi tình yêu đối với người nghèo khổ thúc giục ta phải tranh đấu, lên tiếng cho công lý, chống lại áp bức bất công.

3. Tin yêu và hy vọng

Trước nguy hiểm và thử thách, ai mà không sợ hãi. Chỉ có tin yêu và hy vọng mới giúp chúng ta thắng vượt sợ hãi và chấp nhận nguy hiểm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5,11-12). Gian truân vẫn có thể xảy ra nhưng niềm hy vọng sẽ giúp chúng ta trung thành với Thiên Chúa: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22); “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài; nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (2Tm 2,11-12; x Rm 6,8; 8,17); “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). (NCK).

Nhờ tin yêu và hy vọng nên không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Kitô, dù cho đó là “gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác” (Rm 8, 35-39).Chính tình yêu Thiên Chúa cuốn hút con tim và làm cho người môn đệ “tuyên bố Thầy trước mặt thiên hạ”, sống tương quan thiết thân với Người trong mọi nơi mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

image2

 

BÀI ĐỌC I: Gr 20, 10-13

"Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Ta đã nghe nhiều người thoá mạ và chế nhạo rằng: "Người này gieo khủng bố khắp nơi: Hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố cáo nó". Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: "Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó". Nhưng Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức: Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên được. Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Đấng xét xử người công chính, thấu suốt tâm can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa trả thù nó cho con, vì con đã tỏ bày công việc con cho Chúa. Hãy hát mừng Chúa, hãy ca tụng Chúa, vì Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 68, 8-10. 14 và 17. 33-35

Đáp: Lạy Chúa, xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi (c. 14c).

1)Sở dĩ vì Chúa mà con chịu nhục, và thẹn thò làm nhơ nhuốc mặt con. Con bị những người anh em coi như khách lạ, bị những người cùng con một mẹ xem như kẻ ngoại lai. Sự nhiệt tâm lo việc nhà Chúa khiến con mòn mỏi, điều tủi nhục người ta nhục mạ Chúa đổ trên mình con.

2)Nhưng, lạy Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi xin nhìn đến tấm thân con.

3)Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ, và không chê bỏ con dân Người bị bắt cầm tù. Hãy ngợi khen Chúa, hỡi trời và đất, biển khơi và muôn vật sống động bên trong.

BÀI ĐỌC II: Rm 5, 12-15

"Không phải như tội phạm thế nào, thì ơn ban cũng thế ấy đâu".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi mà có sự chết, và thế là sự chết đã truyền tới mọi người, vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội. Trước khi có lề luật, đã có tội trên thế gian; nhưng tội không bị bắt lỗi, khi không có lề luật. Nhưng từ Ađam cho đến Môsê, sự chết ngự trị cả trên những kẻ không phạm tội giống như sự lỗi phạm của Ađam, hình ảnh của người đến sau.

Nhưng không phải như tội phạm thế nào, thì ơn ban cũng thế ấy đâu, vì nếu do tội của một người mà nhiều người phải chết, thì ơn nghĩa của Thiên Chúa và ân huệ ban do ơn một người là Đức Giêsu Kitô, làm cho nhiều người được ơn dư đầy hơn bội phần. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 17, 17b và a

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Lời Cha là chân lý; xin hãy thánh hoá chúng trong sự thật". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 10, 26-33

"Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà.

"Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn: Các con hãy sợ Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần.

"Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời". Đó là lời Chúa.

 

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU
CHÚA NHẬT
12 THƯỜNG NIÊN A

Chủ Tế : Anh chị em thân mến, tin tưởng mãnh liệt vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, và hân hoan sống trọn vẹn niềm tin đã lãnh nhận, phải là quyết tâm của từng người kitô hữu. Trông cậy vào ơn Chúa trợ giúp, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

Xướng:1. Hội Thánh luôn có sứ mạng củng cố đức tin của các tín hữu trên toàn thế giới / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ân cần chăm sóc / và giữ gìn các vị lãnh đão tôn giáo của chúng ta / để nhờ đó, đức tin của mọi tín hữu luôn bền vững sắt son trong Chúa.

                                                                                          Chúng ta cầu xin Chúa
2. Ngày nay nhiều kitô hữu đang mất đức tin / chỉ vì không hiểu biết giáo lý sâu xa / Chúng ta cầu xin cho các tín hữu biết tận dùng thời giờ Chúa ban / vào việc học hỏi sâu rộng giáo lý của Chúa / để đức tin của họ ngày càng vững chắc và trưởng thành hơn.
3. Nhiều tín hữu hiểu một cách đơn giản rằng / tin chỉ là giữ một số lề luật của Chúa và Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi kitô hữu biết xác tín cho mình / tin là gắn bó cùng Chúa và dấn thân theo Người đến cùng.
4. Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn khôn ngoan chỉ tin tưởng một mình Chúa / và mạnh dạn tuyên xưng đức tin ấy trong đời sống hằng ngày.
5. Chúng ta cầu xin cho các linh hồn theo ý những người xin lễ hôm nay / Nguyện xin Chúa thương cho họ hưởng hạnh phúc cùng Người muôn đời.  Và trong thinh lặng / xin mọi người dâng lên Chúa những nguyện ước riêng của mình.
Chủ Tế 
: Lạy Chúa, đức tin của chúng con còn rất yếu kém, chúng con dễ hoang mang giao động trước mọi thử th1ch trong cuộc sống. Vậy, xin Chúa ban thêm đức tin cho chúng con. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen

 

VĨNH BIỆT KINH TẾ MỚI 

I.  Có lẽ mẹ con chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên, và cũng có thể chúng tôi là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong các đợt sau cùng.  

Vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Ba mẹ và bảy anh em chúng tôi, lớn nhất là tôi mười bốn tuổi và bé nhất thì chưa đầy một tuổi, bồng bế, cột dính vào nhau hòa theo đoàn người xe hỗn loạn trên quốc lộ 1 chạy vào Sài Gòn. Đến Cam Ranh, giữa rừng người chen lấn chúng tôi leo lên được một tàu nhỏ của Nhật trong tiếng kêu la, khóc thét, trong tiếng súng gần của lính VNCH, tiếng súng xa của bộ đội Cộng Sản. Tàu này chuyển chúng tôi ra Hạm Đội 7. Vào đến Sài Gòn nhưng không được cập bến nên chuyển hướng ra đảo Phú Quốc. Từ đảo ba tôi liên lạc xin vào nhận nhiệm sở mới ở Sài Gòn qua đường Cần Thơ. 

Ba tôi loay hoay chạy quanh giữa một Sài Gòn hỗn loạn. Cho đến lúc Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì gia đình chúng tôi lạc mất nhau. Phải mấy ngày sau chúng tôi mới gặp lại nhau. Chúng tôi vào tá túc nhà của một người đã chạy ra nước ngoài trong khu gia binh. Một thời gian sau, ba tôi bị đi tù “Cải Tạo” biệt tích. Mẹ và bảy anh em chúng tôi bơ vơ giữa Sài Gòn xa lạ với hai bàn tay trắng, không có một đồng bạc hay một miếng “mẻ” vàng, theo cách nói của mẹ tôi. Chúng tôi phải đi xin ăn, tôi mắc cỡ nên đi cách xa các em tôi một quãng, đợi các em tôi xin xong thì dắt các em về”. Trong thời gian này, mẹ tôi rất hoang mang lo sợ, gầy xộc hẳn đi. Mẹ con chúng tôi mang đầy ghẻ chóc “bộ đội”, sống không bữa no, chẳng biết làm gì, không tiền không biết đi đâu về đâu. Tối đến mấy mẹ con ôm nhau khóc sướt mướt. Đã vậy vào một buổi sáng, một đoàn bộ đội tiến đến tiếp thu nhà, đuổi mấy mẹ con ra đường. Chúng tôi sống lang thang, đứa xin ăn, đứa nhận bánh bán trả tiền sau. 

Khi chính quyền Cộng Sản lập danh sách đi Kinh Tế Mới trong khu gia binh, chúng tôi là những người thuộc diện đi đầu tiên bởi vì chúng tôi không nhà, không hộ khẩu. Nghe Cán Bộ nói cho nhà, cho đất lại còn cấp cho sáu tháng gạo nữa. Vì vậy, chúng tôi có lẽ là những người đi Vùng Kinh Tế Mới trong những đợt đầu tiên của cuộc đời mới. 
Ngày lên đường, một hàng xe dài chờ mọi người chất đồ đạc lên xe. Ai cũng tất bật, kẻ khiên người vác, nào là bàn ghế, giường tủ, chén bát và hàng hàng trăm thứ lỉnh kỉnh. Riêng mấy mẹ con chúng tôi chỉ vài túi vải đựng áo quần và đôi cái nồi đen đúa. Đặt biệt là có tấm ván ép mỏng bề mặt bằng khoảng một giường nhỏ, của ai vất bên đường mà mẹ tôi nhặt đem theo để làm giường ngủ. 
Đoàn xe lên đến Bình Long, rời đường nhựa len vào dưới tàng cây rậm rạp của rừng cao su bạt ngàn. Qua khỏi rừng cao su đến cánh rừng tre nứa âm u. Để mấy chục gia đình xuống giữa mấy dãy nhà nhỏ lợp tôn, chung quanh không có vách, rồi đoàn xe lăn bánh chạy mất hút. 
Chúng tôi được cấp dao chặt cây, cuốc cào và mấy chục ký gạo. Nhận được nhà, mẹ con đem áo quần, nồi niêu vào, đặt tấm ván ép giữa nhà. Ăn xong bữa cơm muối thì trời sập tối, sương mù bao quanh. Mấy mẹ con chùm chăn nằm sắp hàng trên tấm ván, ngủ đêm đầu tiên trên vùng Kinh Tế Mới. Càng về khuya càng nhiều sương lạnh bao phủ. Tiếng côn trùng rỉ rả, tiếng Nai Mang kêu thất thanh trong rừng, lạo xạo tiếng thú ăn đêm quanh nhà, tiếng nghiến rít của rừng tre gìa kèn kẹt. Chúng tôi lo sợ chập chờn ngủ trong tiếng thì thào của đêm đen. Sáng ra người mấy mẹ con loang lổ ướt lạnh, phần vì sương đêm, phần vì các em nhỏ của tôi đái dầm chảy dài trên tấm ván ép. 

Những ngày sau, mẹ và tôi dùng cuốc và dao để phát quang những đám cây khoai Mài, khoai Nần, cỏ dại loang lỗ hố quanh nhà. Chúng tôi phát hiện nhiều rào que thấp cắm chung quanh một cái cọc, có tấm ván nhỏ vẽ hình sọ người với một chữ “Mìn” lẫn lộn trong cây cỏ dại. Có nhiều nơi chỉ còn có cái que nhỏ cắm bên cạnh một khối thép hoen rỉ nửa chìm nửa nổi. Mẹ tôi vội kêu tất cả anh em chúng tôi lại, cấm chúng tôi bước ra các đám cây cỏ, chỉ được đi trên những đường mòn nhỏ.Những ngày kế tiếp mấy mẹ con ở trong nhà không dám bước ra ngoài. Mẹ tôi ngồi hàng giờ, ngày qua ngày nhìn sâu vào rừng không nói năng, đôi lúc nước mắt mẹ chảy dài. Anh em chúng tôi ít cười nói ồn ào vì sợ mẹ la, đôi lúc chúng tôi cũng khóc theo mẹ. 

Vài người gan dạ vào rừng hái măng rau về ăn, rồi càng lúc càng đông người đi. Chúng tôi thì chỉ cơm canh muối, rồi cũng không chịu nỗi mẹ gởi tôi và em gái kế cho một người nhà bên cạnh theo họ đi lấy măng, hái rau. Sáng sớm tôi cầm dao, em gái tôi cầm 1 cái bao tời nhỏ, đi theo người đàn ông hàng xóm vào rừng. Trong rừng có rất nhiều măng, mọc giữa những bụi tre, Lồ-Ô to lớn san sát che kín mặt trời. Có những cây tre cao vút, lại có nhiều cây nghiêng ngả ngang dọc la đà đủ các tầm cao thấp. Nhiều cây nằm dài trên mặt đất, cho nên rất khó đi đứng và khó mà lấy được măng. Chúng tôi chui bò vào những bụi tre rậm rạp cố len lỏi để gai tre khỏi cào vào tay vào mặt bẻ những búp măng to dài. Có lẽ người hàng xóm và anh em tôi qúa mải mê tìm măng, nên đã thất lạc 
nhau. Hai anh em tôi sợ qúa, kêu la vang rừng nhưng không có ai trả lời. Chúng tôi vừa đi vừa khóc, phần sợ thú dữ phần sợ trời sắp tối. Tôi quyết định bỏ bớt măng lại cho nhẹ và đi như chạy về hướng ngược lại của mặt trời lặn, vì buổi sáng chúng tôi vào rừng với mặt trời mọc sau lưng. Hai anh em vừa chạy vừa khóc, chạy riết không biết bao lâu. Trời nhá nhem tối thì chúng tôi nghe tiếng mẹ tôi xa xa. Chúng tôi chạy đến gần thì thấy mẹ đứng sau nhà, day mặt lên trời hướng về đám rừng khóc la, kêu hú như điên dại. Gặp chúng tôi mẹ đánh hai anh em tôi túi bụi, khóc cười nước mắt ướt dầm dề. 

Tối đó chúng tôi được ăn một bữa cơm ngon gồm có canh măng và măng kho. Mẹ gầy nhỏ, tóc tai rối bời ngồi suốt đêm nhìn chúng tôi ngủ. Sáng ra khi mặt trời chưa mọc, ánh sáng lẫn lộn sương mai. Mẹ thức chúng tôi dậy, tôi thấy áo quần và gạo đã được chia đều ra từng bao nhỏ, những cái nồi cũng đã được bỏ vào bao cẩn thận. Mẹ phân công tôi dắt ba em, hai trai một gái đi trước. Còn mẹ thì dắt ba em gái nhỏ đi sau, cách chúng tôi một quãng độ hai ba trăm mét. Mẹ dặn nếu có ai hỏi thì bảo rằng về thăm ngoại, và cho một em chạy lui báo cho mẹ biết, để mẹ trốn vào ven rừng hai bên đường. 

Hồi hộp, sợ hãi chúng tôi bước những bước nhanh trên thảm lá ẩm ướt. Nhiều thú nhỏ ăn đêm nhìn chúng tôi một thoáng, rồi lủi nhanh vào bóng tối. Mỗi lần mệt, chúng tôi trốn vào những bụi cây để nghỉ. Chúng tôi nghỉ rất nhiều lần bởi vì phải thay phiên nhau cõng các em nhỏ. Với nhiều lần nghỉ như vậy, chúng tôi vượt qua rừng dày, rừng thưa và rừng cao su. Thỉnh thoảng vài người bắt gặp chúng tôi, họ ngạc nhiên khi thấy bầy trẻ chúng tôi nhớn nhác đi như chạy. 

Nhưng họ cũng không kêu gọi hay hỏi han gì. Chiều đến chúng tôi ra đến đường lộ. Một xe tải cho qúa giang về thị trấn và đêm đó chúng tôi ngủ ở bến xe.Trời sáng, mẹ bán ít gạo đón xe về Sài Gòn. Lang thang ở Sài Gòn mấy ngày, mẹ tôi gặp người quen cho biết cả ông bà nội, ông bà ngoại đều đã về mua đất ở hai làng quê hẻo lánh nằm giữa Cam Ranh và Nha Trang để làm nông. 

Mẹ xin một xe khách trả ít tiền để về Cam Ranh. Trên xe chỉ có mẹ tôi là được ngồi trên ghế bồng em gái út, còn chúng tôi thì ngồi dưới sàn xe. Đứa đằng trước, đứa đằng sau, ngồi lẫn lộn với hàng hóa, vịt gà rồi ngủ gà ngủ gật. Đến Cam Ranh, chúng tôi thức giấc lục tục xuống xe. Khi xe đã chạy xa, mẹ phát hiện thấy thiếu mất một đứa em trai. Mẹ khóc thét lên, rồi bỏ chúng tôi ngơ ngác chạy về hướng xe đã khuất, vừa chạy vừa vò đầu bức áo khóc la thảm thiết. Chúng tôi tay dắt nhau, tay xách đồ, bồng bế lếch thếch chạy theo mẹ và cũng đua nhau khóc la thảm thiết không kém. Trời xập tối không một bóng người, không còn thấy bóng dáng mẹ, chúng tôi chạy mệt, khóc khản tiếng đành ngồi bệt bên vệ đường. Một lúc sau mẹ quay lại không nói năng, mắt đỏ hoe bồng bé út dắt chúng tôi bỏ đường quốc lộ đi về hướng ngọn núi xa mờ.Vượt qua mười mấy cây số đường đất dưới trời đêm, mẹ con tìm đến được nhà ông bà ngoại. 

Ông bà ngoại tôi có tới mười sáu người con, mẹ tôi là con gái đầu và rất nhiều cậu dì nhỏ tuổi hơn cả chúng tôi. Có điều đặt biệt là cả mười sáu người con đều không mất người nào. Gặp lại ông bà ngoại cùng các cậu dì, mẹ tôi khóc òa kể lể về chuyện lạc mất một đứa con trong khi về đây và cứ nhắc đi nhắc lại rằng sợ khi ba tôi về sẽ trách mẹ. Những ngày kế mẹ tôi cứ khóc ngày khóc đêm, hết nắm tay người này lại đấm lưng người khác trong nhà van xin hãy đi tìm dùm em tôi. Ông bà ngoại cùng các cậu dì rất là khổ sở vì biết bao nhiêu là mối lo. Nào là vấn đề hộ khẩu, công an, du kích hết rình mò lại hạch hỏi tạm trú tạm vắng, nào là không biết lấy gì để ăn. Nhà ông bà ngoại đã đông nay lại thêm bảy tám mẹ con chúng tôi nữa. Cơm gạo đối với chúng tôi hầu như chỉ còn thấy trong cơn mơ những lúc ngủ. Chúng tôi ăn hết Sắn khoai trong nhà ăn ra Sắn khoai ngoài vườn. Ăn cả rễ lá khoai Sắn, rồi ăn luôn rễ chuối, thân cây chuối. Món thường ăn nhất là canh lá khoai Lang cắt nhỏ hòa với bột Sắn. Ông bà ngoại buồn lo, đâm gắt gỏng khi thấy mẹ tôi khóc suốt ngày suốt đêm. Còn các cậu dì thấy mẹ tôi đâu thì tránh đó, vì sợ mẹ tôi bắt đi tìm kiếm em tôi. Nếu mà nắm được ai, mẹ khóc lóc van xin đi kiếm em tôi, người đó cứ đi một vòng ra khỏi nhà, rồi về nói là không tìm thấy. 

Trong nhà ông bà ngoại lúc đó, có một ông Dượng chồng của dì tôi là một lính Không Quân VNCH rất cao lớn, cũng về tá túc ở đây. Dượng thấy mẹ tôi ngày nào cũng khóc lóc thẫn thờ, bèn khăn gói áo quần, khoai sắn làm lương thực, dắt xe đạp đi kiếm em tôi. Dượng đạp xe theo quốc lộ 1 dọ hỏi dọc đường. Vượt mấy chục cây số ra tới Nha Trang, mà vẫn không có tin tức gì về đứa em thất lạc. 

Dượng la cà ở bến xe Nha Trang thì có người cho hay rằng, trước đây có thấy một bé trai độ bảy tám tuổi ngủ quên trên xe đò, khóc dữ lắm. Chủ xe bèn giao cho một đoàn bộ đội đang trên đường đi, nghe đâu đóng quân ở Tuy Hòa chuẩn bị ra Bắc. Biết đúng là cháu mình, dượng tức tốc đạp xe ra Tuy Hòa cách Nha Trang mấy chục cây số. Đến Tuy Hòa, lần tìm được chỗ bộ đội đóng quân, dượng vào trình bày hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi. Bộ đội xác nhận là có nuôi một đứa trẻ thất lạc và cho em tôi ra nhận diện. Sau khi em tôi được hỏi và nhận đúng là người nhà thì bộ đội cho dượng đem em về. Sau mấy ngày tìm kiếm, dượng và em tôi về đến nhà khi mấy mẹ con đang mót khoai ngoài vườn. Nghe tin đã tìm lại được em về, mẹ tung rổ rễ khoai chạy băng băng như cắt qua các luống đất gập ghềnh, vừa chạy lại vừa khóc. 

Từ khi tìm được em tôi mẹ hết khóc, cả nhà ai cũng mừng. Nhưng chỉ được một hôm cả nhà lại buồn lo cho miếng ăn hàng ngày. Mẹ hết suy lại tính, không muốn dành ăn của các em nhỏ. Nên mẹ quyết định chúng tôi sẽ ra đi, dù rằng không biết đi đâu. Lần lừa mãi rồi cũng phải khăn áo ra đi. Ngày chia tay, ông bà ngoại cùng các cậu dì cho mẹ con chúng một bịch khoai khô, kèm theo thật nhiều nước mắt. 

Ra khỏi nhà ông bà ngoại, chúng tôi lếch thếch cùng mẹ dọc theo đường đất bụi bặm. Trời nắng gắt, mồ hôi nhớt nhác, ghẻ lở ngứa ngáy, gãi đến chảy máu đỏ dính loang lổ áo quần như là có hoa. Chân bỏng rát, đầu thì ghẻ chí ngứa ran, các em gái tôi phải cạo đầu cho hết chí Chúng tôi ngồi nghỉ bên vệ đường như kẻ ăn xin. Hết mệt lại đi, chúng tôi tìm về được nhà ông bà nội trời vừa tối. Dưới ngọn đèn dầu tù mù, mẹ khóc lóc kể lể trước vẻ mặt cố dửng dưng của ông bà nội. Còn cô tôi thì tránh xa chúng tôi, ngồi khuất lờ mờ trên giường, hình như sợ đám ghẻ trên người chúng tôi vậy. Tối đó mấy mẹ con ngủ dưới đất một giấc say sưa vì mệt. Hôm sau chúng tôi được ăn một bữa no, ông bà nội cho mẹ con ít tiền. Ông nói ông không nuôi nổi thân ông làm sao nuôi một mẹ bảy con chúng tôi được. Ông bà nội tôi có sáu người con, bốn trai hai gái, ba tôi là con trai đầu. Ba tôi và chú kế là sĩ quan An Ninh Quân Đội VNCH, còn hai chú sau là Cảnh Sát. Có điều lạ là bốn người con trai của ông bà nội tôi không ai có một căn nhà riêng cả. Mẹ tôi nhiều lần nhắc ba tôi kiếm một căn nhà để ở và cũng là để dành cho con cái, nhưng ba tôi luôn phất tay nói “Đời còn dài”. Hai chú nhỏ sau là cảnh sát nhưng làm việc đâu ở Dakto, Dakbek gì đó. Ba tôi và chú kế thì hết việc trong sở, lại lo điều tra chống tham nhũng. Chống tham nhũng được gì đâu không biết, chứ mỗi lần moi ra một vụ là mỗi lần gia đình tôi lại theo ba tôi bị chuyển đi Tỉnh khác, Vùng khác. Có lần còn ở tù, có lần sém chết phải tự xin thuyên chuyển đi nơi khác. Vì vậy gia đình tôi hết ở khu gia binh, khu sĩ quan hay ở hẳn trong sở, nhưng nhiều nhất là ở nhà thuê. Ba năm cuối trước ngày 30 tháng 4 ba tôi bị chuyển về Ninh Hòa, nhưng ở nhà thuê gần một chợ quê. 

Từ giã nhà ông bà nội, mẹ con chúng tôi ra đi mà chẳng biết đi đâu. Lang thang mấy ngày, mẹ con về đến nhà ông bà ngoại. Lần này gặp lại nhau ai cũng khóc, nhưng ít nước mắt hơn. Được ít hôm ông bà ngoại lại cho khoai sắn khô, để làm luơng thực đi đường. Và lần chia tay ra đi này, mẹ con chúng tôi biết rằng sẽ khó quay trở lại. 

Mẹ tôi quyết định trở về vùng Kimh Tế Mới Bình Long. Chúng tôi đi ra ga xe lửa, vô tới Sài Gòn mẹ đổi ý. Chúng tôi không đi đâu chỉ ở trong sân ga, rồi lên tàu về Nha Trang. Tàu đến Nha Trang không có nơi để về, nên lại đi vô Sài Gòn. Cứ thế, hết đón tàu đi vô rồi lại đón tàu đi ra. Chúng tôi như những người sống trên tàu vậy. Một hai lần đầu nhân viên trên tàu còn hỏi vé đuổi xuống. Sau thấy hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi, lại thấy mẹ con ngồi lì dưới sàn tàu, đói rách ghẻ lở nên họ lơ đi. Thỉnh thoảng có người cho đồ ăn, có người cho tiền. Không như các em tôi ôm nhau ngủ trong tiếng sập sình như bầy chó con. Tôi ngồi cách xa mẹ và các em làm như một người xa lạ. Nhưng nhìn cách ăn mặc, bộ dạng tôi ai cũng biết tôi ở trong đám ăn xin đó. 

Có một lần mẹ con xuống ga Tháp Chàm ở Phan Rang, đi vào trong thành phố xin ăn. Đi suốt ngày không được gì, anh em chúng tôi đói lả khóc rinh rích. Bụng tôi đau âm ỉ từng cơn, bao tử lép kẹp như dính vào xương. Nhưng tôi vẫn phải cõng em trên lưng, chân ê ẩm bỏng rát chỉ mong được nằm lăn ra đất. Trời đêm nhiều sao, mấy mẹ con nằm trên một sạp gỗ trong chợ vắng vẻ. Các em tôi đói, khóc mệt, ngủ vùi miệng nhai nhóp nhép. Kê một cục gạch trên đầu, nghe tiếng lạch bạch của một mái tôn, tiếng ồng ộc trong bụng, mấy ngụm nước lạnh không làm no, tôi không ngủ được. Một người đàn ông trung niên áo quần lôi thôi lếch thếch, tò mò nhìn mấy mẹ con rồi tiến đến hỏi chuyện mẹ tôi. Nghe mẹ kể hoàn cảnh, ông ta bảo mẹ thức anh em tôi dậy theo ông đi đến một gánh 
cháo gà. Ông ta mua cho mỗi người một tô cháo trắng. Tuy không có thịt gà, nhưng mùi thịt và mỡ gà làm chúng tôi không thể ăn chậm được, vèo một cái là hết sạch. Mẹ tôi thì vẫn ăn cái cách chậm rãi của mẹ, thấy các em ăn xong mẹ chia cho các em mỗi đứa một ít. Trả tiền xong, người đàn ông nọ dắt mẹ con tôi về lại sạp chợ ban nãy. Ông ta nói mẹ theo ông vào trong này chút xíu để ông ta cho tiền. Vào sâu giữa chợ hoang vắng, mù mờ, tôi thấy ông ta tay ôm, tay cầm lấy tay mẹ dằng co. Tôi vội chạy vào, đến gần tôi nghe tiếng mẹ tôi khóc năn nỉ, lưng gập lại dật tay ra, miệng nói “không! không! xin ông”. Còn ông ta nói rít nho nhỏ trong cổ họng “trả tiền cháo lại”. Tôi chạy đến đứng giữa nhìn thẳng vào mặt ông ta, sợ qúa hai tay hai chân tôi cứ run lên bần bật không nói được gì. Ông ta cũng không nói, nhìn tôi trừng trừng như đánh gía một cái gì đó. Mẹ tôi nói trong nước mắt “Cám ơn bác đã cho ăn cháo đi con”. Tôi lí nhí cám ơn. Rồi hai mẹ con đi như chạy về thức các em dậy, chúng tôi dắt díu chạy vội ra ga xe lửa. Tim đập thình thịch tôi quay lại, vẫn thấy bóng đen của người đàn ông nhìn theo chúng tôi.

Không thể cứ lang thang hoài được. Mẹ đem chúng tôi về cái làng nơi ở trước ngày chạy giặc. Ở đây hầu như mọi người đều biết mặt nhau. Nên nhiều người vừa ngạc nhiên vừa tò mò nhìn bà vợ sĩ quan và đoàn con tàn tạ đi qua đi lại nơi ở cũ. Nuốt tủi nhục mẹ con đi vào căn nhà thuê thủa nào, gặp một người đàn bà lạ từ trong nhà đi ra. Bà ta cho biết là đang mướn căn nhà này. Nhìn vào trong, tôi thấy đôi ba vật dụng của nhà tôi xưa kia. Mẹ tôi muốn xin lại ít vật dụng, nhưng bà ta lắc đầu không biết chúng tôi là ai rồi đóng cửa lại. Chúng tôi sang nhà bà cô họ của ba tôi xin ở nhờ vài hôm, nhưng vợ chồng con cái bà cô họ không cho. Năn nỉ thật lâu, họ chỉ cho ở trước hiên nhà. Tất cả đồ đạc của nhà tôi trước kia hầu như là đã được khuân về đây. Mẹ xin họ thương tình cho lại ít đồ đạc để bán nuôi con, nhưng hai vợ chồng lắc đầu nói gì tôi không muốn nhớ. Nhìn vào trong nhà họ, tôi thấy hàng giầy dép của ba mẹ, của chúng tôi sắp thẳng tắp, trong khi chúng tôi đi chân đất. Mẹ xin cô dượng cho mỗi đứa chúng tôi một đôi nhưng họ cũng không cho. Trước đây cô dượng vẫn cậy quyền của ba tôi, vừa được ba tôi giúp thật nhiều, đổi đời lòng người cũng đổi thay. Mẹ giận qúa không thèm ở nhờ trước hiên nhà họ, đem chúng tôi ra ngủ ngoài các sạp chợ. Chợ làng này nhóm vào mờ mờ sáng và tan vào lúc một hai giờ chiều. Lúc đó chợ vắng, chỉ còn người quét chợ và chúng tôi. Tất cả các sạp ở chợ này chỉ có mái lợp bằng tôn hoặc bằng tranh. Riêng ở giữa chợ có một cái Ki-ôt bàn hàng vuông vít mỗi bề ba mét là có vách tường, không cửa sổ, chỉ độc một cái cửa nhỏ ra vào. Người chủ không dùng tới, thấy mẹ con tôi đêm đêm ngủ trống trải nên cho mấy mẹ con vào ở nhờ. 

Nơi ở đã có, nhưng lấy gì để sống. Mẹ tôi đi mua chịu chuối xanh về dấu chín đem bán, hoặc luộc lên cắt thành từng chùm ba hoặc bốn qủa mà bán. Rồi mẹ lại còn mua thêm mía cắt thành từng khúc ngắn bán cho con nít. Thật là kỳ lạ, đây là thôn quê vậy mà bán rất chạy. Sau buổi chợ, mẹ quay lại nghề mà mười mấy năm trước khi lấy ba tôi, là đi đến các tiệm may nhận may thuê. Tôi và các em đi lượm mót củi ở trong một nghĩa địa gần đó để nấu ăn. Tối đến trên chiếc chiếu lớn lấm tấm cáu và máu, chúng tôi nằm ngủ ngang dọc. Cánh cửa luôn mở rộng vì hơi người chật chội, vì mùi chuối ủ rơm bốc lên hầm hập, mùi máu ghẻ tanh tanh, mùi nước tiểu đái dầm khai nồng của các em nhỏ, mùi cá thịt. Tôi không ngủ được, vì vậy tôi hay ôm tấm chăn ra ngủ ngoài các sạp gỗ. Trời mờ sáng, khi bắt đầu họp chợ là tôi lẩn ra nghĩa địa. Chờ cho đến khi chợ tan tôi mới về, vì tôi sợ những người đi chợ, sợ đám trẻ con sàng sàng ngang tuổi anh em chúng tôi, tò mò nhìn vào đám rách rưới bên trong Ki-ốt. Nhất là sợ những thằng bạn, những đứa con gái học cùng lớp với tôi trước đây. Thoáng một cái tôi không còn là tôi. 

Mẹ thấy tôi cứ ngoài nghĩa địa, ngoài rừng Đước bờ sông, bắt ốc, hái củi trốn tránh người quen. Nên mới nhờ hai vợ chồng dì dượng em mẹ tôi, cho tôi theo làm than trên núi. Kể từ đó, tôi mới biết thế nào là lao động vất vả để kiếm miếng ăn. Dì dượng và tôi ở một cái chòi trên núi. Suốt ngày cưa chặt cây củi, khiêng vác, đào lò đốt than, gánh xuống núi bán. Cả người, tay chân tôi lúc nào cũng ê ẩm. Không ngày nào là không có thương tích, nhiều khi vết thương tay làm độc cương mủ cầm chén cơm, đôi đũa không nổi. 

Mấy tháng sau, mẹ nhắn tôi về để đi Kinh Tế Mới. Dân địa phương ở đây đã mấy đợt đi Kinh Tế Mới. Chính quyền thôn xã đã nhiều lần động viên, đe dọa nhiều tháng trời nhưng mẹ tôi cứ lì ra không chịu đi. Họ phải đưa mẹ và một số người ngoan cố lên xem thử vùng Kinh Tế Mới. Thấy vùng này gần, người đông cũng không có đạn mìn thời chiến tranh còn sót lại, nên mẹ và mười mấy gia đình cuối cùng chấp nhận lên vùng Kinh Tế Mới này. 

Một con đường đất mới ủi chui sâu vào rừng rậm, là con đường bộ đội dùng để khai thác và chuyên chở gỗ về đồng bằng. Phái đoàn cán bộ bỏ mười mấy gia đình chúng tôi xuống giữa đường rừng. Họ đo bề ngang mỗi quãng 25 mét và chỉ vào rừng gìa âm u nói “Đây là đất thổ cư, đất trồng trọt hoa màu của đồng bào”. Và họ lên xe đi về. Mọi người chỉ còn biết lắc đầu kêu trời. 

Hồi trước đi Kinh Tế Mới ở Bình Long chúng tôi còn được cấp dao rựa, cào cuốc còn lần này họ chỉ phát gạo tùy theo đầu người mỗi tháng. Không biết mẹ tôi mua lại của ai được một cái rựa cùn. Hai mẹ con thay phiên nhau cực lực phát quang rừng gìa mà phải làm thật nhanh cho kịp với bà con hàng xóm để cùng đốt rẫy một lần. Nói sao cho siết nỗi cực nhọc của hai mẹ con chân tay yếu ớt, cả đời chưa bao giờ biết khai hoang phát rẫy. Mười lăm ngày vớì nhiều mồ hôi nước mắt trộn lẫn máu mủ, tay chân phồng dộp. Sau khi ngọn lửa ngút trời thêu rụi rừng cây đổ nghiêng đổ ngã, chúng tôi có một mảnh đất. Mảnh đất phủ một màu tro than, ngoằn nghèo rễ cây, ngổn ngang cây đá, cùng những thân cây to đen không cháy hết. 

Tôi vẫn nhớ như in ngày mùa hè hôm đó. Giữa nắng trời gay gắt, mẹ và tôi chặt cây, gom củi chân bước ngập tro than hầm nóng, mặt mũi da thịt ướp dày tro đen. Gần chiều bỗng một cơn mưa dông bất thần, những hạt mưa rơi lụp bụp trên mặt thảm tro. Chung quanh bốc lên khói hơi của đất hoang, của rừng gìa, của tro than nồng nồng bịnh hoạn. Mẹ và tôi vội chạy về với các em, đang ở nhà một người lên đây trước, cho chúng tôi ở nhờ trong khi khai hoang làm nhà. Tối đó, mẹ tôi sốt nặng phải đem ra trạm xá. Trạm xá Kinh Tế Mới chỉ là một cái chòi lá vách ván, vài ba lọ thuốc đếm được, một cái giường và một bà mụ gìa được gọi là y tá. Sau khi chích thuốc, cho mẹ tôi uống thuốc, bà y tá nói mẹ tôi bị sốt rét vài ngày sẽ khỏi. Rồi bà ta đi về nhà ngủ. Chúng ngồi ngủ quanh mẹ trên giường. Người mẹ hết nóng lại lạnh, nằm co quắp run cầm cập suốt đêm. Đó là hình ảnh cuối cùng mà tôi được nhìn thấy mẹ còn sống. Không như lời bà y tá đoán, mấy ngày sau bịnh tình mẹ tôi càng nặng phải chuyển lên bịnh viện Huyện. Tôi phải ở nhà giữ các em nhỏ, đứa em gái kế tôi đi theo chăm sóc mẹ. Ở bịnh viện Huyện mấy ngày, mẹ tôi được chuyển lên bịnh viện Tỉnh. Hai ngày sau, mẹ tôi cô đơn chết trong khi em gái tôi chạy ra ngoài pha nước sôi. Tính ra mẹ tôi đi Kinh Tế Mới lần này được một tháng. 

Được tin, ông bà nội ngoại vội mướn xe chở xác mẹ tôi về lo đám tang chôn cất vùng nhà ông bà ngoại, vì vùng Kinh Tế Mới ở đây chưa có nghĩa địa. Chúng tôi nheo nhóc về nhà ông bà ngoại, khóc lóc, bu quanh xác mẹ. Đám tang mẹ tôi không có gì cho người ta ăn uống. Trái lại bà con chòm xóm của ông bà ngoại người cho khoai, người cho sắn. Không có hòm, người ta cho mẹ tôi một tấm ván ép mỏng khoảng một phân, cưa ra đóng thành hòm. 

Ngày đưa xác mẹ ra nghĩa trang, chúng tôi đứa nào đứa nấy khăn tang trắng ố vàng dài qúa mông. Người ta khiêng hòm trên vai đi trên con đường gập ghềnh, quanh co ra nghĩa địa nằm cao trên một đồi núi cỏ cây lấp sấp cách xa mấy cây số. Chúng tôi đứa đằng trước, đứa đằng sau, có đứa đi cả dưới hòm của mẹ. Xác mẹ được đem chôn vào lòng đất lẫn hàng ngàn tiếng khóc, hàng ngàn nước mắt của anh em chúng tôi và cũng chôn luôn niềm an toàn được mẹ chở che. Ngay lúc mộ mẹ vừa đắp xong, thì sự cô đơn, nỗi lo sợ bất an bắt đầu lảng vảng chung quanh hay đâu đó trong lòng tôi. 

Lo xong cho người chết, nội ngoại hai bên họp bàn lo cho người sống là chúng tôi. Nội ngoại bàn chia anh em chúng tôi ra làm hai, một nửa sống với nội một nửa sống với ngoại. Hỏi ý tôi thế nào, tôi xin nội ngoại hai bên nuôi các em tôi, còn tôi xin được lên lại vùng đất Kinh Tế Mới. Nơi mảnh đất mà mẹ tôi đã bỏ mạng sống. Các em đều đòi đi theo tôi, cuối cùng anh em tôi đành phải chia ba. 

Tôi cùng hai em, một trai một gái lên lại vùng Kinh Tế Mới. Chúng tôi vào rừng đào củ, hái rau để ăn. Vào rừng chặt cây, chặt củi. Vào rừng cắt Tranh để dành làm nhà. Nói là nhà chứ thật ra ngày ông nội, ông ngoại lên giúp chúng dựng nhà mấy ngày, chỉ dựng được cái chòi Tranh cao vuông vứt bốn mét xoay lưng về hướng núi rừng. Và nhà chỉ có một vách mặt trước, vì hết Tranh. Xong việc hai ông nội ngoại ra về. 

Đêm đầu tiên trong căn nhà đầu tiên của anh em mồ côi chúng tôi, ba anh em tôi ngủ không được yên giấc. Trời tối đen dày đặc. Mưa không buồn nhưng mưa ầm nước ào, trĩu nặng mái Tranh như muốn đè bẹp căn nhà. Gío hú, gío thốc từ sau hướng không có vách che, mang theo mưa bay vào làm tắt đống lửa giữa nhà. Ba anh em ôm nilon, chăn mền chạy ra đứng trước mái hiên ngủ gật gà. Như trêu ngươi, gío trở chiều, anh em lại vội khăn gói chạy vào trong nhà. Và cứ chạy ra hàng hiên ngủ một chốc, lại chạy vào nhà mơ một lát. Vài lần như vậy người cả ba anh em nửa ướt nửa khô. 

Đến nửa đêm, mưa tạnh gío êm. Tiếng côn trùng chui ra từ sũng đất râm ran. Đom đóm xanh xao vật vờ quanh quẩn. Xa xa ngọn núi sau nhà, ẩn hiện những cặp mắt lúc xanh biếc, lúc rực đỏ. Tiếng con gì bay ngang quẹt phải mái Tranh, luống cuống một chốc rồi bay mất hút vào bóng đêm. Hai em lăn ra ngủ vùi, tôi bó gối nhìn vào rừng đêm mịt mùng, lo lắng sợ hãi. Nỗi sợ lúc mơ hồ, lúc hiển hiện bao quanh. Suy nghĩ mung lung, bỗng nhiên thấy thời gian, không gian như lập lại. Cũng tiếng Nai Mang thất thanh trong đêm tối, tiếng côn trùng ỉ ôi, tiếng sột soạt thú rừng kiếm ăn, tiếng tranh giành sự sống của đêm nào trên vùng Kinh Tế Mới Bình Long. Nhưng cuộc sống và con người thì đã đổi thay. 

Qua mấy mùa mưa nắng. Chúng tôi kiếm ăn như thú rừng, chân tay mọc thêm u nần. Dân số của vùng Kinh Tế Mới vơi dần. Riêng xóm chúng tôi, có đêm ngủ thức dậy thấy biến mất cả một gia đình. Có gia đình mười người, bỗng một hôm nhân khẩu chỉ còn có năm, rồi hai, cuối cùng không còn ai. Có nhà thì ban ngày ban mặt, mướn xe tải rộn ràng dọn đồ đạc lên xe, chưa hết lời chia tay, quay qua ngoảnh lại thì thấy nhà đã thành nhà hoang. Những căn nhà dọc theo hai bên con đường xưa rộn tiếng người, gìơ vắng vẻ, chỉ còn mỗi túp lều của ba anh em chúng tôi. Những căn nhà không người chăm sóc, mưa nắng, gío bão sụp đổ mau lẹ. Có căn mục nát, rồi đổ ầm xuống một cái thế là xong. Có căn tung vách, tróc nốc chỉa những cái cột siêu vẹo lên trời. Có căn chỉ còn chơ vơ bốn vách để bầy Sóc, bầy Thỏ đôi lúc chạy đùa bên trong. 

Qua mấy mùa nắng mưa. Chúng tôi sống như Kinh như Thượng, áo quần mục dần theo thời gian. Màu xanh của cây rừng phủ chụp, lan nhanh trên những vườn tược, trên những căn nhà sụp đổ hoang tàn. Con đường đất rộng lớn xưa nhiều xe cộ qua lại, thưa dần rồi dứt hẳn. Cây cỏ đua chen mọc lên, biến nó trở nên con đường mòn nhỏ cho người dân tộc đi qua. Anh em chúng tôi cố gắng giữ mảnh đất của mẹ cho khỏi rừng xanh bao phủ. Chúng tôi đã gĩư được mảnh đất khỏi màu xanh rừng rú, nhưng đã lạc mất tuổi thơ, tuổi xuân xanh nơi núi rừng vùng Kinh Tế Mới này.

II.  Anh em chúng tôi ít khi nghĩ đến ngày, tháng, năm. Nhưng thời gian vẫn vun vút trôi qua. Chúng tôi thêm tuổi, cây rừng thêm lá,kinh tế mới thêm nhà hoang.

Nhà tôi

Các em thêm tuổi thì chỉ muốn về sống chung với tôi, anh em xum vầy dù đói khổ. Thêm tuổi nhưng chúng tôi vẫn khù khờ hơn những đứa cùng trang lứa. Thỉnh thoảng chúng tôi đốn củi, chẻ tre vác xuống phố bán để mua thực phẩm. Một tuần đôi lần, chúng tôi cầm đèn dầu xuống trường học của kinh tế mới để học bổ túc văn hóa vào ban đêm. Hoặc xuống họp nông hội, tuy nhỏ nhưng tôi không vào đoàn thể thanh thiếu niên của “Bác”, bởi vì tôi là chủ hộ. Những lần đi học như vậy, bọn trẻ tuy có đứa cũng làm bạn với chúng tôi, nhưng đa số là chọc ghẹo, ăn hiếp chúng tôi. Người lớn thì nhìn chúng tôi vừa tò mò vừa thương hại. Tôi thường tránh né những lời thương hại của họ, chúng làm tôi mặc cảm và thấy mình nhỏ bé. Mà mọi người cũng không thể nhìn khác được, bởi vì áo quần chúng tôi mặc không thể gọi là áo quần được. Chúng được vá víu vụng về, bất kể màu sắc, cũ hay mới, quần hay áo. Có khi tay áo vá vào ống quần, hay ngược lại ống quần bóp nhỏ biến thành tay áo. Ði đứng phải cẩn thận, nếu không muốn chúng rách tung ngoài đường.

Ðặc biệt đôi dép của tôi là khó làm cho mọì người nín cười được. Đó là một đôi dép nhựa đứt quai màu nâu, ai vất bỏ trong rừng. Nó to rộng quá nên tôi cắt gọt cho vừa. Vì dùng dao và bị gọt mất lớp nhựa láng bên ngoài nên trông rất nham nhở. Sau đó tôi khoét lỗ, lấy dây rừng sỏ làm quai dép, mỗi lần đứt quai lại lấy dây rừng xỏ lại. Vậy mà nó cũng theo tôi được mấy năm. Cũng vì áo, vì quần mà tôi bị mất mối tình đầu.


Ba nàng chết trận đã lâu, mẹ con nàng đơn chiếc đi kinh tế mới. Một hôm ba mẹ con nàng đi đốn củi, ghé vào nhà tôi xin nước uống. Thấy hoàn cảnh chúng tôi cũng đơn chiếc như nhà bà, nên mẹ nàng nói rảnh thì xuống nhà bà chơi cho đỡ buồn. Mới gặp nàng lần đầu, trong lòng tôi rộn ràng, vu vơ cảm giác thân quen như tìm lại được hạnh phúc thủa gia đình còn đông đủ. Cảm giác khó tả đó cứ dâng lên mỗi lần gặp nàng. Thường sau một ngày lao động, đám con trai, con gái mới lớn hay tụ tập lại nhà nàng chơi. Lần đầu mới tới nhà nàng tôi rất ngượng, sau cũng quen. Bọn con trai đàn ca, chọc cười, tán gái. Con gái thì viết thơ, coi bói, làm duyên. Tôi không nói gì với nàng nhiều, chỉ biết nhìn nàng và giúp mẹ nàng làm hết việc nhà. Mẹ nàng thường thưởng công và đãi chúng tôi món bánh tráng chấm mật đường. Từ đó tôi mê cả món mật đường của mẹ nàng và nàng. Tôi thường đến chơi, giúp cuốc đất trồng khoai, nhổ mì gọt sắn, việc lớn việc nhỏ trong nhà nàng đều có tay tôi dính vào. Tụi bạn có đứa chọc tôi “Việc nhà thì nhác việc cô bác thì siêng”. Ai cũng xem như tôi làm rể nhà nàng. Nhờ lì, ít nói, siêng làm nên nàng yêu tôi. Bọn con trai hết còn dám tán tỉnh nàng. Ði đâu tôi cũng hãnh diện, khoe khoang nàng là người yêu của tôi.

Mùa hè năm đó, chúng bạn rủ nhau đi tắm suối. Quần đùi bên trong của tôi rách quá, nên tôi về nhà lôi cái váy đầm học trò, đồ viện trợ duy nhất còn sót lại, mới như chưa mặc một lần. Cái váy xếp ly đó, ngắn cách đầu gối một gang tay, bằng vải ca-tê mỏng màu xanh lá non, sọc trắng. Không biết tại sao chúng tôi có nó lâu rồi nhưng không mặc. Có lẽ kiểu cách của chiếc váy không phù hợp với dân lao động chúng tôi. Tôi xòe nó ra, đặt xếp đôi trên bàn, cắt một miếng hình tam giác dưới vạt, khâu lại thành cái đáy quần đùi. Xỏ hai chân vào cái quần đùi mới may, mang quần dài vào, tôi chạy lại nhà nàng cùng đám bạn đi tắm suối. Tới suối bọn con gái mặc luôn quần dài và cả áo mà tắm. Con trai chúng tôi thì ở trần, mặc quần đùi. Khi tôi cởi áo, quần dài ra thì cả bọn, trai lẫn gái đều sửng sốt, trợn mắt nhìn tôi chằm chằm. Tôi nhìn xuống chân. Trời ơi! Không như tôi nghĩ, nó không biến thành cái quần đùi, mà vẫn là cái váy xếp, xòe rộng lất phất trong gió. Ngượng quá tôi nhảy ùm xuống nước trong tiếng cười rộ của tụi bạn. Họa vô đơn chí. Nhảy xuống nước cái quần đùi của tôi bọc không khí vào trong, nổi phùng lên như một cái phao dù màu xanh bao bọc quanh tôi. Lũ bạn bò lăn ra cười. Ðiên tiết tôi đè cái “dù” xanh của tôi xuống, lặn một hơi thật xa không thèm tắm gần bọn chúng. Bơi mệt tụi nó lên bờ nằm nghỉ. Lò dò đi lên, nhìn xuống chân, tôi giật thót cả người. Cái quần đùi của tôi ướt, mỏng dính, bó sát lấy thịt da như không mặc gì. Tôi vội ngồi thụp xuống nước. May quá chưa có đứa nào thấy. Nguyên ngày cho đến chiều, tôi ngâm mình dưới nước, không một lần lên bờ. Mặc cho tụi bạn kêu réo, xin lỗi, mặc cho nàng năn nỉ, tôi nhất định ngâm mình dưới nước. Trời chiều, không kiên nhẫn với tôi nữa, mấy đứa bạn bỏ về hết. Chỉ còn mình nàng, nàng năn nỉ tôi đưa nàng về. Tôi vẫn không chịu lên bờ, giận tôi nàng đi về một mình. Cẩn thận nhìn quanh không còn ai, tôi đi lên bờ, chui vào bụi rậm vắt quần đùi cho khô, mặc quần dài vào rồi chạy một mạch về nhà.

Nàng

Về nhà buồn, mặc cảm. Nghĩ thân phận mồ côi nghèo hèn, thân mình còn lo còn không nổi, làm sao nghĩ đến lo cho nàng. Không thể giải thích cho nàng những điều khó nói, từ đó tôi không đến nhà nàng nữa. Gặp nàng xa xa, tôi tránh đi đường khác. Nếu không tránh được nàng, tôi làm mặt xa lạ như chưa bao giờ biết nhau. Năm sau, một gã thanh niên từ thành phố lên cưới nàng, đem cả gia đình nàng về thành phố. Từ đó không bao giờ tôi còn được găp lại nàng nữa.

Cuộc sống niềm vui thì ít, sự buồn thì nhiều. Cũng may, chúng tôi còn trẻ và không có nhiều giờ rãnh để buồn. Nhưng điều phiền phức thì khó có thể tránh né. Một trong những điều phiền phức đó là tôi không nhận ra được các em gái tôi đã lớn, đã thành thiếu nữ. Cho đến lúc thấy bọn con trai trong làng kéo đến nhà tôi chơi càng lúc càng đông, tôi mới biết. Ðó cũng là lúc tôi thấy trách nhiệm “Quyền huynh thế phụ” của mình nặng hơn cả trách nhiệm cơm gạo.

Ðiều phiền của tôi lúc đó là bọn công an, xã đội, du kích thôn xã. Mỗi tối chúng chia nhau đi tuần khắp làng, rồi trở về điểm hẹn tập trung là nhà tôi. Chắc vì nhà tôi không có người lớn. Chúng cứ gõ cửa xét nhà bất kể giờ giấc, bắt tôi thức dậy thắp đèn lên, chúng soi dọi đèn pin lên trần, dưới gầm, vào giường các em, bới móc thúng rỗ, nồi nêu, áo quần kể cả những miếng vải vụn của các em gái tôi chúng cũng không từ. Vừa lục soát như nhà không người, chúng vừa nói cười hô hố. Có nhiều đêm chúng ngồi trước sân nhà tôi, ăn uống cười nói oang oang, nồng nặc mùi rượu, hứng lên lại gõ cửa xét nhà.
Sợ nhất là mấy thằng say xỉn, phá làng phá xóm. Băng quậy phá toàn những đứa xưa chăn trâu xứ này. Lợi dụng chăn trâu, chúng bới cơm, đem thuốc nuôi cha ông, bà con của chúng là cán bộ, du kích trốn trong rừng. Bây giờ cha ông, bà con của chúng là Tỉnh Ủy, Huyện Ủy, Chủ Tịch, Công An, nhỏ nhất cũng Bí Thư Xã. Bọn chúng một chữ cũng không biết, không làm gì được, chỉ làm biếng nên suốt ngày rượu chè say sưa. Chuyện ăn hiếp người dân, phá làng phá xóm, muốn đánh ai thì đánh của chúng thì không sao kể hết được. Những ai không biết, nghe một hai chuyện của chúng thì đã khiếp, thấy đâu tránh đó. Một bận có nhóm bộ đội đóng quân khai thác gỗ gần làng, xuống làm quen con gái trong xóm. Nhóm bộ đội và tụi nó kình nhau, thấy bộ đội có súng nên chúng nhịn. Ðêm sau phục kích hai bộ đội trên đường về trại, chúng xông ra thủ sẵn tre vót nhọn đâm hai bộ đội chết tại chỗ. Cán bộ ở trên xuống bắt chúng về điều tra, mấy ngày sau thấy chúng về nhà phây phây, lại có thêm tiền nhậu lớn nữa. Từ đó chúng càng phá làng phá xóm hơn. Có lần sau khi nhậu say, chúng ra lịnh làm lễ “Tắt Ðèn”. Chẳng ai hiểu gì hết, sau mới biết là khi chúng đi đến xóm nào thì xóm đó phải tắt hết đèn, nếu nhà nào không tắt đèn, chúng sẽ xông vào đập phá nhà đó. Nhiều khi làm lụng ngoài nương rẩy về, vừa mới dọn cơm tối ra ăn, chưa kịp ăn mà nghe chúng đi ngoài đường gào lên “Tắt Ðèn!” thì phải tắt đèn ngay. Cũng may chúng chỉ làm lễ “Tắt Ðèn!”có vài lần thì chán không muốn chơi nữa. 

Em tôi

Bọn chúng cũng đến nhà tán tỉnh, chọc ghẹo các em gái tôi thường. Chúng xin đưa em gái tôi đi chơi, tôi không chịu, tụi nó tức lắm nhưng vì đang tán em gái tôi nên chúng nhịn. Theo hoài không được, chúng nó rình sáng sớm em tôi gánh rau Lang ra chợ bán. Bọn nó bao vây định cưỡng ép, em tôi vất gánh rau chạy về được. Tôi làm đơn kiện ra xã, thì ủy ban xã chỉ gọi hai bên lên giải hòa rồi thôi. Từ đó chúng hay tới nhà tôi quậy phá luôn, có lần đập phá đồ đạc, còn hăm dọa đốt nhà. Ði trình báo công an, công an cũng không tới giải quyết. Một hôm chúng đến bao vây nhà, đòi tôi đi mua rượu cho chúng uống. Tôi ngồi trên giường trả lời không có tiền, thì tên đầu đàn cung tay đánh một cùi chỏ vào giữa mặt tôi. Tôi té lật ngang, tay ôm mặt, không đau nhưng tôi choáng váng không thấy gì một thoáng. Ðịnh thần trở lại, tôi thấy máu từ trong mũi mình chảy ra đỏ cả mặt cả áo. Các em tôi khóc la kêu cứu xóm làng. Tay ôm mặt tôi gượng ngồi dậy trên giường như không có gì xảy ra. Thằng đầu đàn lại hỏi “Mày có chịu đi mua rượu không?” Tôi lắc đầu. Nó nắm tay lại giơ lên cao đấm vào đầu tôi, tôi bật ngửa, trong đầu máu như sôi lên nóng ran. Lồm cồm ngồi dậy, máu trong mũi tôi lại chảy ra. Thấy tôi ngồi lên, nó lại hất hàm hỏi tiền, tôi lại trả lời không có tiền. Thực sự là chúng tôi không có tiền, nhưng nó tưởng tôi ngoan cố. Nó vung chân đạp thẳng vào bụng tôi, tôi nghe miệng tôi thoát ra một tiếng “Hự” khô khan, ruột như rách ra. Tôi đứng dậy, cố giữ hai chân cho vững, tay vịn vào thành giường. Nó bước lui một bước, trợn mắt nhìn, tôi nói, Nếu các anh không muốn chúng tôi sống ở đây, ngày mai chúng tôi sẽ khăn gói ra đi. Chúng nó chửi tôi thêm mấy câu tục tỉu nữa, rồi kéo nhau đi. Tôi nằm vật ra giường, thấy mình mẩy đau quá, nhất là cái mũi. Nhìn lên trần nhà, vừa đau vừa ức, nước mắt tôi chảy ra ròng ròng không cầm được. Tôi khóc như một đứa con nít. Không biết sao, từ đó chúng không quậy phá nhà tôi nữa.

Một trong những niềm vui hiếm hoi, nhưng to lớn của chúng tôi là nhận được thư của ba tôi báo tin còn sống. Ba tôi hiện đang “cải tạo” tại trại tù thuộc tỉnh Thanh Hóa tận ngoài Bắc. Trong thư ba viết vẫn khỏe, khuyên chúng tôi cố gắng sống chờ ba về, và nếu có thể thì đi thăm ba một chuyến, hoặc gởi ít quà cho ba. Ðọc thư ba chúng tôi mừng quá, cứ như người bơi kiệt sức thấy bến bờ. Chúng tôi liền viết thư cho ba, tha hồ trút hết buồn đau, côi cút. Tôi quyết định phải đi thăm ba tôi một lần, nhưng tiền đâu, quà thăm nuôi đâu mà đi. Chúng tôi trở lại nghề ăn xin. Ông bà ngoại cho một bao cát (loại bao dùng đựng cát, làm hầm chống bom đạn) khoai lang luộc, xắt lát phơi khô. Ông bà nội cho con chó giữ nhà, làm thịt, đem kho mặn để ăn cho được lâu. Ông nội cũng còn cho một xị rượu đế, bỏ ít rể cây vào rồi ghi bên ngoài chai là rượu thuốc trị đau lưng. Chúng tôi đi đến các nhà bà con, người quen hay các bạn cũ của ba tôi mà chúng tôi biết để xin tiền. Cuối cùng cũng gom được ba bao cát quà nhỏ và một ít tiền. Quà thì chỉ khoai khô, sắn bột, gạo rang, bánh tráng và ít đường cát. Nói chung chỉ toàn sản phẩm của thôn quê. Tôi gánh hai bao, em gái tôi vác một bao cùng lên đường.

Ðường đi ra Bắc thăm cha thật gian nan không kể xiết. Trời lạnh, áo không đủ ấm, chúng tôi phải luôn quấn tấm nylon quanh mình, lúc đi cũng như khi ngủ. Chúng tôi hết đi tàu lửa, rồi đi xe hàng trăm cây số. Ði ghe qua sông, qua suối, lại đi bộ hằng mấy chục cây số mới đến được trại tù heo hút. Dọc đường gặp những người cũng đi thăm tù, thuê người gánh hàng bao tải thực phẩm. Hai anh em tôi nhìn lại ba bao quà tí xíu của mình mà buồn. Cán bộ nói sẽ cho cha con ăn chung một bữa cơm. Chúng tôi vội thổi cơm, nấu đồ ăn dọn sẵn chờ ba chúng tôi ra ăn. Ba tôi mặc bộ đồ tù đi ra, phải một lúc chúng tôi mới nhận ra nhau, rồi cứ ngồi nghẹn ngào khóc suốt cả buổi thăm nuôi. Nói chuyện không được bao nhiêu thì hết giờ. Tôi rút hết tiền ra trao cho ba tôi, chỉ chừa lại chút ít đủ để ăn trên đường về. Ba tôi tháo gỡ quà ra cho cán bộ xét, rồi cất gánh đi vào, đi vài bước lại quay nhìn chúng tôi. Ðợi ba tôi khuất bóng, chúng tôi chuẩn bị đi về. Trên đường ra khỏi trại tù “cải tạo”, tôi thấy nhiều người tù ăn mặc phong phanh cuốc đất trong cái rét kinh hồn của miền Bắc, cái rét mà người ta nói là cá cũng phải chết nổi lên mặt nước. Một người tù gìa đứng gần lề đường, nháy mắt với tôi chỉ vào một bụi rậm. Nhìn vào trong bụi cây, thấy một bó thư, tôi vội lượm nhét vào bụng. Nhìn quanh thấy yên, tôi cởi áo ấm và lấy tấm ni-lon dùng để che mưa gió của tôi nhét vào bụi rậm. Ði một đoạn tôi cúi xuống tháo đôi giầy vải ném vào lề đường. Mấy người tù gần đó thấy vậy vẫy tay chào cám ơn. Trên đường về chúng tôi nhẹ nhàng quá, không còn gì. Nhưng càng đi càng lạnh, máu ở bàn chân như đông cứng lại. Chân tôi từ từ sưng đỏ lên, không còn cảm giác. Ðường về càng dài hơn, phần không có tiền đi xe đành đi bộ, phần chân đau cứ đi vài cây số lại phải nghĩ. Chúng tôi quá giang xe, đi tàu chui (không vé) về tới thành phố Vinh thì may sao gặp một chiếc tàu chở than đá vào Huế. Chúng tôi nằm lăn trên than ngủ vùi. Ðến Huế chúng tôi nhảy xuống sông Hương, tắm rữa cho sạch bụi than. Rồi lại đi tàu chui mà về Nam . Về đến nhà hai bàn chân tôi sưng đỏ, căng bóng lên hết mấy tuần. Cứ mỗi lần nhìn vào hai bàn chân sưng húp, đỏ như hai bắp chuối sứ, là tôi lại chảy nước mắt vì sợ và nhớ ba tôi. Gần mười năm ba tôi ở tù “cải tạo”, chúng tôi chỉ đi thăm được hai lần như vậy.

Kinh tế mới này ruộng thì ít, rừng rẫy thì nhiều vậy mà cũng bị đưa vào hợp tác xã nên đời sống ở đây càng tệ hại hơn. Người làm lụng trực tiếp thì ít, người lao động gián tiếp thì nhiều. Nông dân chỉ làm lấy lệ, vì làm điểm nhiều nhưng lúa gạo chẳng bao nhiêu. Nhân số cán bộ sấp sỉ nhân số xã viên. Từ tổ trưởng, tổ phó lên đội trưởng, đội phó. Từ thôn trưởng, thôn phó lên xã trưởng, xã phó. Rồi còn kiểm soát tổ, đội, thư ký, kế toán, thủ trưởng (chủ nhiệm hợp tác xã), thủ phó, thủ qủy, thủ kho v.v.. Nói chung đi đâu cũng đụng cán bộ. Cán bộ chẳng làm gì, ôm cặp sách chỉ tay năm ngón. Cán bộ chỉ đi bắt bớ, đi tán dóc, tán gái, la cà uống cà phê. Vậy mà cuối vụ, lãnh lúa gạo vẫn nhiều hơn xã viên. Mấy năm sau hợp tác xã giải tán, cán bộ chia nhau đất ruộng tốt, dành cho nông dân xã viên phần ruộng xa đất xấu.

Phần anh em chúng tôi cũng vậy, sống nhờ rừng nhờ suối. Sống trong rừng riết, chúng tôi biết nhìn cây, nhìn rong rêu đoán hướng đi. Biết bẫy thú rừng để ăn. Biết phân biệt rau qủa rừng nào ăn được, cái nào không. Nấm nào độc, nấm nào lành. Vào rừng không có nước biết chặt cây lấy nước uống. Hái trái rừng làm xà phòng giặc áo quần... Tóm lại chúng tôi cứ như là sinh trưởng trong rừng vậy, chẳng còn chút hơi hướng thành phố. Thế mà anh em chúng tôi cũng có vài lần suýt chết vì rắn rết chui vào gầm giường, vì ăn trúng độc. Có một lần đào được mấy củ nần, đem ngâm dưới suối chưa tan hết chất độc, đói quá luộc lên ăn. Trưa hôm ấy cả mấy anh em đều lăn ra hôn mê không còn biết gì. May có người đi rừng ngang qua, báo bà con dưới xóm lên cứu chữa. Cũng có lần ăn hột đậu rựa, vì không làm kỹ, anh em tôi chóng mặt, nhức đầu, ói mửa nằm la liệt. May bữa đó tôi ăn ít, tuy có say sẫm nhưng cũng còn sức đi xuống kêu cứu với xóm làng.

Cuối cùng ba tôi cũng được thả về. Ba tôi đi thăm ông bà nội ngoại, rồi gom các em nhỏ cùng về xum họp một nhà. Chúng tôi mừng lắm, nhất là tôi, như trút bỏ được gánh nặng, thấy từ đây cuộc sống sẽ khá hơn. Ba tôi vừa làm cha vừa đóng vai mẹ. Sắp xếp việc trong việc ngoài, nấu nướng bữa ăn hằng ngày cho chúng tôi đi rừng kiếm gạo, kiếm tiền. Tưởng rằng cuộc sống sẽ tốt hơn, nhưng không nó cũng vậy mà còn tệ hơn. Ở vùng kinh tế mới này ba tôi là người có cấp bực lớn nhất của chế độ cũ đi tù về, nên du kích, công an hay rình mò, mời lên mời xuống hoài. Nhà thì nhỏ, người thì đông, ba tôi lấy tre làm thêm giường. Nhà thêm người nhưng gạo tiền, khoai sắn chẳng thêm ra. Ba tôi gần mười năm trong tù đã quen nếp sống đói khổ một mình. Nay ra ngoài thấy cuộc sống khó khăn hơn, đói khổ một nhà nên đâm ra khó tính, gắt gỏng la mắng anh em tôi suốt ngày. Chúng tôi cứ nghĩ dại, chắc ba bị tiêm thuốc tẩy não nên tính tình mới thay đổi như vậy. Cuộc sống cha con, anh em chúng tôi cứ trôi qua trong căng cứng phiền muộn, no đầy tủi cực.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện H.O. Ba tôi sợ, không tin cộng sản nên không chịu làm giấy tờ ra đi. Bởi vì có mấy người bạn cùng tù “cải tạo”của ba tôi, loan báo tin tức chương trình H.O. trước khi nhà nước công bố nên bị bắt đi tù trở lại. Sau này nhiều người đã đi Mỹ rồi, ba tôi cũng không nhúc nhích gì. Cho đến lúc ông bác họ của ba tôi qua Mỹ gởi thư về nhiều lần khuyên bảo, ba tôi mới muộn màng đi tìm hiểu lo thủ tục giấy tờ xuất cảnh. Cái khó khăn bấy giờ của cha con chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục. Ba cùng tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn. Ðược chừng nào thì lo chừng đó, thiếu lại chạy đi xin, đi mượn nữa. Thật tình cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy. Làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn làm sao đi được, chỉ cầu may. Chúng tôi cứ nghĩ rằng, kiếp chúng tôi không thể nào thoát khỏi cảnh rừng rú này.

Chờ đợi mấy năm, nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn, gia đình chúng tôi vẫn không tin là thật. Cứ như mơ chúng tôi chạy vay tiền bạc, vào Sài Gòn phỏng vấn, khám sức khỏe. Lòng luôn phập phồng lo lắng trục trặc hay có sự gì đổi thay. Số chúng tôi luôn không được suông sẽ, phải ở lại thêm sáu tháng để tôi uống thuốc chữa bịnh phổi. Cái khó của chúng tôi là không tiền và ở ngoài Trung quá xa Sài Gòn. Ðành chấp nhận, chạy ra chạy vô, chắp vá tiền bạc. Cuối cùng chúng tôi cũng bò lết tới được ngày ra đi.

Dù không biết ngày mai ra sao, không nghề nghiệp, học vấn, tiếng Anh không có gì, chúng tôi cũng có lo lắng qua Mỹ làm gì để sống. Nhưng chắc một điều là sẽ sung sướng, tự do hơn ở đây rất nhiều, nên chúng tôi thấp thỏm chờ đợi ngày đi. Ngày đi Mỹ đã tới, chúng tôi bỏ nguyên lại nhà cửa, vật dụng, bỏ lại những thứ rách rưới đã bao năm cùng chúng tôi. Vài bộ áo quần vào Sài Gòn, như là hành trang bước vào một giấc mơ. Chỉ sợ khi tỉnh giấc, lại phải quay về vùng kinh tế mới sống nốt đời hoang dã.

Ðiều may mắn hiếm hoi đến trong cuộc sống mọn hèn của chúng tôi, làm chúng tôi không dám tin rằng, đời mình mà cũng có ngày hôm nay. Ngồi trên máy bay rồi, tôi cũng chưa chắc sẽ được đi Mỹ. Cho đến lúc máy bay rời khỏi mặt đất, tôi mới dám nói lờiVĩnh biệt kinh tế mới.

Phước An

                                                                                                                      communion

NỘI DUNG VÀ LỊCH TRÌNH HỌC GIÁO LÝ TÂN TÒNG
NIÊN KHÓA 2017-2018

Chú ý:

Bạn muốn có Sách Giáo Lý Youcat mới nhất của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Việt,

Xin vào trang Web Giáo Lý Youcat tiếng Việt (ở phiá trái trang suyniem.com home này, trong phần những trang web hay)

để lấy toàn bộ Cuốn Giáo Lý Youcat bằng tiếng Việt khi bấm vào      

=> Tài liệu dạng PDF, nhấn vào đây để tải về máy  do Lm. Antôn Nguyễn Mạnh Đồng (GP Cần Thơ)

dịchToàn bộ Sách Giáo Lý dành cho người trẻ (Youcat)

Giờ học Giáo Lý Dự Tòng:  Chúa Nhạt từ 2 đến 4 giờ chiều hàng tuần.
Chúa Nhật 3 tháng 9 năm 2017
1. Ta sống ở đời này để làm gì ?
2. Tại sao Thiên Chúa dựng nên ta ?
3. Tại sao chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa ?
4. Ta có thể biết được Thiên Chúa hiện hữu nhờ lý trí không ?
5. Tại sao có người lại từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa, đang khi người ta có thể nhận biết Người bằng lý trí ?
6. Ta có thể thực sự hiểu biết và có thể nói đúng về Thiên Chúa không ?
7. Thiên Chúa có phải tỏ mình ra để ta có thể biết Người là ai không ?
8. Thiên Chúa tỏ mình ra trong Cựu ước thế nào ?
9. Thiên Chúa tỏ ra điều gì về chính Người khi gởi Con của Người đến với chúng ta ?
10. Qua Chúa Giêsu Kitô, mọi sự đã được mặc khải trọn vẹn hay vẫn còn tiếp tục sau khi Người về trời ?
11. Tại sao chúng ta phải loan truyền đức tin ?
12. Làm sao ta biết được đâu là đức tin chân chính ?
13. Hội Thánh có thể sai lầm trong lãnh vực đức tin không ?
14. Những gì Kinh Thánh viết có xác thực không ?
15. Kinh Thánh có thể là chân lý sao được, vì trong đó có những điều không chính xác ?
16. Làm thế nào để đọc Kinh Thánh cho đúng ?
17. Kinh Thánh Cựu ước có ý nghĩa gì đối với các Kitô hữu ?
18. Kinh Thánh Tân ước có ý nghĩa gì đối với các Kitô hữu ?
19. Kinh Thánh giữ vai trò nào trong Hội Thánh ?
20. Chúng ta có thể trả lời Thiên Chúa thế nào khi Người nói với chúng ta ?
Chúa Nhật 10 tháng 9 năm 2017
21. Đức tin là gì ?
22. Tin nghĩa là gì ?
23. Có sự xung khắc giữa đức tin với khoa học không ?
24. Đức tin của tôi có liên quan gì đến Hội Thánh ?
25. Tại sao đức tin đòi có định nghĩa và cần công thức hóa thành những tín biểu ?
26. Kinh Tin kính là gì ?
27. Kinh Tin kính có từ khi nào ?
28. Kinh Tin kính Các thánh tông đồ dạy gì ?
29. Kinh Tin kính Công đồng Nixêa (Nixêa-Côngtantinốp) dạy gì ?
30. Tại sao chúng ta tin chỉ có Một Thiên Chúa ?
31. Tại sao Thiên Chúa tự cho mình một tên gọi ?
32. Khi nói Thiên Chúa là Đấng Chân thật có nghĩa là gì ?
33. Khi nói Thiên Chúa là Tình yêu có nghĩa là gì ?
34. Bạn sẽ làm gì khi bạn đã nhận biết Thiên Chúa ?
35. Chúng ta tin vào 1 Thiên Chúa hay 3 Thiên Chúa ?
36. Chúng ta có thể nhờ suy đoán mà kết luận rằng Thiên Chúa là Ba ngôi không ?
37. Tại sao lại gọi Thiên Chúa là "Cha "?
38. Chúa Thánh Thần là Ai ?
39. Chúa Giêsu có phải là Thiên Chúa không ? Người có thuộc về Ba Ngôi không ?
40. Thiên Chúa có thể làm bất cứ việc gì không? Người có Toàn năng không ?
Chúa Nhật 17 tháng 9 năm 2017
41. Khoa học có làm cho Đấng Tạo thành ra dư thừa không ?
42. Có thể vừa chấp nhận thuyết tiến hóa, vừa tin vào Đấng Tạo thành không ?
43. Thế giới này có phải là sản phẩm của “ngẫu nhiên” không ?
44. Ai sáng tạo thế giới ?
45. Luật tự nhiên và hệ thống tự nhiên của mọi vật cũng dobởi Thiên Chúa sao ?
46. Tại sao sách Sáng thế mô tả sự sáng tạo như là "công trình 6 ngày"?
47. Tại sao Thiên Chúa lại nghỉ việc vào ngày thứ Bảy ?
48. Thiên Chúa có ý định gì khi sáng tạo thế giới ?
49. Thiên Chúa có điều khiển thế giới và đời sống tôi không ?
50. Con người đóng vai trò nào trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa ?
51. Nếu Thiên Chúa biết mọi sự và có thể làm được mọi sự, tại sao Người không ngăn cản được sự dữ ?
52. Trời là gì ?
53. Hỏa ngục là gì ?
54. Thiên thần là ai vậy ?
55. Ta có thể giao tiếp với các thiên thần không ?
56. Con người có một chỗ đặc biệt trong việc sáng tạo của Thiên Chúa không ?
57. Con người phải đối xử với loài vật và các vật khác thế nào ?
58. Con người được dựng nên theo "hình ảnh Thiên Chúa" nghĩa là gì ?
59. Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người ?
60. Tại sao Chúa Giêsu lại là mẫu gương tuyệt vời nhất thế giới ?
Chúa Nhật 24 tháng 9 năm 2017 
61. Do đâu mọi người bình đẳng với nhau ?
62. Linh hồn là gì vậy ?
63. Do đâu con người có linh hồn ?
64. Tại sao Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ ?
65. Người có khuynh hướng đồng tính luyến ái thì sao ?
66. Trong kế hoạch, Thiên Chúa có định cho con người phải đau khổ và phải chết không ?
67. Tội là gì ?
68. Tội Tổ tông truyền là gì ? Tội Tổ tông Ađam Evà có liênhệ gì với chúng ta ?
69. Vì mắc tội Tổ tông, chúng ta có bị bó buộc phải phạm tội không ?
70. Thiên Chúa kéo chúng ta ra khỏi vòng xoáy của sự dữ thế nào ?
71. Tại sao những sách viết về Chúa Giêsu lại gọi là Phúc âm hoặc Tin Mừng ?
72. Tên Giêsu nghĩa là gì ?
73. Tại sao gọi Đức Giêsu là Kitô ?
74. Khi nói Đức Giêsu là "Con một Thiên Chúa" có nghĩa là gì ?
75. Tại sao Kitô hữu gọi Đức Giêsu là Chúa ?
76. Tại sao Thiên Chúa lại nhập thể nơi Đức Giêsu ?
77. Khi nói Chúa Giêsu Kitô "vừa là Thiên Chúa thật lại vừa là người thật" nghĩa là gì ?
78. Tại sao chúng ta chỉ hiểu được Chúa Giêsu như là một mầu nhiệm ?
79. Chúa Giêsu có linh hồn, tâm trí và thân xác như chúng ta không ?
80. Tại sao Đức Maria Đồng trinh ?
Chúa Nhật 1 tháng 10 năm 2017 
81. Ngoài Chúa Giêsu ra, Đức Maria còn có những người con khác nữa không ?
82. Gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa có chướng tai không ?
83. Gọi Đức Maria "Vô nhiễm Nguyên tội" nghĩa là gì ?
84. Có phải Đức Maria chỉ là dụng cụ trong tay Thiên Chúa không ?
85. Tại sao Đức Maria cũng là Mẹ chúng ta nữa ?
86. Tại sao Chúa Giêsu đã chờ đến 30 tuổi mới đi giảng đạo công khai ?
87. Tại sao Chúa Giêsu để ông Gioan Tiền hô làm phép rửa cho mình, dù Người chẳng có tội gì?
88. Tại sao Chúa Giêsu lại chịu cám dỗ ? Người có thể chịu cám dỗ thực sao ?
89. Chúa Giêsu hứa "Nước Thiên Chúa" cho những ai ?
90. Chúa Giêsu có thực đã làm các phép lạ hay đó chỉ là những huyền thoại đạo đức ?
91. Tại sao Chúa Giêsu làm các phép lạ ?
92. Chúa Giêsu kêu gọi các tông đồ để làm gì ?
93. Tại sao Chúa Giêsu biến hình trên núi ?
94. Chúa Giêsu có biết Người sẽ chết khi vào thành Giêrusalem không ?
95. Tại sao Chúa Giêsu chọn ngày lễ Vượt qua của người Do thái để chịu chết và sống lại?
96. Tại sao con người hòa bình như Chúa Giêsu lại bị xử chết trên thập giá?
97. Người Do thái có trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu không?
88. Thiên Chúa có muốn cho Con của Người phải chết không ?
99. Khi Chúa Giêsu ăn Bữa Tiệc Ly với các tông đồ, đã xảy ra những chuyện gì ?
100. Vào đêm trước khi chết, trên núi Cây dầu, có phải Chúa Giêsu đã thực sự cảm thấy kinh hoàng trước cái chết không ?
Chúa Nhật 8 tháng 10 năm 2017
101. Tại sao Chúa Giêsu phải cứu chuộc chúng ta bằng cái chết trên thánh giá, mà không dùng cách khác ?
102. Tại sao chúng ta cũng phải chấp nhận đau khổ trong cuộc sống, phải "vác thập giá mình mà theo Chúa Giêsu" ?
103. Chúa Giêsu có chết thật không? hay Người chỉ "làm bộ chết" để còn sống lại ?
104. Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không ?
105. Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại ?
106. Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không ?
107. Sau khi sống lại Chúa Giêsu có mang cùng một thân xác như trước khi Người qua đời không ?
108. Thế giới đã có biến đổi gì nhờ việc Chúa Giêsu sống lại ?
109. Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì ?
110. Tại sao Chúa Giêsu Kitô là Chúa của cả vũ trụ ?
111. Đến ngày tận thế sẽ ra như thế nào ?
112. Nói rằng Chúa Giêsu đến để xét xử chúng ta và xét xử toàn thế giới, nghĩa là thế nào ?
113. "Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần" nghĩa là gì ?
114. Chúa Thánh Thần có vai trò nào trong đời sống Chúa Kitô ?
115. Chúa Thánh Thần được biết đến qua tên gọi và dưới những hình dạng nào ?
116. Chúa Thánh Thần đã "nói qua các tiên tri" nghĩa là gì ?
117. Chúa Thánh Thần đã hành động trong, với, và qua Đức Mẹ Maria thế nào ?
118. Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống đã xảy ra chuyện gì ?
119. Chúa Thánh Thần hoạt động trong Hội Thánh như thế nào ?
120. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong đời tôi ?
Chúa Nhật 15 tháng 10 năm 2017
121. Hội Thánh nghĩa là gì ?
122. Tại sao Thiên Chúa muốn có Hội Thánh ?
123. Nhiệm vụ của Hội Thánh là gì ?
124. Tại sao Hội Thánh còn hơn là một tổ chức ?
125. Dân Thiên Chúa có những đặc tính nào ?
126. Nói Hội Thánh là "Thân thể của Chúa Kitô" nghĩa là gì ?
127. Nói Hội Thánh là "Hiền thê Chúa Kitô" nghĩa là gì ?
128. Nói Hội Thánh là "Đền thờ của Chúa Thánh Thần" nghĩa là gì ?
129. Tại sao Hội Thánh có đặc tính là Duy nhất ?
130. Các Kitô hữu "không Công giáo" có là anh chị em với chúng ta không ?
131. Chúng ta phải làm gì cho việc hợp nhất Kitô hữu ?
132. Tại sao Hội Thánh có đặc tính là Thánh Thiện ?
133. Tại sao Hội Thánh có đặc tính là công giáo ?
134. Ai thuộc về Hội Thánh Công giáo ?
135. Hội Thánh Công giáo có quan hệ nào với dân Do Thái ?
136. Hội Thánh nhìn thế nào về những tôn giáo khác ?
137. Tại sao Hội Thánh có đặc tính là tông truyền ?
138. Hội Thánh tổ chức thế nào để có 4 đặc tính: duy nhất, thánh thiện, công giáo, tông truyền ?
139. Ơn gọi của giáo dân là gì ?
140. Tại sao Hội Thánh của Chúa Kitô không là một tổ chức dân chủ ?
Chúa Nhật 22 tháng 10 năm 2017
141. Nhiệm vụ của Đức Giáo hoàng là gì ?
142.Các Giám mục có thể hành động và dạy dỗ những điều ngược với Giáo hoàng,còn Giáo hoàng có thể làm như vậy với các Giám mục không ?
143. Đức Giáo hoàng có ơn vô ngộ (không thể sai lầm) thực không ?
144. Nhiệm vụ của Giám mục là gì ?
145. Tại sao Chúa Giêsu muốn có những Kitô hữu cam kết sống trọn đời trong bậc tu trì qua các lời khấn độc thân, nghèo khó, vâng phục ?
146. Khi nói "Các thánh thông công" nghĩa là gì ?
147. Tại sao Đức Maria lại có một chỗ cao vượt trong mầu nhiệm "Các Thánh thông công" ?
148. Đức Mẹ có thực sự cứu giúp chúng ta không ?
149. Ta có được thờ kính Đức Maria không ?
150. Hội Thánh Công giáo có thực sự tha tội được không ?
151. Hội Thánh tha thứ tội lỗi như thế nào ?
152. Tại sao chúng ta tin người chết sẽ sống lại ?
153. Tại sao ta tin "xác sẽ sống lại" ?
154. Khi ta chết, xảy ra điều gì ?
155. Nếu ta trông cậy vào Chúa Kitô, Người sẽ giúp ta thế nào vào lúc ta chết ?
156. Sự sống vĩnh hằng là gì ?
157. Chúng ta có phải chịu xét xử sau khi chết không ?
158. Trời là gì ?
159. Luyện ngục là gì ?
160. Ta có thể giúp được các linh hồn ở Luyện ngục không ?
Chúa Nhật 29 tháng 10 năm 2017
161. Hỏa ngục là gì ?
162. Nếu Thiên Chúa là Tình yêu thì sao lại có Hỏa ngục ?
163. Sự xét xử cuối cùng (phán xét chung) là gì ?
164. Thế giới sẽ tận cùng thế nào ?
165. Tại sao chúng ta đọc "Amen" vào cuối kinh Tin kính ?
166. Tại sao Hội thánh thường hay cử hành phụng vụ ?
167. Phụng vụ là gì ?
168. Tại sao phụng vụ lại chiếm địa vị ưu tiên trong đời sống Hội Thánh và trong đời sống mỗi người chúng ta ?
169. Khi chúng ta cử hành phụng vụ, điều gì đã xảy ra cho chúng ta ?
170. Nguồn gốc cốt lõi nhất của phụng vụ là gì ?
171. Điểm chính yếu của mọi phụng vụ là gì ?
172. Có mấy bí tích, tên là gì ?
173. Tại sao chúng ta phải cần đến các Bí tích ?
174. Tại sao tin vào Chúa Giêsu không đủ, Thiên Chúa còn cho chúng ta các bí tích nữa ?
175. Tại sao các Bí tích lại thuộc về quyền Hội thánh ? Tại sao người ta không thể lãnh như người ta muốn ?
176. Bí tích nào chỉ được lãnh một lần trong đời ?
177. Tại sao khi nhận lãnh bí tích, cần có lòng tin trước ?
178. Nếu bí tích được người không xứng đáng cử hành, bí tích có mất đi hiệu quả không?
179. Ai cử hành phụng vụ ?
180. Tại sao phụng vụ được coi như là công trình của Thiên Chúa ?
Chúa Nhật 5 tháng 11 năm 2017
181. Tại sao có quá nhiều dấu hiệu và biểu tượng trong phụng vụ ?
182. Tại sao các dấu hiệu thánh của phụng vụ cũng cần có những lời nói nữa ?
183. Tại sao trong phụng vụ còn có âm nhạc. Loại nhạc nào thích hợp với phụng vụ ?
184. Phụng vụ tác động đến thời gian như thế nào ?
185. Tại sao phụng vụ lặp lại hàng năm ?
186. Năm Phụng vụ của Hội Thánh là gì ?
187. Ngày Chúa nhật quan trọng thế nào ?
188. Phụng vụ Các Giờ kinh (PVCGK) là gì ?
189. Phụng vụ có cần đến những nơi chốn để cử hành phụng vụ không ?
190. Nhà thờ của Kitô hữu có ý nghĩa gì ?
191. Trong Nhà thờ nơi nào chiếm ưu tiên ?
192. Hội Thánh có thể thay đổi và canh tân phụng vụ không ?
193. Có một liên kết hữu cơ giữa các bí tích không ?
194. Bí tích Rửa tội là gì ?
195. Bí tích Rửa tội được cử hành thế nào ?
196. Ai có thể được rửa tội, và người được rửa tội cần điều gì?
197. Tại sao Hội thánh lại rửa tội con nít ?
198. Ai được làm phép Rửa tội ?
199. Bí tích Rửa tội có phải là cách duy nhất để được cứu rỗi không ? |
200. Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội ?
Chúa Nhật 12 tháng 11 năm 2017
201. Khi lãnh bí tích Rửa tội, người ta nhận một tên, điều này có ý nghĩa gì ?
202. Tại sao Kitô hữu chọn tên thánh khi Rửa tội ?
203. Bí tích Thêm sức là gì ?
204. Kinh Thánh nói gì về bí tích Thêm sức?
205. Người lãnh bí tích Thêm sức được hưởng những gì ?
206. Ai được lãnh bí tích Thêm sức? Họ phải chuẩn bị thế nào?
207. Ai được ban bí tích Thêm sức ?
208. Bí tích Thánh Thể là gì ?
209. Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể khi nào ?
210. Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể thế nào ?
211. Bí tích Thánh Thể đối với Hội thánh quan trọng thế nào?
212. Bữa Tiệc của Chúa Giêsu với chúng ta được gọi tên là gì và có ý nghĩa gì ?
213. Những phần chính của Thánh lễ là phần nào ?
214. Cơ cấu Thánh lễ như thế nào ?
215. Ai làm chủ-sự việc Cử hành Thánh lễ ?
216. Chúa Giêsu hiện diện cách nào khi Thánh lễ được cử hành ?
217. Khi Thánh lễ được cử hành, điều gì xảy ra cho Hội Thánh?
218. Chúng ta phải làm gì cho xứng đáng để tôn sùng Chúa hiện diện trong hình bánh và hình rượu ?
219. Người Công giáo thường phải tham dự bao nhiêu Thánh lễ ?
220. Tôi cần dọn mình cách nào để có thể lên Rước lễ?
Chúa Nhật 19 tháng 11 năm 2017
221. Việc rước lễ thay đổi tôi thế nào ?
222. Có thể cho người không phải là Công giáo rước lễ được không?
223. Việc rước lễ cho ta được sự sống đời đời như thế nào ?
224. Tại sao Chúa Giêsu ban cho chúng ta bí tích Sám hối -Giao hòa và Xức dầu bệnh nhân ?
225. Bí tích Sám hối và Giao hòa còn có những tên gọi nào?
226. Qua bí tích Rửa tội, chúng ta đã được giao hòa với Thiên Chúa, vậy tại sao còn cần đến một bí tích Giao hòa riêng rẽ nữa ?
227. Ai đã lập ra bí tích Sám hối – Giao hòa ?
228. Ai có quyền tha tội ?
229. Điều gì đưa người ta đến chỗ ăn năn thống hối ?
230. Việc đền tội là gì ?
231. Đâu là 2 điều kiện căn bản để Kitô hữu được tha tội ?
232. Trước khi vào toà xưng tội, tôi phải làm gì ?
233. Phải xưng những tội nào ?
234. Khi nào người Công giáo buộc phải xưng những tội nặng ?
235. Tôi có được xưng tội, nếu không có tội nặng không ?
236. Tại sao chỉ có Linh mục mới được tha tội ?
237. Có tội nào nặng đến nỗi Linh mục bình thường không tha được không ?
238. Linh mục, sau khi giải tội có được nói ra điều mình biết trong tòa Giải tội không ?
239. Hiệu quả tích cực của bí tích Giải tội là gì?
240. "Bệnh tật" được hiểu như thế nào trong Cựu ước ?
Chúa Nhật 3 tháng 12 năm 2017 
241. Tại sao Chúa Giêsu tỏ ra quan tâm đến các bệnh nhân nhiều đến thế ?
242. Tại sao Giáo hội phải chăm sóc cách riêng cho người bệnh?
243. Ai được lãnh Bí tích Xức dầu bệnh nhân ?
244. Bí tích Xức dầu bệnh nhân được trao ban thế nào ?
245. Bí tích Xức dầu bệnh nhân ban những ơn nào?
246. Ai được ban bí tích Xức dầu bệnh nhân ?
247. "Của ăn đàng" nghĩa là gì ?
248. Tên của các bí tích phục vụ sự hiệp thông trong Hội thánh là gì?
249. Bí tích Truyền Chức Thánh gồm những cấp bậc nào?
250. Việc truyền chức Giám mục có ý nghĩa thế nào?
251. Giám mục quan trọng thế nào đối với một Kitô hữu Công giáo ?
252. Bí tích Truyền Chức Thánh ban ơn gì ?
353. Tại sao ta thờ phượng Thiên Chúa ?
254. Việc truyền chức linh mục ban ơn gì ?
255. Việc truyền chức phó tế ban ơn gì?
256. Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh ?
257. Nếu chỉ có nam giới được lãnh bí tích Truyền Chức Thánh thì nữ giới có bị kỳ thị không?
258. Tại sao Hội Thánh Công giáo đòi các linh mục và Giám mục sống đời độc thân ?
259. Chức linh mục tổng quát của các tín hữu khác với chức linh mục do chức thánh thế nào ?
260. Tại sao Thiên Chúa tạo dựng có người nam và người nữ cho nhau ?
Chúa Nhật 10 tháng 12 năm 2017
261. Bí tích Hôn phối được thực hiện thế nào?
262. Điều gì cần để lãnh bí tích Hôn phối ?
263. Tại sao Hôn phối không thể phân ly (bất khả phân) ?
264. Điều gì đe dọa đôi Hôn phối ?
265. Có phải mọi người đều được kêu gọi sống bậc Hôn nhân không ?
266. Hôn nhân Kitô giáo được cử hành thế nào?
267. Phải làm gì khi một người Công giáo muốn kết hôn với một Kitô hữu không Công giáo?
268. Người Công giáo có được kết hôn với một người khác đạo không ?
269. Vợ chồng không còn hợp ý, luôn "gây chiến" với nhau có được li dị không ?
270. Hội thánh có lập trường thế nào với những người li dị rồi tái hôn ?
271. Khi nói gia đình là Hội thánh thu nhỏ nghĩa là gì ?
272. Các Á Bí tích là gì ?
273. Hội thánh vẫn còn trừ quỉ sao ?
274. Việc "Đạo đức bình dân" quan trọng thế nào ?
275. Có được tôn kính các thánh tích không ?
276. Đi "Hành hương" có mục đích gì ?
277. Chặng đường Thánh giá là gì?
278. Việc an táng Kitô hữu có đặc điểm gì?
279. Tại sao ta cần đức tin và các bí tích để sống đời sống tốt lành và ngay thẳng ?
280. Đối với Kitô hữu, nền tảng của phẩm giá con người là gì?
Chúa Nhật 17 tháng 12 năm 2017
281. Tại sao ta khao khát được hạnh phúc ?
282. Kinh Thánh có cho ta biết đường dẫn đến hạnh phúc không ?
283. Các mối phúc là những mối nào ?
284. Tại sao các mối phúc lại quan trọng ?
285. Hạnh phúc đời đời là gì ?
286. Tự do là gì và tại sao ta có tự do ?
287. Ta có thể chọn sự xấu, có phải đó là ta có tự do không?
288. Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm không ?
289. Ta có được cứ để cho một người dùng tự do theo ý họ, dù họ chọn làm điều xấu không ?
290. Thiên Chúa giúp ta thành người "tự do" thế nào?
291. Làm sao một người có thể phân biệt được hành động của mình tốt hay xấu?
292. Người ta có thể làm việc xấu để sinh ra kết quả tốt không ?
293. Tại sao Thiên Chúa cho ta có "đam mê" hoặc "cảm xúc"?
294. Ta thấy mình có những đam mê mạnh mẽ thì ta có tội không ?
295. Lương tâm là gì ?
296. Ta có thể ép buộc ai làm gì trái với lương tâm mình không ?
297. Ta có thể huấn luyện lương tâm mình không?
298. Người làm điều xấu nhưng theo lương tâm ngay thẳng thì có tội trước mặt Chúa không ?
299. Nhân đức nghĩa là gì ?
300. Tại sao ta phải tập luyện tư cách ?
Chúa Nhật 7 tháng 1 năm 2018
301. Làm sao để được khôn ngoan ?
302. Người công bằng là người thế nào ?
303. Người can đảm là người thế nào ?
304. Tại sao tiết độ là nhân đức ?
305. Ba nhân đức đối với Thiên Chúa là những nhân đức nào ?
306. Tại sao tin, cậy, mến là nhân đức ?
307. Đức tin là gì ?
308. Đức cậy là gì ?
309. Đức mến là gì ?
310. Bảy ơn Chúa Thánh Thần là những ơn nào ?
311. Hoa quả của Chúa Thánh Thần là gì ?
312. Làm sao ta biết được mình là kẻ tội lỗi ?
313. Tại sao tội nhân phải hướng về Chúa để xin ơn tha thứ ?
314. Làm sao ta biết Thiên Chúa là Đấng Thương xót ?
315. Tội là gì ?
316. Làm sao phân biệt tội nặng với tội nhẹ ?
317. Làm thế nào người phạm tội nặng có thể nối kết lại với Chúa được ?
318. Thói xấu là gì ?
319. Ta có trách nhiệm về tội của người khác không?
320. Có cơ cấu tội lỗi không?
Chúa Nhật 14 tháng 1 năm 2018
321. Một Kitô Hữu có phải là một cá nhân thuần túy không ?
322. Xã hội hay cá nhân bên nào quan trọng hơn ?
323. Trong xã hội, cá nhân có thể được tự do phát triển như thế nào ?
324. Xã hội nên dựa trên nguyên tắc nào ?
325. Quyền bính trong xã hội nên dựa trên căn bản nào?
326. Khi nào gọi là quyền bính hợp pháp?
327. Công ích được thực hiện thế nào ?
328. Cá nhân có thể góp phần cho công ích thế nào ?
329. Trong xã hội, làm thế nào để có công bằng xã hội ?
330. Mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa thế nào ?
331. Tại sao trong loài người lại có những sự bất bình đẳng?
332. Kitô hữu nên tỏ tình liên đới với những người khác như thế nào ?
333. Có luật tự nhiên nào mà mọi người đều có thể biết không?
334. Luật tự nhiên và luật Cựu ước liên kết với nhau thế nào ?
335. Luật Cựu Ước quan trọng thế nào ?
336. Chúa Giêsu coi Luật Cựu Ước có giá trị thế nào ?
337. Chúng ta được cứu rỗi thế nào ?
338. Ơn thánh là gì ?
339. Ơn thánh Chúa làm gì cho ta ?
340. Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào ?
Chúa Nhật 21 tháng 1 năm 2018
341. Người ta có thể nhờ làm việc lành mà lên Thiên đàng không ?
342. Mọi người chúng ta có thể nên "thánh" được không ?
343. Hội thánh giúp ta nên người tốt, và người có trách nhiệm thế nào ?
344. Tại sao Hội thánh lại can thiệp vào những vấn đề luân lý và về phẩm hạnh của cá nhân ?
345. Năm Điều răn của Hội thánh là điều nào?
346. Điều răn của Hội thánh có mục đích gì? Buộc những ai giữ ?
347. Tại sao Kitô hữu "sống đạo đức nước đôi (hai mặt)" lại là điều thiếu sót nặng ?
348. "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời”?
349. Mười Điều Răn là những điều nào ?
350. Mười Điều răn có phải là bản danh sách do ngẫu nhiên tập hợp lại không ?
351. Mười Điều Răn có phải lỗi thời rồi không?
352. "Ta là Thiên Chúa, Chúa ngươi" (Ex 20, 2) nghĩa là gì ?
353. Tại sao ta thờ phượng Thiên Chúa ?
354. Ta có thể cưỡng ép người khác tin Thiên Chúa không ?
355. "Ngươi sẽ không có thần lạ trước mắt Ta" nghĩa là gì ?
356. Chủ nghĩa bí truyền có phù hợp với đức tin Kitô giáo không ?
357. Có phải vô thần luôn là tội chống lại Điều răn thứ 1 không ?
358. Tại sao Cựu Ước cấm biểu thị hình ảnh Thiên Chúa, và tại sao người Công giáo không giữ điều cấm này nữa ?
359. Tại sao cần tôn kính Danh Chúa ?
360. Dấu Thánh giá có ý nghĩa gì ?
Chúa Nhật 28 tháng 1 năm 2018
361. Kitô hữu khi được Rửa tội có thêm tên Thánh nữa, điều này quan trọng thế nào ?
362. Tại sao người Do Thái giữ ngày Hưu lễ (Sabbat)?
363. Chúa Giêsu đối với ngày Sabbat thế nào ?
364. Tại sao Kitô hữu thay thế ngày Sabbat bằng ngày Chúa nhật ?
365. Kitô hữu giữ ngày Chúa nhật như ngày của Chúa thế nào ?
366. Tại sao Nhà Nước cần coi trọng việc giữ ngày Chúa nhật như ngày nghỉ lễ ?
367. Điều răn thứ 4 liên quan tới ai? Người ta phải làm gì về Điều răn này ?
368. Gia đình có vị trí nào trong chương trình tạo dựng của Thiên Chúa ?
369. Tại sao gia đình không thể được thay thế ?
370. Tại sao Nhà Nước cần bảo vệ và thăng tiến gia đình ?
371. Con cái cần kính trọng cha mẹ thế nào?
372. Cha mẹ cần tôn trọng con cái thế nào ?
373. Làm sao để gia đình cùng sống đức tin với nhau ?
374. Tại sao Thiên Chúa quan trọng hơn gia đình ?
375. Phải hành xử quyền bính thế nào cho đúng ?
376. Người dân có bổn phận nào đối với Tổ quốc ?
377. Khi nào chúng ta phải từ chối, không tuân lệnh Nhà Nước ?
378. Tại sao không được giết mình (tự tử) hoặc giết người ?
379. Điều răn thứ 5 cấm xâm phạm mạng sống thế nào ?
380. Tại sao được phép giết người để tự vệ ?
Chúa Nhật 4 tháng 2 năm 2018
381. Tại sao Hội thánh chống lại án tử hình?
382. Có được phép chủ động giúp người ta chết êm không ?
383. Tại sao không thể chấp nhận phá thai ở bất cứ giai đoạn nào ?
384. Có được phá bào thai tàn tật không ?
385. Có thể làm thí nghiệm trên phôi sống và các tế bào gốc của phôi không ?
386. Tại sao Điều răn thứ 5 bảo vệ sự toàn vẹn thể lý và tinh thần của con người ?
387. Ta nên đối xử với thân xác ta thế nào?
388. Sức khỏe quan trọng thế nào ?
389. Tại sao hút xì ke ma túy lại là tội ?
390. Có được phép thí nghiệm khoa học trên người đang sống không ?
391. Tại sao việc hiến tặng các cơ quan của cơ thể là quan trọng ?
392. Hành vi xâm phạm đến sự toàn vẹn thân xác của con người là hành vi nào ?
393. Kitô hữu giúp đỡ người đang sắp chết thế nào ?
394. Kitô hữu đối xử với xác người chết ra sao ?
395. Hòa bình là gì ?
396. Kitô hữu phải làm chủ sự nóng giận của mình thế nào ?
397. Chúa Giêsu nghĩ gì về bất bạo động ?
398. Các Kitô hữu có phải là người xây dựng hòa bình không?
399. Khi nào được sử dụng lực lượng quân sự ?
400. Tại sao Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ ?
Chúa Nhật 11 tháng 2 năm 2018
401. Người nam có trổi vượt hơn người nữ không ?
402. Tình yêu là gì ?
403. Tình yêu có chỗ đứng nào trong đời sống tình dục ?
404. Tình yêu khiết tịnh là gì ? Tại sao Kitô hữu sống tình yêu khiết tịnh ?
405. Người ta có thể sống tình yêu khiết tịnh thế nào ?
406. Mọi người có phải sống khiết tịnh không ? Ngay cả người ở trong bậc đôi bạn ?
407. Tại sao Hội thánh chống lại những quan hệ tình dục trước khi thành hôn ?
408. Làm sao bạn sống được như là Kitô hữu, nếu bạn đang có quan hệ tình dục, hoặc đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân rồi?
409. Thủ dâm có lỗi phạm đến tình yêu không ?
410. Thông dâm là gì ?
411. Tại sao mãi dâm là hình thức của thông dâm ?
412. Tại sao việc sản xuất và tiêu thụ hình ảnh khiêu dâm là tội chống lại tình yêu ?
413. Tại sao cưỡng dâm là tội nặng ?
414. Hội thánh có lập trường thế nào về sử dụng bao cao su phòng chống bệnh SIDA ?
415. Hội thánh phán đoán thế nào về đồng tính luyến ái ?
416. Yếu tố nòng cốt của hôn nhân Công giáo là gì ?
417. Sự kết hợp tình dục trong hôn nhân có ý nghĩa gì ?
418. Con cái trong hôn phối có ý nghĩa gì ?
419. Cha mẹ nên có bao nhiêu con ?
420. Đôi vợ chồng Công giáo có nên điều hòa số con cái của họ không ?
Chúa Nhật 18 tháng 2 năm 2018
421. Tại sao các phương pháp ngừa thai không tốt như nhau?
422. Đôi vợ chồng không có con có thể làm gì ?
423. Hội thánh nói gì về mang thai mướn và thụ thai nhân tạo ?
424. Thế nào là ngoại tình? Ly dị có hợp luân lý không?
425. Hội thánh chống lại những đôi hôn phối không có bí tích Hôn phối thế nào ?
426. Điều răn thứ 7 đòi buộc những gì ?
427. Tại sao quyền tư hữu không được là quyền tuyệt đối ?
428. Ăn trộm là gì ? Điều răn thứ 7 dạy gì ?
429. Có luật nào liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ không ?
430. Công bằng giao hoán là gì ?
431. Có được phép gian lận thuế không ?
432. Kitô hữu cò thể đầu cơ trong giao dịch chứng khoán, hoặc trên Internet không ?
433. Phải đối xử với tài sản thuộc về mọi người thế nào ?
434. Kitô hữu có được chơi cá cược và chơi cờ bạc không ?
435. Có được phép mua bán con người không?
436. Phải đối xử với vạn vật được sáng tạo thế nào?
437. Phải đối xử với các loài vật thế nào?
438. Tại sao Hội thánh có những học thuyết riêng về xã hội ?
439. Học thuyết xã hội của Hội thánh phát triển thế nào ?
440. Kitô hữu có buộc can thiệp vào công việc chínhh trị và xã hội không ?
Chúa Nhật 25 tháng 2 năm 2018
441. Hội thánh nói gì về dân chủ ?
442. Hội thánh có lập trường thế nào về chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường ?
443. Bổn phận của nhà quản lý và lãnh đạo xí nghiệp là gì?
444. Hội thánh nói gì về lao động và thất nghiệp ?
445. Nguyên tắc « lao động ưu tiên trên tư bản » nghĩa là gì ?
446. Hội thánh nói gì về toàn cầu hóa?
447. Toàn cầu hóa có nghĩa là độc quyền về vấn đề chính trị và kinh tế không ?
448. Sự nghèo khó và kém phát triển có phải là số phận không thể tránh được chăng ?
449.  Kitô hữu phải bày tỏ tình yêu đối với người nghèo như thế nào ?
450. Những việc làm để thương xác là gì?
451. Những việc làm để thương linh hồn là gì?
452. Điều răn thứ 8 đòi ta điều gì?
453. Thiên Chúa làm gì khi ta tôn trọng sự thật ?
454. Ta có bổn phận phải làm chứng cho sự thật của đức tin như thế nào ?
455. Trung thực có nghĩa là gì?
456. Bạn nên làm gì khi bạn nói dối, lừa dối, phản bội một người nào ?
457. Tại sao nói sự thật đòi ta phải cẩn trọng ?
458. Bí mật trong Tòa Giải tội là gì ?
459. Phải sử dụng các phương tiện truyền thông với trách nhiệm đạo đức nào?
460. Truyền thông xã hội có thể có hiệu quả nguy hại nào ?
Chúa Nhật 4 tháng 3 năm 2018
461. Vẻ đẹp về sự thật được nghệ thuật chuyển tải như thế nào ?
462. Tại sao Điều răn thứ 9 cấm ước muốn dục vọng về xác thịt ?
463. Làm sao để giữ "khiết tịnh trong lòng"?
464. Sự e thẹn tốt như thế nào?
465. Kitô hữu nên có thái độ nào đối với tài sản của người khác?
466. Ghen tị là gì ? Làm sao thắng được nó ?
467. Tại sao Chúa Giêsu muốn chúng ta có tâm hồn "nghèo khó”?
468. Điều gì người ta nên mong ước nhất ?
469. Cầu nguyện là gì?
470. Động lực nào thúc đẩy người ta cầu nguyện ?
471. Tại sao ông Abraham là gương mẫu cầu nguyện?
472. Ông Môisê cầu nguyện thế nào?
473. Sự quan trọng của các Thánh Vịnh trong cầu nguyện là gì?
474. Chúa Giêsu đã học cầu nguyện thế nào?
475. Chúa Giêsu cầu nguyện thế nào?
476. Chúa Giêsu cầu nguyện thế nào khi Người đối diện với cái chết?
477. Khi nói: học trường cầu nguyện của Chúa Giêsu nghĩa là gì?
478. Tại sao chúng ta tin cậy rằng lời cầu nguyện của chúng ta được Thiên Chúa lắng nghe?
479. Chúng ta có thể học cách cầu nguyện nơi Mẹ Maria thế nào?
480. Lời Kinh Kính Mừng là gì?
Chúa Nhật 11 tháng 3 năm 2018
481. Lần hạt Mân côi như thế nào?
482. Các Kitô hữu đầu tiên đã coi việc cầu nguyện có vai trò thế nào?
483. Kể tên 5 hình thức cầu nguyện?
484. Chúc tụng là gì?
485. Tại sao ta phải thờ lạy Chúa ?
486. Tại sao ta phải xin ơn Chúa ?
487. Tại sao ta phải xin ơn Chúa cho người khác?
488. Tại sao ta phải tạ ơn Chúa?
489. Ngợi khen Chúa là gì?
490. Chỉ cầu nguyện khi mình thích có được không?
491. Có thể cầu nguyện từ Kinh Thánh không?
492. Lời cầu nguyện riêng của tôi có "ăn nhập" gì với lời cầu nguyện của toàn Hội Thánh không?
493. Kinh nguyện Kitô giáo có đặc tính nào?
494. Làm sao đời thường của tôi có thể là trường để cầu nguyện được?
495. Ta có thể chắc lời cầu nguyện của ta được lắng nghe không?
496. Tại sao ta cần Chúa Thánh Thần khi ta cầu nguyện?
497. Tại sao các thánh là những người hướng dẫn ta cầu nguyện?
498. Chúng ta có thể cầu nguyện ở bất cứ nơi nào không?
499. Khi nào nên cầu nguyện ?
500. Có nhiều cách cầu nguyện không?
Chúa Nhật 18 tháng 3 năm 2018
501. Cầu nguyện bằng lời là gì?
502. Cầu nguyện bằng suy niệm là gì?
503. Cầu nguyện bằng chiêm niệm là gì?
504. Kitô hữu có thể đạt được điều gì trong suy niệm?
505. Tại sao đôi khi ta gọi cầu nguyện là một cuộc chiến đấu?
506. Có phải cầu nguyện là một thứ nói chuyện với chính mình không?
507. Phải làm sao khi ta cảm thấy rằng cầu nguyện chẳng giúp ích gì?
508. Nếu bạn cầu nguyện mà không cảm thấy gì, hay nếu bạn uể oải không thích cầu nguyện, bạn sẽ làm sao?
509. Cầu nguyện có phải là trốn tránh thực tại không?
510. Người ta có thể cầu nguyện luôn luôn không?
511. Kinh Lạy Cha
512. Nguồn gốc của Kinh Lạy Cha ?
513. Kinh Lạy Cha có mấy phần?
514. Kinh Lạy Cha có địa vị nào trong các lời cầu nguyện?
515. Dựa vào đâu ta dám tin tưởng để gọi Chúa là "Cha"?
516. Làm sao các trẻ em bị cha mẹ ruột của chúng “ giết chết vô tội vạ”, hoặc bỏ rơi chúng, lại có thể gọi Thiên Chúa là Cha?
517. Việc đọc “Cha chúng con” làm cho Kitô hữu biến đổi thế nào?
518. Nếu Cha chúng ta ở “trên trời”, trời đó ở đâu?
519. Khi nói Danh Cha cả sáng nghĩa là gì?
520. “Nước Cha trị đến” nghĩa là gì?
521. Khi cầu nguyện "Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" nghĩa là gì?
522. Khi cầu nguyện "Xin cho chúng con lương thực hằng ngày" nghĩa là gì?
523. Tại sao "con người sống không nguyên bởi cơm bánh"?
524. Khi nói: "Tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con" có nghĩa gì?
525. "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ" nghĩa là gì?
526. "Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ" có ý ám chỉ sự gì?
527. Tại sao cuối kinh Lạy Cha, ta đọc "Amen"?
Chúa Nhật 25 tháng 3 năm 2018: Tập Nghi Thức Rửa Tội
Thứ Bảy 31 tháng 3 năm 2018: Lễ Vọng Phục Sinh: Rửa Tội Tân Tòng