• Register

CHUÁ NHẬT THỨ 2 THƯỜNG NIÊN NĂM C
BIẾN NƯỚC THÀNH RƯỢU 

“Vào đời” như một điệp khúc đẹp diễn tả một tình yêu đổi mới, một lý tưởng sống động, một linh hồn biến đổi, một hoàn cảnh tân trang, một xã hội năng động, kết hợp, hoạt động, yêu thương, hòa bình, và một cuộc đời dấn thân cứu độ, ... Người ta có thể hiểu đời và cuộc đời dưới khía cạnh bi quan yếm thế vì cho đời là cạm bẫy gian trá, còn cuộc đời là bể khổ khôn nguôi; hay ngược lại đời chỉ là giòng thời gian lãng đãng trôi, nhưng lại kết thúc một cách gượng ép trong tâm thức phản kháng; còn cuộc đời là môi trường bất đắc dĩ va chạm nhau, xâm thực lẫn cả tiêu diệt nhau, nên cuộc đời trở thành thế giới trống rỗng không mấy hấp dẫn cho một sự sống chào đời, cho một hữu thể hiện sinh trong hạnh phúc. Đức Kitô đã một lần vào đời. Ngài thấy và chấp nhận hiện thực của cuộc đời nhân loại. Điểm khởi đầu cuộc đời Ngài là một sự khốn cùng. Cuộc đời nối tiếp là thời gian nhập thế biến đổi bằng yêu thương, tha thứ, nâng đỡ vỗ về, giải thoát và cứu sống giữa những phản kháng bất công của nhân loại. Và điểm cuối cuộc đời Ngài là một bản án thảm khốc bi đát chết treo tha nhân tặng cho, để đổi lại hạnh phúc Nước Trời vĩnh cửu cho họ. Vào đời kiểu Đức Kitô chính là sự chấp nhận đời mình và cuộc đời anh em nhân loại như Bài Ca Yêu Thương vô tận. Vậy đời qủa đáng sống, đáng yêu và đáng hưởng tất cả những gì Thượng Đế ban tặng, vì đời là một hồng ân có một không hai trên hành trình thời gian trôi theo tháng ngày. 

Nghĩ về Tiệc Cưới Cana và phép lạ đầu tay của Chúa Giêsu là bắt đầu một hoạt động vào đời. Hoàn cảnh tiệc cưới là sự phô diễn khía cạnh đời người trong niềm vui, trong hạnh phúc, trong thiếu sót và ngay cả trong thất vọng và đau khổ. Hai nhân vật chính của cuộc đời là đôi tân hôn bắt đầu đời mình trong một tiệc cưới thiếu rượu! Thánh Kinh bảo rượu làm hoan lạc lòng người; thiếu rượu cũng là thiếu niềm vui và hạnh phúc. Đầu đời thiếu niềm vui và hạnh phúc sẽ báo hiệu những chuỗi ngày tháng lao đao trong may rủi lẫn lộn. Chúa Kitô đến cứu họ ra khỏi khúc ngoặt éo le của cuộc đời khi biến nước thành rượu. Khởi điểm của Ngài cũng là khởi điểm cuộc đời nhân loại, nên niềm vui và ơn cứu độ cũng bắt đầu từ đây. Như thế, chấp nhận đời mình là một hồng ân sẽ giúp con người vui tươi thẳng tiến, vì lúc nào cũng có sự hiện diện của Chúa Kitô đổi mới nó. Và cùng với Ngài vào đời để dọn sạch những cản trở và lấp đầy những thiếu sót trên con đường hạnh phúc. Cuộc đời hay trần thế lúc đó sẽ trở nên môi trường sung mãn những màu sắc khác biệt của hoa tình thương. Chúng ta hãy cùng với Chúa vào đời để biến nước thành rượu, biến đau khổ thành niềm vui cho mình và cho cả nhân loại. Và Nước Trời sẽ thực sự là một Tiệc Cưới cho ta ngay trên trần thế. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 3 THƯỜNG NIÊN NĂM C
THÁNH THẦN HƯỚNG DẪN 

Hành trình theo Đức Kitô là hành trình tự hiến đời mình để làm cho cuộc đời tha nhân đẹp hơn và hạnh phúc hơn. Tuy nhiên sự tự hiến ấy rất cần đến tác động của ơn thánh Chúa, và nhất là sự thánh hóa và sức biến đổi của Chúa Thánh Thần, mới có thể trở nên hoàn hảo và mang lại kết qủa trong những môi trường mà Thiên Chúa muốn cấy ta vào. Đức Kitô mở đầu hành trình rao giảng Tin Mừng để biến đổi thế giới và con người, Ngài đã xác định vai trò của ơn thánh và sức mạnh Thánh Thần trên Ngài khi công bố sự mạc khải của Thiên Chúa qua miệng tiên tri Isaia: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng.” Việc tự hiến đời mình của Đức Kitô cho thấy thực tại của hành trình ơn cứu độ trên nhân loại là do sự hướng dẫn và tác động của Chúa Thánh Thần. Những ai theo Chúa chắc chắn sẽ không thể ra khỏi quỹ đạo này nếu muốn cộng tác với Ngài vào việc biến đổi chính mình và tha nhân một cách hiệu qủa.  

Qủa thực, có một nhận xét thần học hiện đại rất đúng khi xác định: Chúng ta cần hành động như chính Chúa Thánh Linh đang tác động trong chúng ta. Điều này có nghĩa là con người trước hết phải bày tỏ ý muốn dấn thân rao giảng Tin Mừng một cách mạnh mẽ; rồi hãy để cho Chúa Thánh Thần tác động trên mọi hoạt động của mình. Đó chính là khía cạnh hữu hiệu của thần học về ơn thánh. Tuy nhiên chúng ta chỉ cần suy nghĩ một cách đơn sơ rằng: Sự dấn thân vào đời của mình chỉ có hiệu qủa khi đã thực sự phó thác cho Chúa Thánh Thần tác động. Con đường Ngài hướng dẫn là con đường mà Chúa Kitô đã đi qua. Chúa Kitô đã tự hiến đời mình giải thoát những kẻ gọi chung là cùng khốn, nghèo khó, tù tội, đau khổ, tội lỗi và xấu số. Bình thường sự dấn thân của con người hay bị lẫn lộn với danh dự, danh vọng và phần thưởng. Vì thế không lạ gì các công cuộc bác ái thường được tổ chức và công bố một cách rầm rộ qui mô, để người khác nhìn vào thán phục và khen thưởng. Nhưng nếu việc dấn thân phục vụ ấy được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tác động, nó thường diễn ra trong âm thầm và được thực hiện trong các mội trường thầm lặng với những hy sinh ngút ngàn, như tiến trình hạt lúa gieo vào lòng đất, thối đi rồi sinh hoa kết qủa. Tiến trình dấn thân phục vụ của Chúa Kitô chính là mẫu mực cho nhân loại.   Như thế cả ba yếu tố con người, ơn thánh và sức mạnh Thánh Thần rất cần thiết cho mọi hy sinh phục vụ của chúng ta.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

 CHUÁ NHẬT THỨ 4 THƯỜNG NIÊN NĂM C
LỜI CHÚA TÁC ĐỘNG

Trong tư thế lơ đễnh hai chân vắt chéo, lưng dựa cột phía trước Nhà thờ với đôi mắt hướng về xa xăm, làn khói thuốc phì phào đang đưa anh ra khỏi thực tại mà anh cho là nhàm chán,”ru-tin”; rồi tự nhiên hàng loạt những suy tư về cuộc đời, hoàn cảnh và tình yêu ngang trái lại thấp thoáng lượn bay... Một người đi trễ vội vã cúi mặt thoáng chốc bị đánh thức bởi mùi thuốc lá, nàng ngẩng lên thấy anh, một ý nghĩ đâu đó xuất hiện: Mình đã trễ Lễ, mà vẫn còn có người đứng đây! Rồi nàng vội vã lao tới cửa phía trái cố tìm một chỗ kín đáo ngồi xuống trong lúc vị linh mục đang giảng, như muốn lấp đi mặc cảm tội lỗi vẩn vơ thoáng qua! Hai người Kitô hữu diễn tả hai tâm trạng khác nhau Ngày Lễ Chúa Nhật. Tuy nhiên tâm trạng người thứ nhất có chút ít phản ảnh thái độ những người Do Thái trong hội đường Nazareth khi nghe Chúa Giêsu giảng. Sự thật phản kháng nơi họ không phát sinh do ngoại cảnh, nhưng đến trực tiếp do sự sắc bén của Lời Chúa, bởi Thánh Kinh xác nhận rằng Lời Chúa sắc bén như chiếc gươm hai lưỡi có thể xuyên thấu tâm can và phân rẽ linh hồn.

Hình ảnh phản kháng của những người Do Thái trong Phúc âm càng trở nên mạnh hơn khi họ hè nhau đưa Chúa Giêsu lên triền núi cao, định tâm xô Ngài xuống vực thẳm cho khuất mắt, bởi trong tâm thức của họ, Chúa Giêsu chỉ được coi là con bác thợ mộc Giuse nghèo nàn không chút tiếng tăm; đồng thời Lời Chúa mà Ngài trích dẫn liên quan bà goá tại Sarepta và Naaman người Syria đụng chạm trực tiếp như cắt đứt cõi lòng cứng cỏi đầy tự ái của họ. Nhưng ý định của họ muốn tiêu diệt Ngài đã không thành tựu, vì giờ Ngài chưa đến! Điều làm chúng ta suy tư không ít là thực tại phản kháng ấy nấp sâu trong cõi lòng thầm kín của con người vẫn tồn tại, và sẵn sàng bùng dậy bất cứ lúc nào. Trong quá khứ gần đây đã có những triết gia tuyên bố Thiên Chúa đã chết, cần phải đưa con người lên thay thế; và tình trạng suy thoái Kitô giáo ở nhiều nước Tây Phương hiện nay đang chứng minh sự phản kháng Lời Chúa cách bi đát.

Tuy nhiên chân lý Chúa Kitô dạy vẫn tồn tại, vì Thiên Chúa quyền năng và yêu thương khôn lường luôn hiện hữu; còn bản tính yếu đuối, giới hạn của con người vẫn mãi nguyên vẹn. Con người chỉ được cứu rỗi khi biết tự nguyện cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa Kitô. Do đó, tâm thức khiêm tốn đón nhận Lời Chúa sẽ hết sức cần thiết. Chúa Kitô đã chọn con người làm đường và các phương tiện nhân loại để cứu rỗi họ. Khi lập Giáo Hội, Ngài lại chọn các môn đệ từ những kẻ yếu đuối giới hạn đại diện công bố Lời Ngài. Tìm chia sẻ từ những yếu đuối nhân loại của Giáo Hội Chúa Kitô, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sức mạnh của Lời Chúa tác động trong linh hồn mình. Chính sức mạnh này sẽ biến đổi cuộc sống, và hướng những bước chân chúng ta trong thánh ý của Chúa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 5 THƯỜNG NIÊN NĂM C
KINH NGHIỆM ĐỨC TIN 

Phúc âm hôm nay là một bức tranh hiện thực vẽ lên hai thực tại hoàn toàn trái ngược nhau: Một thực tại thuộc kinh nghiệm nhân loại, và thực tại kia nằm trong kinh nghiệm Thiên Chúa. Cảnh Phêrô thức thâu đêm đánh cá mà không được gì; và cảnh cũng chính Phêrô bắt được mẻ cá lớn đầy hai thuyền sau khi nghe lời Chúa Giêsu thả lưới ở chỗ nước sâu. Dĩ nhiên tác động làm nên phép lạ phát sinh từ cả hai phía: Phía con người cộng tác bằng việc thả lưới ở chỗ nước sâu, và phía Thiên Chúa cho cơ hội mẻ cá lớn. Qua đó, Chúa muốn cho Phêrô và các môn đệ tiên khởi nhận ra quyền năng của Con Thiên Chúa và tin vào Ngài. Thái độ của Phêrô qua lời xưng tụng tự đáy lòng: Lạy Chúa xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi chính là thái độ khiêm tốn của lòng tin mà Chúa Kitô đang rất cần nơi người đứng đầu đoàn các môn đệ. 

Chúng ta nhận ra rằng cuộc sống thực tế của con người lệ thuộc trực tiếp vào vật chất, nên cái nhìn về thế giới thiêng liêng rất thường bị ảnh hưởng bởi những đánh giá liên quan đến vật chất và những kinh nghiệm cá nhân trong thế giới vật chất này. Kinh nghiệm riêng của Phêrô thức thâu đêm đánh cá mà không được gì như muốn nói với Chúa Giêsu rằng: Thưa Thầy, con đã làm rồi và làm hết sức nữa nhưng không được gì! (Xin đừng làm nữa uổng công!). Đây cũng là kinh nghiệm mà ai cũng có thể gặp trong cuộc đời. Các nhu cầu đời sống vật chất tiêu hao hết tuổi đời với những lăn lộn sóng gió và đau thương, có khi cũng la hét, kêu gào van xin Chúa thương, nhưng kết qủa chỉ là cảnh thức thâu đêm mà không được gì của Phêrô. Nhiều người đã mất lòng tin vào Thiên Chúa, vì chỉ hành động dựa vào sức riêng mình, hoặc không đủ kiên nhẫn và phó thác nơi quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa, nên chuyển lòng tin của mình vào các thế lực khác như ma quỷ hoặc vào chính con người.  

Để bắt được mẻ cá lớn, nghĩa là để đạt được những thành công theo ý Chúa, con người rất cần sự khiêm tốn và tin tưởng phó thác hoàn toàn nơi Ngài. Qua kinh nghiệm giới hạn của mình, Phêrô nhận ra sự bất lực của ông, nên đã khiêm tốn trình bày với Chúa: Giờ đây xin vâng lời Thầy, con thả lưới. Ông đã làm theo ý Chúa thả lưới chỗ nước sâu, và kết qủa hết sức ngạc nhiên không ngờ. Điều vô cùng quý giá trong đời sống thiêng liêng là nhờ mẻ cá lớn, Phêrô đã nhận ra Thầy mình chính là Thiên Chúa, và thân phận mình chỉ là tạo vật tội lỗi bất lực. Phêrô đã sống kinh nghiệm thực của đời sống đức tin, tức trải qua đêm tối đức tin. Kinh nghiệm ấy cho ta kết luận: Đêm tối đức tin chính là môi trường cần thiết để Chúa hành động và giúp đức tin con người trưởng thành hơn nơi Ngài.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Ý NGHĨA TỪ BỎ

Ở đây, tức ở Mỹ (hay bất cứ nước tự do nào), người ta thường khởi đầu về đời mình bằng việc biết mình là ai (who we are). Đó cũng là căn bản để sống thực đời mình. Và cũng là căn bản để có thể tìm thấy mình trong Đấng Tự Hữu đã cho mình chia sẻ sự hiện hữu với Ngài.

Tôi bắt dầu bằng suy nghĩ này để có thể hiểu được câu chuyện thánh Phêrô vâng lời Chúa Giêsu đi thả lưới chỗ nước sâu, sau một đêm dài vất vả đánh cá mà không được gì! (cho dù Ngài và các anh em khác là những người có đầy kinh nghiệm đánh cá). Câu hỏi đặt ra ở đây cho tôi là Thánh Phêrô đã biết mình thực sự là ai: là người đánh cá chuyên nghiệp hay chỉ là một tạo vật không hơn không kém? Và Chúa Giêsu là ai mà lại muốn Thánh Phêrô làm một chuyện trái ý ngài?

Dĩ nhiên thánh Phêrô biết mình về cả hai khía cạnh: người đánh cá chuyên nghiệp (chúng con đã vất vả suốt đêm. . .) và một tạo vật giới hạn (Lạy Thầy, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi!) Điều thánh Phêrô biết mình xem ra rất nghịch lý với lý trí bình thường nhân loại, bởi vì hai khía cạnh cuộc đời đó hình như không thể dung hòa. Nó chính là một trận chiến không ngừng giữa sự hiện hữu làm nên cái tôi ở thế giới này, và sự từ bỏ chính mình khi nhận sự giới hạn đến tuyệt vọng trong thân phận tội lỗi, hay đúng hơn chấp nhận mình ở thế giới tinh thần xem ra rất xa lạ (vì thế giới Kitô giáo luôn xa lạ với thế giới thế tục ở mọi thời đại).

Có thể khi chọn thánh Phêrô làm đầu giáo hội, Chúa Kitô vì là Thiên Chúa làm người, đã biết rất rõ con người này cần những gì cho một cuộc phiêu lưu hoàn toàn mới vào một thế giới cũng rất xa lạ (hãy chèo thuyền ra khơi), nên Chúa Kitô đã phải dùng chính những môi trường xem ra nghịch lý để chính phục và làm cho đức tin nơi thánh Phêrô vững mạnh để từ bỏ ý riêng (con người đánh cá chuyên nghiệp) mà trao trọn vẹn đời mình trong chương trình cứu độ của Chúa Kitô dành cho nhân loại (các ngài đã bỏ mọi sự mà theo Chúa).

Qủa thực, ở cuối hành trình theo Chúa Kitô, thánh Phêrô và các môn đệ mới hiểu rõ được lời mời gọi “hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi trở thành những ngư phủ lưới người ta”. Nhưng khởi đầu theo Chúa lại luôn là cuộc phiêu lưu của đêm tối đức tin. Đêm tối ấy chính là ra khơi chỗ nước sâu, là cả thế giới nhân loại của mọi thời đại mà người theo Chúa phải chính phục. Đêm tối ấy cũng là sự khước từ liên tục con người giới hạn tội lỗi, để nhường lại cho ân sủng của Chúa chiếm đoạt và biến đổi: Đừng sợ, từ nay con sẽ là kẻ lưới người ta!

Đây là tất cả ý nghĩa việc từ bỏ của thánh Phêrô và các môn đệ. Dù ý nghĩa ‘tất cả’ đối với các ngài lúc đó chỉ là ngôi làng nhỏ bé thân yêu gồm một ít người thân, hay cha mẹ, vợ con, hoặc nghề nghiệp rất đơn giản là đánh cá,. . . mà không phải là sự nghiệp kêch xù kồng kềnh của những người thời nay, thì sự từ bỏ tất cả ấy cũng trọn vẹn ý nghĩa của nó, bởi vì các ngài đã dám đặt vận mệnh đời mình trong ý định của Đấng Cứu Thế. Một khi đi vào ý định này, con người tự nhiện trở nên hoàn hảo hơn, vì được kết hiệp với sự hiện hữu tuyệt đối của Thiên Chúa.

Đến đây, tôi có thể hiểu rõ hơn về thân phận làm người Kitô hữu của mình. Nó không bị giới hạn vào một số điều luật như đi lễ Chúa Nhật hoặc giữ các giới răn, hay tham gia một số công cuộc bác ái, nhưng thực chính là việc từ bỏ đi sự giới hạn của mình, để nhường cuộc đời lại cho Thiên Chúa hành động. Sự hoàn hảo cuộc đời tôi chính là biết tôi là ai (who we are) trong sự hiện hữu của Thiên Chúa. Đạo Kitô tôi giữ chính là tình yêu, mà không phải là những bó buộc của luân lý. Trong tình yêu, ai cũng trở nên tự do. Một khi hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa hành động, tôi thực sự mới tự do đúng với ý nghĩa của sự hiện hữu. Tôi có thể tung mình ra khơi và đến bất cứ nơi đâu trên thế giới này khi đáp lại lời mời theo Chúa.

Ước chi lời thú nhận thân phận tạo vật tội lỗi của thánh Phêrô sẽ trở thành hiện thực cho tôi và cả nhân loại, để từ đó hiểu được ý nghĩa mình là ai trong cái thế giới tưởng mênh mông bao la này, nhưng lại rất tù tội trong sự giới hạn tạo vật, trong vụng lầy tội lỗi; để có thể bước vào thế giới thực sự tự do của ơn thánh Chúa, bước vào một bể khơi tình yêu biến tôi nên hiện hữu trong Đấng là tự hữu và tình yêu tuyệt đối. Vì chính cái Bể Khơi hay Thế Giới Tình yêu Thiên Chúa mới cho tôi và cả nhân loại sống xứng đáng nhân phẩm làm con cái tự do thật của Ngài.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 6 THƯỜNG NIÊN NĂM C
ĐƯỜNG HẠNH PHÚC 

Là người, ai cũng mong được sống hạnh phúc. Hạnh phúc đơn giản là trạng thái an bình thỏa mãn khát vọng của mình trên nhiều phương diện liên quan cả thể xác lẫn tinh thần; do đó có những hạnh phúc qua mau, kéo dài và trường tồn. Khi đạt thỏa mãn vật chất, kể cả khoái lạc xác thịt, con người cảm nghiệm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc qua mau; nên hạnh phúc kêu gọi hạnh phúc, tạo ra con đường ngược chiều như bất tận của hạnh phúc, và hạnh phúc trở thành bong bóng bay! Khi trạng thái tinh thần được thỏa mãn do đạt được mức độ kiến thức tương đối trong các lãnh vực mong muốn, con người cảm nhận hạnh phúc của sự thật tinh thần, và hạnh phúc kéo dài do hạnh phúc nối tiếp hạnh phúc tương dối trong thời gian. Khi trạng thái tâm hồn lắng chìm trong an bình do tiếp xúc và sống những chân lý tôn giáo, con người sẽ cảm nhận hạnh phúc siêu việt hơn, thứ hạnh phúc đạt được bằng niềm tin, tình yêu và phấn đấu không ngừng. 

Chúa Giêsu đã giảng một Bài Giảng Hạnh Phúc, nhưng tất cả các tiêu chuẩn hạnh phúc ấy đều ngược chiều với đời sống vật chất, tâm lý và trạng thái tâm hồn. Ngài phán: Phúc cho những kẻ bây giờ nghèo, đói khát, khóc lóc, bị ghét bỏ, phỉ báng, loại trừ như những kẻ bất lương... sẽ lãnh nhận phần thưởng bội hậu trên trời, thứ hạnh phúc trường tồn bất tận. Hình như các tiêu chuẩn hạnh phúc của Ngài tạo nên cuộc giao tranh nội tâm không ngừng, vì những chân lý của đất và trời, của con người và của Thiên Chúa đi ngược chiều nhau! Nếu xếp hạnh phúc từ kết qủa của việc tự nguyện chấp nhận cuộc sống nghèo, đúng hơn là sống thân phận thật của con người, hoặc chấp nhận sống sự thật thương đau của kiếp sống giới hạn qua mau trong những tranh giành như bất tận, phát sinh từ lòng tham lam ghen ghét của con người, thì có thể đạt được sự an bình tương đối trong trạng thái an nhiên tự tại, nhưng lại là thứ hạnh phúc chịu đựng!   Những điều Chúa Giêsu dạy về hạnh phúc có thể hiểu là trạng thái sống phó thác hoàn toàn trong thánh ý Thiên Chúa, một tình trạng tiếp xúc liên lỉ với tương quan tình yêu siêu nhiên, mà Thánh Augustinô đã thú nhận: Lạy Chúa, Chúa dựng nên chúng con cho Chúa, và sẽ chỉ hết băn khoăn lo lắng khi nghỉ yên trong lòng Chúa mà thôi. 

Như thế, khám phá con đường hạnh phúc thật là trách nhiệm đời ta, dành cho riêng ta chọn lựa và không thể thay thế như chính cuộc đời có một không hai của mình. Quan trọng hơn chính là biết đặt các giá trị hạnh phúc của cuộc sống trong sự phó thác của ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa, và bình an của Chúa như suối mát tràn lan sẽ trở nên hạnh phúc thật cho ta trong cuộc sống hôm nay và mai sau. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên 

CHUÁ NHẬT THỨ 7 THƯỜNG NIÊN NĂM C
KHỜ VÀ KHÔN  

Một trong những dấu hiệu biểu lộ sự khờ dại là không biết sử dụng trí khôn, hoặc không thể sử dụng đúng lúc và đúng chỗ. Trong lịch sử Kitô giáo bị bách hại, những kẻ bắt bớ thường coi các Kitô hữu là những kẻ khờ dại, vì không dám bước qua thập giá để được sống, mà ngược lại đành chấp nhận chết cho dù hình khổ có đau đớn ghê sợ gấp trăm ngàn lần! Chính Chúa Kitô Đấng lập Đạo là người đầu tiên bị Hêrôđê cho là khờ dại! Người đời khi nghe các bài giảng của Ngài cũng không thể hiểu được vì tính cách khờ dại mà họ gán cho nó. Chẳng hạn bài giảng Chúa Nhật hôm nay: Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình; Ai vả má bên này, thì đưa luôn cả má bên khia; Ai xin thì hãy cho, và ai lấy gì thì đừng đòi lại...! Càng đọc thì càng thấy khờ, và khờ ơi là khờ!!! Nhưng lại có hàng triệu hàng tỷ người khờ theo Đức Kitô mới lạ. Vậy chân lý ở đâu để chứng minh lý thuyết và hành động của Chúa Giêsu không làm con người trở nên dại khờ? 

Câu trả lời cũng không khó lắm, bởi chính Chúa Giêsu đã trả lời khi tiếp tục bài giảng của Ngài: “Các con muốn người ta làm điều gì cho các con, thì hãy làm cho người ta như vậy... Nếu chỉ làm ơn cho những kẻ làm ơn cho các con thì còn ân với nghĩa gì?... Vậy các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ... Hãy thứ tha thì các con sẽ được tha thứ ... Càng đọc thì càng thấy lòng Chúa vĩ đại bao la, và càng đọc càng thấy khôn ơi là khôn!!! Bởi sự thường theo tâm lý ai cũng thích được người ta yêu thương và cư xử nhân hậu với mình, nhất là khi lâm vào những hoàn cảnh túng thiếu, đau khổ và bị kết án. Vì thế trong lịch sử bắt đạo, các Kitô hữu do đức tin mạnh mẽ, lòng nhân hậu và tình thương bao la trong những khổ nhục bách hại, đã hoán cải được không biết bao nhiêu những kẻ lên án và giết mình. Ở Việt Nam thời các vua cấm đạo, đã có rất nhiều quan lính trở lại đạo. Trong thời cải tạo sau 1975, rất nhiều cán bộ cộng sản đã được ơn trở lại đạo do gương sáng đức tin của nhiều linh mục đạo đức và giáo dân trong tù. Không nói đâu xa, ngay trong gia đình mình, mỗi khi có bất hòa, giận ghét hay thù hận, nhiều người đã trở lại đời sống tốt và hạnh phúc hơn khi người đối phương biết cư xử bằng tình yêu thương chân thành, kiên nhẫn và bao dung thứ tha. Điều Chúa dạy chẳng những đúng ở cuộc đời trần thế, mà còn rất đúng ở cõi trời cao, vì Ngài phán: Các con đong đấu nào thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy. Nên phần thưởng của các con sẽ rất lơn lao: vì sẽ trở nên con cái Đấng Tối cao trên trời.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 8 THƯỜNG NIÊN NĂM C
GIỐNG THẦY 

Người Việt Nam thường nghe rất quen câu ngạn ngữ: “Con hơn cha thì nhà có phúc”. Câu ngạn ngữ này có lẽ chỉ đúng một cách tương đối trong những gia đình con cái biết cư xử lễ độ và hiếu thảo; hoặc ngược lại tình cha mẹ luôn luôn bao dung tràn đầy trên con cái như hình ảnh ngây thơ của chúng đang cần tựa nương. Ở một khía cạnh nào đó của cuộc đời, Chúa Giêsu như muốn đính chính lại quan niệm nhân loại khi phán rằng: “Môn đệ không trọng hơn Thầy: nếu môn đệ được giống như Thầy, thì kể là hoàn hảo rồi.” Dựa trên nội dung những điều Chúa dạy về hình ảnh cả hai kẻ mù dắt nhau sẽ cùng rơi xuống hố, hoặc người này thấy cái rác trong mắt người khác mà không thấy cái đà trong mắt mình, hay cây xấu không thể sinh trái tốt ...; và từ đó Chúa kết luận: “Người hiền bởi lòng tích chứa điều lành, nên phát xuất sự thiện; và kẻ dữ bởi tích đầy lòng ác, nên phát xuất điều ác, vì lòng đầy thì miệng mới nói ra”, người ta sẽ hiểu tại sao Ngài đã so sánh môn đệ không trọng hơn Thầy, cùng lắm là giống như Thầy thì đã phúc lắm rồi. Thầy ở đây là chính Ngài, là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế tràn đầy tình thương bao la.  

Từ tình thương bao la ấy, Chúa Giêsu Kitô đã trải qua bao cực hình ghê sợ để rồi chịu đóng đinh chết tất tưởi trên thập giá! Chắc không có môn đệ nào vượt qúa được sự đau khổ trong cuộc thương khó nhục nhã bằng Thầy mình đâu. Cũng chính từ tình thương bao la vô bờ bến ấy, đã phát xuất nguồn suối ơn lành cứu độ như hoa trái hạnh phúc bất diệt tràn lan trên mọi tâm hồn. Lời Chúa và chính Mình Chúa là những hoa trái của sự thiện hảo và sự sống vĩnh cửu phát sinh từ cây phúc Thiên Chúa Ba Ngôi mãi mãi nuôi sống nhân loại mọi thời cho đến tận thế. Có lẽ không có môn đệ nào có thể so sánh với Thầy về lòng thương xót được, cùng lắm chỉ giống, nghĩa là đồng dạng với tình thương yêu Thiên Chúa trong một giới hạn vô cùng nhỏ bé mà thôi!  

Điều Chúa Giêsu so sánh giữa môn đệ và Thầy về lòng thương xót và sự tốt lành đang đưa ta về giới hạn thân phận nhân loại bị tội lỗi nhận chìm trong vực thẳm. Lòng thương xót và sự tốt lành ấy nơi nhân loại chỉ phát sinh khi được cấy và chăm tưới từ nguồn tình yêu bao la của Thiên Chúa. Nếu muốn được giống một chút như Thầy, chắc phải nỗ lực hy sinh từ bỏ bản tính ích kỷ và cái tôi hẹp hòi tội lỗi rất nhiều, mới có thể trở thành cây tốt sinh ra những trái tốt, lòng thiện sinh ra hoa qủa thiện hảo. Và một khi sống trong tình trạng thiện hảo của Chúa, con người tự nhiên sẽ tỏa hương thơm của đức bác ái chân chính thánh thiện, như Lời Chúa dạy: lòng đầy thì miệng mới tràn ra. Nếu không, các kết qủa sẽ ngược lại và hiện nguyên hình của giả hình và sự ác!  

Lm. Raphael Xuân Nguyên 

CHÚA NHẬT 10 THƯỜNG NIÊN C

PHÉP LẠ CẢI TỬ HOÀN SINH
Nghe nói về một phép lạ, hoặc đọc truyện phép lạ, chẳng hạn phép lạ Chúa Giêsu làm cho con trai duy nhất của bà góa thành Nain đã chết được sống lại,  (thành Nain hiện nay vẫn tồn tại, nằm dưới chân núi Tabo, cách thành Nazarét nơi gia đình thánh gia cư ngụ độ 10 cây số) trước sự chứng kiến của các tông đồ và tất cả những người tham dự đám tang của người con trai này trong Phúc âm hôm nay, chắc chắn đa số người nghe hay đọc không dễ dàng tin theo. Lý do đơn giản là vì quyền làm cho kẻ chết sống lại không thuộc người trần gian, và trong loài người khó có ai đã chết thực sự, có thể sống lại. Như vậy vấn đề phép lạ, và nhất là phép lạ kẻ chết sống lại trước hết chỉ thuộc về phạm vi đức tin của các tôn giáo và những tín đồ trong các tôn giáo ấy. 
Vì là thực tại của đức tin, nên để tin tính xác thực của phép lạ, con người cần phải có đức tin vào Đấng có quyền làm phép lạ, nhất lạ phép lạ cải tử hoàn sinh. Trước phép lạ Chúa Giêsu làm cho người con trai bà góa thành Nain sống lại, tất cả những người chứng kiến hôm đó đều tin. Họ sửng sốt lạ lùng kêu lên ca tụng Thiên Chúa: “Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người.” Họ là các tín hữu đầu tiên của Chúa Giêsu.
Những phép lạ Chúa Giêsu làm cho kẻ chết sống lại có rất ít trong Phúc âm. Người ta đọc thấy rải rác như Chúa làm cho đứa con gái độ mười tuổi của ông Gia-ia sống lại. Trong số những kẻ chứng kiến, trước đó đa số xem khả năng “chữa lành” của Chúa Giêsu là chuyện buồn cười không tưởng! (Mc 5:22-24 & 35-42)  Đến chuyện động trời hơn, trước sự chứng kiến của rất nhiều người Do Thái và bạn bè gia đình của anh Lazarô đã chết, em của Matta và Maria, quen gọi gia đình Chúa yêu ở Bethania, được Chúa Giêsu truyền cho sống lại và đi ra từ trong mồ, tay chân còn quấn khăn liệm. (Jn 11:1-43)  Vậy mà những người lãnh đạo đạo Do Thái vẫn không tin, lại còn tìm hạch sách và muốn giết luôn cả Lazarô lẫn Chúa Giêsu. Phép lạ vĩ đại này đụng đến cốt lõi đạo Do Thái như một thử thách của niềm tin và giá trị đích thực của đạo, khiến họ chẳng những không muốn tin, mà còn tìm cách hủy diệt chứng cớ.
Người ta còn phải chứng kiến một phép lạ vô cùng vĩ đại khác: Đó là phép chính Chúa Giêsu tự mình sống lại sau ba ngày đã chết trong mồ. (Mc 16:1-19) Chính phép lạ này đã làm nên Đạo Kitô. Rất nhiều kẻ tin ngay từ đầu cho đến hôm nay đã mất mạng vì niềm tin này. Chúng ta có thể nói: Không ai có thể có đức tin vào Chúa Kitô phục sinh, nếu không được chính Người tặng ban và làm cho trở lại, bước theo và gắn bó đời sống của họ vào Người. Các vị thánh tử đạo tiên khởi và tất cả các thánh qua giòng lịch sử đều trải qua tiến trình đức tin một cách mạnh mẽ, vững chắc và anh hùng vào Chúa Kitô phục sinh.
Vấn đề khác tác động trực tiếp vào những kẻ tin phép lạ cải tử hoàn sinh mà Chúa Giêsu thực hiện, không do sự chứng kiến, nhưng đến từ sự hoán cải và biến đổi chính mình do quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Có thể nói đây là trường hợp của tất cả các tín hữu đang theo Chúa Kitô, đúng hơn là các tín hữu Kitô giáo. Dĩ nhiên vẫn là vấn đề của đức tin, nhưng là đức tin thực hành của Đạo. Nói thế có nghĩa là qua tiến trình đức tin của chính mình, họ dần dần khám phá ra sự hoán cải và biến đổi đời sống, có thể nhanh do một biến cố mạnh mẽ tác động trực tiếp cuộc sống (thí dụ như bệnh tật và ơn chữa lành), nhưng thường thì một cách tiệm tiến như một sự tỉnh thức của cuộc đời do ơn thánh Chúa.
Ngoài ra, nếu phải dùng một danh từ cụ thể để diễn tả tôn giáo, gọi là “hệ thống tôn giáo” bao gồm tín lý, luân lý và phụng vụ, thì chính hệ thống này tự nó là một tiến trình hoán cải và biến đổi, tức phép lạ cải tử hoàn sinh; và những kẻ tin bước vào hệ thống ấy cũng đang bước trên con đường biến đổi từ bóng tối đến ánh sáng, từ tội lỗi đến sự thánh thiện, từ sự chết đến sự sống. Sống đức tin Kitô giáo chính là sống phép lạ cải tử hoàn sinh từng giây từng phút liên tục trong cuộc đời trên tiến trình của đức tin.
Như thế, vấn đề đặt ra không còn là tính xác thực của phép lạ, nhất là phép lạ kẻ chết sống lại, mà chính là mỗi người chúng ta ngay từ khi nhận được đức tin vào Thiên Chúa, đang sống cái thực tại sự sống “phục sinh” của mình, giống như người thanh niên con trai của bà góa thành Nain sau khi được sống lại vậy. Nếu có đặt vấn đề của phép lạ, thì chỉ cần tự vấn đời sống chính mình xem còn sống hay đã chết trong tiến trình của đức tin vào Thiên Chúa qua việc thực hành đạo, tức thực hành đức tin của mình.
Là con người, chúng ta được biến đổi, tức nhận phép lạ từ Thiên Chúa. Chúng ta không có quyền buộc hay xin Thiên Chúa biến đổi theo ý của chúng ta. Chúa Giêsu nhìn thấy đám tang người con trai duy nhất của bà góa và Người động lòng thương, nên đã làm phép lạ. Bà góa chưa kịp van xin, nhưng tình thương của Thiên Chúa đã tràn ngập trên con trai và chính bà. Thật là lạ lung. Đây cũng chính là tính cách lạ lùng và nhưng không của đức tin vào Thiên Chúa. Điều quan trọng là chúng ta có sẵn sàng dừng lại để Thiên Chúa biến đổi chính mình hay không, cho dù đã có đức tin vào Ngài. Và một khi đã sẵn sàng, thì phép lạ cải tử hoàn sinh chính là sự sống phục sinh đang nối kết chúng ta với sự sống của Thiên Chúa đó. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 11 THƯỜNG NIÊN NĂM C
HÃY CÓ CÁI NHÌN CỦA CHÚA
 Dưới con mắt các người Biệt Phái, thì hành động của người đàn bà tội lỗi đang xức thuốc thơm trên đầu, đang chan hòa nước mắt trên chân Đức Kitô và lấy tóc mình lau chân Ngài chỉ là hành động khiêu khích của hạng gái điếm tội lỗi; còn Đức Kitô thì làm thinh đồng lõa với bà, bởi vì nếu là tiên tri như họ nghĩ, thì phải biết tránh xa loại người tội lỗi này! Quả thực từ sâu thẳm cõi lòng, nếu đã sẵn có thành kiến xấu và ác về một loại người nào đó, người ta sẽ sẵn sàng phê phán và kết án họ mãi mãi; và lập tức tâm hồn kẻ kết án trở nên nhà tù cho chính mình trong các tư tưởng xấu xa gian ác đó.

Riêng Chúa Kitô thì nhìn sự kiện xức thuốc thơm và lau chân Ngài của người phụ nữ tội lỗi là một hành động ăn năn sám hối từ một con người đang muốn trở về đường ngay nẻo chính. Và chính sự kiện và hành động ấy lại trở nên bằng chứng để nhận được ơn tha thứ từ Thiên Chúa tình yêu nhân từ. Có lẽ các tông đồ lúc đó cũng rất ngạc nhiên và có thể cũng đang phản ứng như những người Biệt Phái không chừng, nếu không có mẩu đối thoại giữa Đức Kitô và thánh Phêrô soi sáng cho. Kết luận của Đức Kitô sau cùng là:"Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít."” Như thế, tình yêu sám hối chính là việc đền tội sâu thẳm nhất của ơn tha tội.

Bài học tình yêu sám hối và ơn tha thứ của Đức Kitô sẽ luôn dạy tôi và nhân loại một chân lý sâu xa tuyệt đỉnh: Hãy nhìn tha nhân bằng ánh mắt yêu thương của Chúa, tôi sẽ cảm nhận được họ cũng chính là tôi rất đáng thương khi phạm tội. Tôi cũng như họ luôn có cơ hội biến thành người tốt khi ăn năn sám hối bằng tình yêu tha thiết của mình. Chỉ có những kẻ cố chấp, vì cứ tưởng mình thánh thiện, sẽ mãi mãi không thể đổi được các tư tưởng giả hình trong đáy sâu tâm hồn mình; và như thế họ đang tạo ra ngục tù giam mình trong ảo tưởng hạnh phúc,
thứ ngục từ của hận thù và ghen ghét. Chuyện Tin Mừng hôm nay là cả khung trời chân lý của tình yêu tha thứ và an bình từ Thiên Chúa ban cho những ai thực tâm sám hối trở về với Người.  

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế rất nhân từ, xin thương xót thứ tha tội lỡi con đã phạm đến Chúa, và xin ban cho con cái nhìn như Chúa đối với các tội nhân, để con không bao giờ kết án bất cứ ai, nhưng luôn thông cảm, thứ tha và nâng đỡ, vì họ chính là hình ảnh những yếu đuối và lầm lỡ trong đời sống của con. Amen

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 12 THƯỜNG NIÊN NĂM C
TÍNH CÁCH CHỨNG NHÂN

Đức Kitô và thập giá gắn liền với nhau như một số mệnh không thể chia lìa. Nhưng thập giá không chỉ đơn độc như một hình phạt khô khan, vô cảm và tàn nhẫn, mà nó gắn liền với sự phục sinh của Đức Kitô như chính bản tính vĩnh hằng của Ngài. Mấy ai có thể nhận ra được điều này trong thời Ngài sống! Có lẽ suốt hành trình các tường trình Phúc âm, chỉ thấy có Phêrô là người đại diện các tông đồ tuyên bố: Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa; nhưng chính ông lại chối Thầy tới ba lần. Người ta sẽ hiểu thế nào được lời tuyên bố của ông với thực tế cuộc sống chứng nhân cho Đức Kitô của Thiên Chúa? Có lẽ sẽ đoán rằng ông cũng chỉ coi ý nghĩa Kitô của Thầy như một loại tiên tri đặc biệt hơn các tiên tri, và vì sự yếu đuối và sợ hãi của con người trước cái chết, nên tính cách chứng nhân cho Thầy chưa thể hoàn tất khi đức tin còn non yếu!

Dù thế nào đi nữa, thì cuộc đời con người luôn bị giằng co giữa những cám dỗ bao vây bởi vật chất liên hệ sự sống hiện tại và sự từ bỏ chính sự sống ấy, mà Đức Kitô tuyên bố như điều kiện theo Ngài. Phêrô cũng như bất cứ ai có thể hiểu và tuyên bố Thầy là Đức Kitô trong những quyền năng và vinh quang của phép lạ, nhưng không đủ sức mạnh của đức tin như khuynh hướng tự nhiên để chấp nhận nổi Đức Kitô của thập giá. Đức Kitô - thập giá - và phục sinh sẽ luôn là bí mật sống còn của cuộc sống con người. Chấp nhận Đức Kitô cũng là chấp nhận thập giá; và dĩ nhiên sự phục sinh sẽ đến như kết quả tự nhiên của đức tin. Tuy nhiên, con đường thập giá, hay đúng hơn là con đường từ bỏ chính mình cùng với các cám dỗ chằng chịt cuộc sống, đòi hỏi con người phải có một liên hệ hết sức mật thiết với Đức Kitô, mới có thể làm cho lời tuyên bố Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa thành hiện thực. Phêrô nhờ vào mối liên hệ tình yêu này sau cùng đã chứng minh lời nói của ông bằng chấp nhận chịu đóng đinh vào thập giá như Thầy!

Bạn và tôi, chúng ta sẽ hiểu và làm gì trước lời xác định của Đức Kitô: Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào mức độ liên hệ tình yêu của chúng ta với Đức Kitô để chẳng những là lý do củng cố đức tin, nhưng quan trọng hơn sẽ giúp liên kết cuộc sống hiện tại với ơn cứu độ muôn đời qua thập giá của Đức Kitô trong những từ bỏ hằng ngày. Mỗi sự từ bỏ trong cuộc sống sẽ đem lại tự do hơn trong đức tin và tình yêu với Đức Kitô để đưa chúng ta đến gần sự phục sinh với Ngài. Vì thế, tính cách chứng nhân Kitô hữu sẽ gắn liền với mối liên hệ Đức Kitô - Thập Giá - và Phục Sinh để làm cho hành trình đức tin và ơn cứu độ của con người đạt đến sung mãn.
Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 13 THƯỜNG NIÊN NĂM C
THEO CHÚA (Lc 9:51-62)

Việc rao giảng Nước Thiên Chúa là ưu tiên số một của Đức Kitô, và do đó, của tất cả những ai theo Người, cũng như đang mang trên mình danh hiệu Kitô hữu. Trước khi biết phải rao giảng những gì về Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã dạy dỗ và đòi buộc các môn đệ Người phải nhìn rõ hướng đi, và nhất là phải biết từ bỏ chính mình cùng với các liên hệ một cách dứt khoát. Đoạn Phúc âm này cho thấy rõ những chiều hướng ấy của Chúa Giêsu.

Quả thật, hướng đi của việc rao giảng Nước Thiên Chúa trước tiên là đến để cứu chữa nhân loại đã hư đốn. Muốn cứu thì cần phải chấp nhận thực trạng hư đốn ấy. Chúa Giêsu mặc dù có quyền năng Thiên Chúa vô biên, nhưng Ngài không sử dụng nó để tiêu diệt, nhưng để cứu sống, khi Ngài trả lời hai môn đệ Gioan và Giacôbê muốn xin lửa từ trời xuống đốt cả thành không muốn tiếp đón họ và Thầy mình. Điều khác biệt giữa hai môn đệ ấy và Chúa Giêsu là sự ích kỷ còn đọng lại như rễ sâu của tội nguyên tổ trong trái tim của các môn đệ và lòng quảng đại yêu thương bao la của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Sự ích kỷ dẫn đến tiêu diệt; còn lòng quảng đại yêu thương thì dẫn đến cứu sống: Con Người đến để cứu sống, không phải để giết chết.

Thứ đến, việc rao giảng Nước Thiên Chúa đòi hỏi các môn đệ và những ai theo Chúa cần có một điều kiện rất khó: đó là phải dứt khoát từ bỏ chính mình cùng với các liên hệ cuộc sống này. Hình ảnh ba người muốn theo Chúa đã được Chúa minh thị rõ rằng bằng ba câu trả lời khác nhau, nhưng mang cùng ý nghĩa dứt khoát từ bỏ: Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu... ; Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; phần con, hãy đi rao giảng Nước Thiên Chúa...; Ai đã tra tay vào cày mà còn ngó lại sau lưng, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa. Sự từ bỏ chính mình cùng với các mối liên hệ quan trọng trong việc đi rao giảng Tin Mừng, bởi vì nó đòi hỏi chính người từ bỏ phải dâng hiến mạng sống và cuộc đời như Chúa Giêsu cho Nước Thiên Chúa. Không biết từ bỏ những mối liên hệ trước, thì không thể từ bỏ chính mình; và không biết từ bỏ chính mình, thì không thể trở thành của lễ hy sinh thập giá cứu độ.

Với thân phận con người ích kỷ và yếu đuối, chúng ta không thể một sớm một chiều thực hiện ngay được những điều Chúa dạy; nhưng với thiện chí theo Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ làm được nhờ vào ơn Chúa giúp. Tất cả các môn đệ và các vị Thánh trong Giáo Hội đang là gương sáng từ bỏ để theo Chúa cho chúng ta đó.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

ĐƯỜNG THEO CHÚA

Mới nghe những câu trả lời của Chúa Giêsu cho hai người đến xin theo Ngài trong Tin Mừng hôm nay: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; và Ai đã tra tay vào cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không xứng đáng làm môn đệ. . .", người ta có cảm tưởng những điều kiện của Chúa qúa khắt khe và hình như không hợp lý khi đang cần những người dấn thân phục vụ! Tuy nhiên khi nhìn vào chương trình "cứu độ" nhân loại của Chúa Giêsu, thì việc cương quyết lên Giêrusalem của Ngài để chấp nhận cái chết trên thập giá đã được Ngài loan báo trước, sẽ cắt nghĩa một cách hợp lý các điều kiện của bất cứ ai muốn dấn thân bước theo Chúa.

Phải, việc theo Chúa Giêsu không phải một việc tùy tiện bình thường, nhưng là theo để phục vụ Nước Chúa và chấp nhận chết như Ngài. Việc phục vụ Nước Chúa trước hết đòi dấn thân và từ bỏ quyết liệt để chia sẻ sự sống và tình thương của Thiên Chúa cho con người. Nó khác xa với việc đắc thủ quyền hành để biểu dương, nên việc hai tông đồ xin Chúa cho lấy lửa từ trời thiêu đốt những người không đón tiếp các ngài, đã bị Chúa từ chối thẳng tay, vì trái ngược với tình yêu và ơn cứu độ. Việc dấn thân phục vụ Nước Chúa luôn là ưu tiên số một, nên những việc thuộc về cuộc đời, kể cả sự sống hay chết thể xác cũng không thể được đặt lên trên. "Người ta hãy để cho những người không tìm gặp Chúa, tức những người chết lo cho những người chết khác đang sống với tiền bạc danh vọng và thế gian! Người ta cũng sẽ để cho việc lo lắng cho cha mẹ đàng sau việc lo cho Nước Chúa." Họ không thể đặt các thứ chương trình của cuộc sống con người ưu tiên hơn Nước Thiên Chúa. Thí dụ việc đơn giản đi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật là thứ yếu, nếu chưa lo xong các việc thuộc về cuộc sống như lo kiếm tiền, lo ăn uống, lo giải trí, lo du lịch. . .

Thứ đến, việc theo Chúa Giêsu là chấp nhận chết như Ngài, nên người theo Chúa cũng sẽ nhìn thấy con đường của Ngài trước hết là một sự mất mát mang tính tuyệt đối, nghĩa là mất mạng sống đời này để đổi lấy sự sống đời đời. Cứ xem những phản ứng của của các tông đồ từ ông Phêrô, người đại diện vả rất nhiệt thành, đến hai tông đồ Gioan và Giacôbê trong Phúc âm hôm nay, sẽ thấy ngay các ngài không hiểu rõ việc theo Thầy mình là chấp nhận trước hết chết trên thập giá, để sẽ được phục sinh. Phải chờ sau khi Chúa Giêsu phục sinh và Thánh Thần biến đổi, các tông đồ mới thực sự hiểu được việc theo Chúa là gì. Vì thế, nếu mới chỉ để kẻ chết chôn kẻ chết, và đừng ngoái lại sau lưng khi cầm cày, thì người theo Chúa Giêsu xem ra mới bước vào giai đoạn đầu của sự từ bỏ mà thôi, bởi vì họ chưa thực sự tham dự vào cái chết giống như Chúa.

Ngày nay, người Kitô hữu cũng suy niệm và nói rất nhiều về việc theo Chúa để xây dựng và truyền bá Tin Mừng. Họ lợi dụng mọi phương tiện khoa học tân tiến để đem Lời Chúa đến cho con người. Những việc làm đó rất đáng khâm phục. Tuy nhiên rất nhiều khi cần phải được xét lại xem có thực sự là việc làm đúng như ý Chúa muốn trong việc theo Chúa hay không. Chắc chắn trước tiên phải loại trừ các phương tiện truyền giáo để thủ lợi cá nhân cách này hay cách khác, cả vật chất lẫn tinh thần và danh dự dành cho con người. Việc theo Chúa là việc trả lời của cá nhân trong việc dấn thân quyết liệt của cuộc sống, nên việc làm của cá nhân ấy không thể là việc lợi dụng các cá nhân khác như một thay thế cho chính mình: hãy để kẻ chết chôn kẻ chết! Mỗi cá nhân theo Chúa Giêsu là một trường hợp cá biệt, nhưng tất cả đều kết thúc ở cây thập giá để có thể tiến đến sự phục sinh cho chính mình và cho cả nhân loại. Người ta sẽ không thể nhân danh "sự tự nguyện" như một lý do dễ dãi trong việc theo Chúa hay làm việc cho Nước Chúa. Chính vì thế, sự hợp lý của Lời Chúa Giêsu đã được thánh Luca đưa vào khung cảnh của thập giá ngay từ câu đầu của Tin Mừng hôm nay: Những ai muốn theo Chúa Giêsu buộc phải hiểu rất rõ Ngài đang lên Giêrusalem để làm gì, mới có thể sẵn sàng và dứt khoát với đời mình và cuộc đời được. Và một khi đã dứt khoát và sẵn sàng, thì nguồn tình yêu của Chúa sẽ là động lực thúc đẩy để người theo Chúa bưóc đi trong an bình và phó thác cho Ngài.

Chúng ta, những Kitô hữu đang bước theo Chúa Giêsu, hãy dành ít phút trong thinh lặng cầu nguyện và nhìn lại cuộc đời theo Chúa của mình. Tôi có thực sự theo Chúa không? Tôi đang theo Chúa kiều nào? Tôi theo Chúa hay tôi muốn Chúa theo tôi? Điều gì minh chứng tôi theo Chúa, trong khi tôi có qúa nhiều chỗ tựa đầu ở trần gian? Tôi có nhìn thấy cái chết đời mình trong thập giá của Chúa Giêsu không? Những việc "tự nguyện" tôi đang thực hiện trong Nhà Thờ có phản ảnh việc từ bỏ chính mình, hay chỉ là những trá hình che đậy lương tâm gian dối kitô hữu? vv. và vv. . . Cuối cùng thì chúng ta sẽ cảm nghiệm cuộc đời người Kitô hữu chỉ là sự phó thác của một tình yêu tự nguyện tuyệt đối trong thập giá Chúa Giêsu, và chúng ta sẽ vui sống như Ngài.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 14 THƯỜNG NIÊN NĂM C
BƯỚC CHÂN RAO GIẢNG TIN MỪNG

Có những vần thơ và tiếng hát mỹ miều ca tụng những bước chân rao giảng Tin Mừng. Họ là những người hạnh phúc vì thuộc về đoàn binh chiến đấu cho Nước Trời, thoát khỏi những ràng buộc cồng kềnh vật chất và các liên hệ thế tục, được Chúa ban cho quyền năng trên những thế lực nguy hại, và nhất là họ được hạnh phúc có tên ghi sẵn trên Trời. Đó là tất cả nội dung những lời vàng ngọc Phúc âm hôm nay dành cho họ.

Phải, khi gia nhập đoàn binh Nước Trời là chọn cho mình hạnh phúc thật. Nhưng không phải ai cũng tự động có hạnh phúc này đâu, vì thế Chúa Giêsu bảo các môn đệ: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người. Các thợ ấy không phải là thiên thần, nhưng là những con người được Chúa chọn trong nhân loại. Họ nhận được ơn gọi đặc biệt: Ơn gọi chiến đấu cho Nước Trời. Và như thế họ chắc chắn sẽ nhận lãnh triều thiên thiên quốc. Còn hạnh phúc nào bằng!

Khi gia nhập đoàn binh này, Chúa Giêsu muốn họ phải có một cuộc sống thật nhẹ nhàng, thoát khỏi các ràng buộc trần thế, ngay cả những cái mà người đời cho là tối quan trọng như tiền bạc, của ăn, nhà cửa... Càng nhẹ nhàng thì càng di chuyển mau lẹ, càng có khả năng bay cao. Nhưng quan trọng hơn là họ có sự an bình của Chúa trong tâm hồn. Đây là món quà quí giá nhất trên đời. Bình an của Chúa chính là hạnh phúc cho con người. Phải thoát khỏi các ràng buộc trần thế mới cảm nghiệm được điều này.

Khi chiến đấu cho Nước Trời, họ còn được diễm phúc được Chúa trao ban quyền năng trên các thần dữ và các thế lực nguy hiểm. Chính đoàn người ấy đã thốt lên: Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục chúng con. Điều khiển được cả ma quỷ thì còn quyền phép nào mạnh mẽ hơn, bởi ma quỷ bình thường mạnh mẽ hơn con người rất nhiều. Có quyền năng, khi ra đi chiến đấu sẽ rất an tâm tự tin, bởi nhân danh Chúa, họ sẽ chiến thắng tất cả địch thù.

Sau cùng và cũng là điểm kết thúc của hạnh phúc: đó là thấy tên mình được ghi trên trời. Tất cả những hạnh phúc trước không thể sánh bằng hạnh phúc này. Tên chính là người và cuộc đời. Tên ấy gắn liền với sự nghiệp và số mệnh. Tên của những bước chân rao giảng Tin Mừng gắn liền với hạnh phúc Nước Trời. Quả thực bài ca những bước chân này thật tuyệt mỹ. Chính Chúa chúc phúc, và ca đoàn thần thánh cũng như nhân loại cùng hợp xướng: Đẹp thay những bước chân rao giảng Tin Mừng!

Lm. Raphael Xuân Nguyên

SỨ MỆNH RAO GIẢNG TIN MỪNG

Dựa trên hành động và những huấn thị của Chúa Giêsu khi sai các tông đồ và các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, tất cả các Kitô hữu có thể nhìn thấy rất rõ cách thức và thánh ý của Thiên Chúa khắc ghi trên cuộc đời Kitô của mình.

Trước hết, Chúa Giêsu sai cả các tông đồ lẫn các môn đệ: Người ta hiểu chung hôm nay là Giáo hội gồm cả giáo sỹ,tu sỹ, và giáo dân. Con số 72 môn đệ là con số vĩ đại tượng trưng cho mọi tín hữu trên khắp thế giới. Do đó, công việc truyền giáo hay rao giảng Tin Mừng là công việc mà Chúa Giêsu sai cho mọi Kitô hữu. Đôi khi đâu đó vẫn còn giữ quan niệm hạn hẹp khi coi công việc rao giảng Tin Mừng chỉ dành cho các linh mục và tu sĩ!

Chúa Giêsu nhìn thấy trước các cánh đồng truyền giáo thiếu thợ gặt và những nguy hiểm mà các tín hữu phải đối diện. Về điểm thiếu thợ gặt xem ra hơi khó hiểu nếu chỉ nhìn vào cách Chúa Giêsu chọn các tông đồ: Con số 12 rất nhỏ so với xã hội thời Chúa Giêsu. Và Giáo hội ngày nay cũng chọn các linh mục gần giống như thế, vì “kẻ gọi thì nhiều, mà kẻ chọn thì ít”. Qua mọi thời đại, chúng ta luôn vững tin Giáo hội là của Chúa Giêsu, và công việc rao giảng tin mừng là ân huệ của Chúa dành cho con người. Do đó có thể hiểu việc thiếu thợ gặt trước hết vì những người được gọi rao giảng tin mừng thiếu thiện chí đáp lại (thí dụ người thanh niên giàu trong tin mừng từ chối lời mời theo Chúa); và thứ đến quan trọng hơn chính là mầu nhiệm ơn cứu độ nằm trong thánh ý Chúa. Người ta cần cầu xin để ý Chúa thực hiện nơi các tâm hồn trong việc tìm hướng về Nước Trời. Ngoài ra những nguy hiểm mà người rao giảng Tin Mừng gặp thấy trên đường: như chiên con giữa sói rừng! Lúc nào cũng phải sẵn sàng chấp nhận những nguy hiểm liên quan đến việc mất mạng sống. Đây là lý do rất thực có thể ảnh hưởng đến thiện chí những người được Chúa gọi rao giảng Tin Mừng, và cung cách sống đức tin của các Kitô hữu!

Chính vì thế khi dựa vào Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu chú trọng về nhân cách và lối sống của người rao giảng Tin Mừng. Nhân cách cần đơn sơ thoát khỏi sự cồng kềnh nặng nề của vật chất: Đi đường không mang tiền, hai áo; và không chào hỏi ai dọc đường vì tính cách cấp bách của việc rao giảng Tin Mừng, chứ không phải vì thiếu lễ độ. Ăn uống thì đừng cầu kì và nhảm nhí: hãy ăn mọi thứ thức ăn người ta dọn cho, (vì Đạo Do Thái lúc đó loại trừ một số thức ăn mà họ cho là nhơ bần, trong khi các dân tộc khác cũng ăn mà đâu thấy chết chóc gì!).

Người rao giảng Tin Mừng nên nhớ mình chỉ là những người đi mở đường, là dụng cụ rao giảng Tin Mừng của Chúa (Apolô tưới, Thiên Chúa cho mọc lên). Thiên Chúa mới đích thực là chủ thể thực hiện việc rao giảng Tin Mừng. Đây là lý do giúp chúng ta hiểu công việc rao giảng Tin mừng chính là ân huệ của Ngài dành cho con người, gồm cả người rao giảng lẫn người nhận Tin mừng.

Vì Sứ mệnh rao giảng là chữa lành và loan báo sự đến gần của triều đại Nước Thiên Chúa, nên trước hết cần phải biết ơn chữa lành là do Chúa thực hiện và ban cho những ai mở lòng đón nhận. Người ta không thể lạm dụng ân huệ của Ngài để gán cho công lao hay tài cán của mình. Trong thực tế cũng có thể vì lý do này mà Giáo Hội luôn thiếu thợ gặt tốt lành và khó phát triển! Triều Đại của Thiên Chúa chính là Chúa đang hiện diện giữa họ. Đây là sứ mệnh chính của việc Rao giảng Tin Mừng. Nếu rao giảng những gì làm mất sự hiện diện của Chúa, và ngược lại làm nổi bật cá nhân người rao giảng, thì công việc rao giảng Tin Mừng chỉ còn là trò hề múa may quay cuồng, chẳng đem lại ích lợi gì cho Giáo hội của Chúa.

Chúng ta hãy vâng lệnh Chúa luôn cầu nguyện và cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng cứu độ của Ngài cho nhân loại. Là những Kitô hữu, sứ mệnh chính của mình là rao giảng Tin Mừng, đặc biệt trong cung cách sống đức tin và thực hành đức bác ái theo những hướng dẫn của Chúa Giêsu. Nếu không làm như vậy, thì dư âm đáng buồn trong phản ảnh của những người ngoài Kitô giáo vẫn còn vang vọng đâu đây: Tin Đạo chứ đừng tin kẻ có Đạo! Và việc quan trọng là chúng ta hãy luôn phó thác cho Chúa trong ý định thực hiện ơn cứu độ của Ngài. Không nên thất vọng, vì sứ mệnh rao giảng tin mừng là của Chúa Giêsu, còn chúng ta chỉ là những dụng cụ của Người mà thôi.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 15 THƯỜNG NIÊN NĂM C
LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH

Hình như người thông luật cũng muốn khoe khoang kiến thức Lề Luật Môsê của mình với Chúa Giêsu, và ông đã hỏi vào ngay trung tâm của Luật: Tôi phải làm gì để được sống đời đời? Cho dù chính ông đã dư biết câu trả lời: Hãy yêu mến Chúa ..., và hãy yêu mến anh em... Dầu vậy, chính ông ta cũng thử thách mỗi người Kitô hữu hôm nay khi gợi lên một câu hỏi khác: Nhưng ai là anh em với tôi? Chúa Giêsu đã trả lời cho ông và tất cả chúng ta qua câu chuyện một lữ hành đi đường bị cướp và bị đánh thương nửa sống nửa chết. Ba nhân vật Tư tế, Trợ tế và người xứ Samaria tượng trưng cho mức độ thực hành Lề Luật. Đúng hơn, cả bài tường thuật Phúc âm Luca hôm nay là tiêu chuẩn của Đạo Mới, tức Đạo Bác ái cả trong lý thuyết lẫn trong hành động. Chúa Giêsu nhấn mạnh hơn trong hành động: Ông hãy đi và làm như vậy.

Có lẽ mỗi người Kitô hữu chúng ta đều thuộc nằm lòng giới răn mến Chúa yêu người, nhưng câu hỏi của người thông luật như vẫn mãi âm vang trong lòng chúng ta: Ai là anh em với tôi? Chúa Giêsu đã tìm cho chúng ta người anh em ấy chính là những người gặp nạn, những người nói chung là đang chịu đau khổ và không may mắn trên đường đời. Quả thực, muốn thực hiện Đức Bái ái của Đạo mới không hề tuỳ thuộc chút nào vào việc thông hiểu lề luật, nhưng là tuỳ thuộc vào mức độ nhân từ độ lượng của con người có trong tim mình. Chúa Giêsu không phải tự nhiên đã đề cập đến hình ảnh hai người Tư Tế và Trợ tế trong Đạo Do Thái, mà Ngài xếp người Tư Tế lên hàng đầu, đã bỏ qua không giúp đỡ khi gặp nạn nhân. Chính những vị thông luật và tư tế Do Thái giáo lúc đó đã làm méo mó hình ảnh nhân từ và yêu thương của Thiên Chúa, khi họ dạy dân một cách quá đáng về sự công bình của Thiên Chúa. Hình ảnh Thiên Chúa do đó đã xuất hiện như một vị thẩm phán thích trừng phạt và tiêu diệt. Chúa Giêsu muốn sửa lại sai lầm đó trong Đạo Mới của Ngài, một Đạo sẽ phổ quát vượt mọi ranh giới nhân loại về tình thương, khi Ngài nâng hình ảnh một người Samaria ngoại đạo nhưng có lòng bác ái. Vị tư tế chưa chắc đã có lòng bác ái bằng người ngoại đạo đâu! Do đó, Ngài cũng nhắc mỗi người Kitô hữu như vậy, kể cả những vị tư tế trong đạo mới nữa.

Hành trình cuộc đời của con người như một lữ hành dương thế, nhưng không cô độc, mà được Chúa quy tụ thành những xã hội loài người. Chúa Giêsu muốn các xã hội ấy luôn được hạnh phúc khi đem luật Bái Ái của Ngài ra thực hiện. Hãy hỏi mình mỗi ngày "Ai là anh em với tôi?" thì sẽ tìm ngay được câu trả lời đúng theo ý Chúa. Chúa Giêsu cũng đã xác định giá trị Kitô hữu chỉ khác người khác khi trong tim mình có dấu ấn yêu thương, và luôn tỏ hiện dấu ấn ấy bằng hành động đối với tha nhân trong đời.
Lm. Raphael Xuân Nguyên

TÌNH CHÚA XÓT THƯƠNG

Để hiểu ý nghĩa dụ ngôn người Samaritanô nhân lành, chúng ta có thể đọc chú giải của các Giáo Phụ, nhất là của Origen thuộc Alexandria vào thế kỷ thứ hai. Ông cho rằng:

* Người đi từ Giêrusalem đến Giêricô chính là Adam tổ phụ loài người, cũng tượng trưng cho con người sau khi sa ngã.
* Địa danh Giêrulem là Địa Đàng.
* Giêricô là thế gian.
* Bọn cướp đường là các thế lực thù địch.
* Vị Tư Tế tượng trưng Lề Luật.
* Vị Trợ Tế đại diện các tiên tri.
* Người Samaritanô nhân lành là Chúa Giêsu.
* Các thương tích của Adam chính là sự không vâng phục Thiên Chúa.
* Con lừa chở Adam đến Nhà Trọ là thân thể Chúa Kitô.
* Nhà Trọ, nơi sẵn sàng đón tiếp mọi người chính là Giáo Hội của Chúa.
* Hai đồng bạc tượng trưng cho tình yêu Thiên Chúa.
* Chủ Nhà Trọ là Người đứng đầu lãnh đạo Giáo Hội.
* Lời hứa trở lại của người Samaritanô nhân lành là hình ảnh sự trở lại lần thứ hai của Chúa Kitô.

Những lời chú giải này xem ra rất sát với ý nghĩa của Dụ Ngôn trong Tin Mừng hôm nay. Nhân vật chính Samaritanô là Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đến để cứu sống nhân loại tội lỗi bị ma qủy là các thế lực sự dữ cướp đi đời sống và sự sống đời đời. Họ ngấp ngoái nửa sống nửa chết giữa đêm đen thế gian. Họ rất cần Nhà Trọ là Giáo Hội để được ơn thánh Chúa chữa lành, nghỉ ngơi, bồi dường trên hành trình đức tin. Dụ ngôn mở ra tình Chúa bao la vô bờ bến đối với mọi người, nhất là những người đau khổ, tội lỗi lạc bước.

Nếu chúng ta, những Kitô hữu hiểu được tình Chúa trong Dụ Ngôn người Samaritanô nhân lành, sẽ cảm nhận sự dịu dàng trìu mến của tình Chúa trong tim mình; và đồng thời sẽ mở lòng thương yêu, cảm thông và tha thứ cho những người tội lỗi, lạc bước và đau khổ.

Đúng thế, trong đời Kitô hữu, chúng ta nhận được sự dịu ngọt trìu mến và tha thứ của tình Chúa không ngơi qua các Bí Tích, đặc biệt Bí tích Giải tội và Thánh Thể. Mỗi lần đến Tòa Giải Tội và nhận lãnh Thánh Thể là mỗi lần hồn ta khắc sâu tình Chúa xót thương tha thứ vì ơn chữa lành. Người Samaritanô Giêsu nhân lành lại vưc chúng ta đến Nhà Trọ Hội Thánh nghỉ ngơi, bồi dưỡng tiếp tục hành trình đức tin trên dương thế. Và khi cảm nghiệm tình Chúa thứ tha, chúng ta cũng cảm nghiệm sức mạnh thúc đẩy mình hướng về tình yêu thứ tha đối với anh chị em đồng loại.  

Tuy nhiên vẫn có không biết bao Kitô hữu chưa cảm nhận điều này trong cuộc sống hằng ngày. Đó đây vẫn vang vọng những lời than van thất vng và đau khổ do những Kitô hữu sẵn sàng lên án, kết án, bôi nhọ, vu khống và trả thù do lòng thù hận của mình. Lòng thù hận và ghen ghét là các thế lực thù địch, là bóng đen lấp đi sự dịu ngọt của lòng thương xót trong trái tim mỏng dòn dễ vỡ do vết tích của tội tổ tông. Chúng ta cứ thử quan sát và lắng nghe những cuộc chuyện trò của các Kitô hữu, sẽ thấy đa số thường hướng về chuyện của người khác mà không phải của chính mình. Những chuyện đó thường hay là chuyện xấu và do dư luận bịa đặt cho thêm bi đát hơn! Những kẻ bị thương càng đau hơn và trở thành ngấp ngoái nửa sống nửa chết trên đời.

Dụ Ngôn trong Tin Mừng hôm nay qúa sâu sắc và xuyên thấu tâm hồn chúng ta. Tình Chúa đang soi sáng và mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống Kitô hữu của mình. Chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện trước Nhà Tạm và đọc lại từng câu trong Tin Mừng hôm nay, chắc chắn sẽ cảm nhận sự hiện diện của Người Samaritanô nhân lành đang trìu mến lắng nghe tâm sự và sãn sàng vực chúng ta dậy sau những lần bị cướp bóc và bị đả thương. Chúa Giêsu, Người Samaritanô nhân lành cũng tha thiết nói với chúng ta hãy trở về và cảm thông, chia sẻ, thứ tha; đồng thời cũng học nơi Người biết vực anh chị em chúng ta đang bị thương tích nặng nề trở về với tình Chúa luôn xót thương và chữa lành.

LM. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 16 THƯỜNG NIÊN NĂM C

CHỌN PHẦN TỐT NHẤT
Trong cuộc đời, bạn và tôi đã nhiều lần có những quyết định chọn lựa cho cuộc sống mình. Có những chọn lựa bình thường liên quan đến đời sống như ăn mặc, nghỉ ngơi, mua sắm... Có những chọn lựa quan trọng hơn liên quan đến sự sống còn của cuộc sống, như chọn sống trong chế độ tự do hơn là bị kềm kẹp tù đày trong chế độ cộng sản.  Cũng có những quyết định chọn lựa cao trọng hơn liên quan đến đời sống tinh thần và đức tin, như chọn đi lễ Ngày Chúa Nhật thay vì đi Xi-nê vào cuối tuần... Tất cả những chọn lựa ấy, đâu là phần lựa chọn tốt nhất mà Chúa Giêsu muốn nói với tôi và bạn trong Tin Mừng hôm nay?
Căn cứ vào câu trả lời của Chúa Giêsu cho Mattha về Maria, em bà: “Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị ai lấy mất”, thì có thể những chọn lựa của chúng ta liên quan đến cuộc sống là đúng và cần thiết, nhưng chưa chắc đã là phần chọn lựa tốt nhất.  Hãy xem lại hoàn cảnh của hai người phụ nữ Mattha và Maria: Cả hai đều đón tiếp Chúa vào nhà mình như vị thượng khách; cả hai đều lo lắng làm đẹp lòng Chúa bằng những việc họ nghĩ là đúng... Riêng bà Mattha còn làm những việc cụ thể hơn để đãi khách khi lo dọn bữa ăn ngon cho vị khách quí, nên chính bà đã yêu cầu Chúa Giêsu hãy bảo em bà đứng lên đi giúp bà đang bận rộn với công việc cao quí đó.  Xem ra cả hai cũng chọn Chúa, nhưng chỉ có Maria được Chúa khen là đã chọn phần tốt nhất.  Phần đó là chọn ngồi bên chân Chúa để lắng nghe Lời Ngài. 

Lắng nghe lời Chúa tức là đang chọn chính Chúa.  Khi chọn ngồi yên đó để nghe Chúa nói, tức là muốn trao trọn vẹn tâm hồn, trái tim và cuộc sống cho Chúa.  Và qua cảm nghiệm lắng nghe ấy, người nghe rất dễ có thêm động lực thực hành điều Chúa dạy.  Người luôn thực hành điều Chúa dạy là người đang chứng tỏ họ yêu Chúa nhiều.  Mattha cũng yêu Chúa Giêsu, nhưng bà yêu Chúa theo cách của bà, không phải cách mà Chúa muốn bà yêu Ngài. Trong những lời cầu xin, nhiều khi chúng ta cũng hay làm như Mattha, là xin Chúa theo ý mình chứ không phải muốn ý Chúa thực hiện nơi mình.  Riêng Maria đã chọn đúng và chọn phần tốt nhất, vì khi chọn ngồi dưới chân Chúa và nghe Người dạy, bà đã trao trọn vẹn thì giờ, tình yêu và cuộc sống cho Lời Chúa hành động trong bà.

Đời sống đạo của bạn và tôi hôm nay, tuy đã chọn Chúa, và cũng thể hiện bằng nhiều hành động cụ thể như đi lễ Chúa Nhật hay làm một ít công việc bác ái, nhưng  nhiều khi chưa chắc chúng ta đã có thái độ chọn Chúa của Maria. Chọn phần tốt nhất là Chúa sẽ tuỳ thuộc vào mức độ tình yêu đang dành cho Ngài trong tim chúng ta đó!
Lm. Raphael Xuân Nguyên  

 

CHUÁ NHẬT THỨ 17 THƯỜNG NIÊN NĂM C
. . . LÀ NHỮNG KẺ GIAN ÁC. . .      

Người Việt mình hay nói: Hổ cũng không ăn thịt con. Hổ là loài thú hung dữ chuyên môn ăn thịt các loài vật khác, kể cả loài người. Thế mà hổ lại không hề ăn thịt con mình! Trong Bài Phúc âm hôm nay có một tư tưởng tương tự như thế: Vậy nếu các con là những kẻ gian ác, còn biết cho con cái mình những của tốt, phương chi Cha các con trên trời sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Người. (Lc 11:13) Chúa Giêsu gọi các môn đệ và loài người là những kẻ gian ác, nhưng vẫn biết thương con mình ... chúng ta hiểu và cảm thấy thế nào về sự so sánh này?

Trong Phúc âm Thánh Luca tiếp sau đó, không hề thấy các môn đệ thắc mắc hay phản ứng thêm gì. Hình như các ngài đã thỏa mãn với Kinh Lạy Cha, một Lời cầu nguyện tuyệt v?i mà Chúa Giêsu đã dạy họ, vì Lời Cầu Nguyện này vừa làm vinh danh Chúa, vừa đáp ứng nhu cầu con người, kể cả hạnh phúc trong tình yêu và an bình cuộc sống khi biết tha thứ cho nhau như Chúa dạy. Đúng thế, các môn đệ thỏa mãn, vì trước hết họ nhận nhấy mình không đủ kiến thức hiểu biết để cầu nguyện, họ cũng như bất cứ ai thường chỉ xin cho lợi lộc riêng mình mà thôi, chẳng hạn trường hợp bà Dêbêđê xin cho hai con được ngồi bên tả và bên hữu Chúa... Các môn đệ cũng nhận thấy lòng mình nhuốm màu gian ác khi xin lửa trên trời xuống đốt cả thành mà trong đó chỉ có vài người không chịu đón tiếp họ và Thầy mình! (Lc 9:54) Sự giới hạn của con người cho họ thấy rất rõ ràng: hôm nay thiết tha theo và yêu mến Thầy, nhưng ngày mai đã vội phản bội và trốn hết, để Thầy bị hành hạ đến chết tất tưởi một mình cô đơn trên thập giá... Còn không biết bao lần các môn đệ tỏ ra khía cạnh gian ác của con người trong ba năm theo Chúa Giêsu nữa... Như thế, sự gian ác mà Chúa gán cho các môn đệ và con người là điều thường tình, vì đúng với thân phận của họ.

Nhưng thiết tưởng quan trọng hơn, đó là dù có gian ác, nhưng vẫn biết thương con cái mình: đặc tính của tình yêu mà Thiên Chúa ghi khắc trong tim nhân loại. Từ đặc tính hay đúng hơn là khả năng yêu thương ấy, chúng ta học được sự bao dung, quảng đại và thứ tha của Chúa dành cho nhân loại như Kinh Lạy Cha Người dạy. Nhờ khả năng yêu thương, sẽ tẩy dần những khía cạnh gian ác như mây mù quanh quẩn cuộc sống, như bóng tối chập chờn giữa thiện và ác trong thẳm sâu cung lòng nhân loại. Và cũng nhờ khả năng yêu thương, con người sẽ nên giống Chúa hơn, nhờ biết làm vinh danh Chúa, làm cho nước Chúa trị đến bằng các việc thờ phượng yêu mến Người; và liên kết nhân loại như anh chị em mình trong những chia sẻ vật chất và tinh thần hằng ngày. Mỗi lần cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha là một lần đưa chúng ta đến gần Chúa hơn, vì sẽ nhận ra giới hạn và các nhu cầu cần thiết và thực sự của mình. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

VÀI SUY NGHĨ VỀ KINH LẠY CHA

Chắc chắn chúng ta sẽ thắc mắc Thánh Gioan dạy các môn đệ của ngài cầu nguyện thế nào, khi một trong các môn đệ của Chúa Giêsu xin Chúa dạy cách cầu nguyện như Thánh Gioan đang thực hiện. Người ta sẽ không có câu trả lời chính xác về điểm này, chỉ biết rằng, các môn đệ của Chúa Giêsu đã cầu nguyện bằng kinh nguyện của Đạo Do Thái trước khi theo Chúa Giêsu. Còn Gioan Baotixita với đời sống nhiệm nhặt trong rừng vắng, luôn ăn chay, nên đời sống cầu nguyện của ngài và các môn đệ cũng thường hướng về mục đích này (Lc 5:33). Những suy nghĩ này hướng chúng ta về Lời Nguyện mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ do thánh Luca thuật lại (khác và ngắn hơn thánh Matthêu): 'Lạy Cha, nguyện xin danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ'.

Lời khẩn cầu 'Lạy Cha' và ước mong 'nguyện danh Cha cả sáng. Nước Cha trị đến' giống với Matthêu và có nguồn trong kinh nguyện Do Thái. Lời nguyện hướng con người về Thiên Chúa và Triều Đại của Ngài. Mọi công việc của nhân loại và lời cầu xin cũng sẽ rập theo khuôn mẫu đời sống và lời nguyện của Chúa Giêsu.

Những lời thỉnh cầu ' Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha mọi kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ' mang tính cộng đoàn khi cầu nguyện. Chính vì thế khi cầu nguyện Kinh Lạy Cha, sẽ không nhất thiết chỉ về cá nhân riêng mình, mà mọi người cùng cầu nguyện nhân danh toàn thể Giáo hội và cả nhân loại. Khi suy gẫm điều này, chúng ta xác quyết Kinh Lạy Cha trước hết là Kinh Nguyện Chúa Giêsu dạy cho toàn thể nhân loại cầu nguyện, nên hình thức của Kinh Nguyện này thoát khỏi sự ràng buộc cục bộ của Kinh Nguyện Do Thái (nói về Đền thánh, về Giêrusalem,vv. . .), và hướng tất cả chúng ta, đúng hơn những người cầu nguyện Kinh Lạy Cha buộc phải chia sẻ với anh chị em mình về của cải vật chất (tức lưong thực hằng ngày) nếu họ đang sở hữu của cải nhiều hơn kẻ khác, nhất là những người nghèo; đồng thời phải tha thứ cho tất cả anh chị em mình, nếu muốn Nước Cha trị đến và lời nguyện xin được chấp nhận, cũng như xin cho chính mình và nhân loại không bị rơi vào cơn cám dỗ mất đức tin và bỏ Chúa! (nên nhớ kinh nguyện này bắt đầu bằng 'Chúng con' trong cả ba hình thức khẩn cầu, ước mong và thỉnh nguyện.)

Vì thế mỗi khi cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha, Chúa Giêsu dạy chúng ta một cảm nghiệm sâu sắc về tình Chúa là Cha vô biên quyền năng và tình thương. Ngài rất gần gũi đến nỗi chúng ta được mời gọi xưng hô Ngài là Cha mình, cũng là Cha của toàn thể nhân loại. Khi xưng hô Ngài là Cha, chúng ta đồng thời cảm nhận mọi người đều là anh chị em mình. Đây là cảm nghiệm đầy trìu mến yêu thương, sẽ mở cõi lòng chúng ta quảng đại bao la hơn để đón nhận, thứ tha, yêu thương và nâng đỡ anh chị em mình trong tình Cha dấu yêu là Thiên Chúa.

Tiện đây xin nhắc đến biến cố Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang viếng thăm Brazil tuần lễ 22-28 tháng 7 2013 này để gặp gỡ giới trẻ. Sứ điệp của ngài là mong ước tất cả các bạn trẻ và toàn thể Giáo Hội hãy ra khỏi chính mình để xuống đường phố gặp gỡ và đứng về phía người nghèo. Chính ngài mới đây đã nói: Phí phạm thực phẩm là ăn cắp của người nghèo. Sứ điệp của Đức Giáo Hoàng cũng đang mời gọi chúng ta cầu nguyện sát với tinh thần cầu nguyện và sống thực tế Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu đã dạy. Ước gì sứ điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô là lời nguyện sống động luôn nhắc nhở chúng ta sống Kinh Lạy Cha và đưa chúng ta vào tình yêu trìu mến của Chua là Cha; đồng thời quyện lẫn chúng ta vào tình huynh đệ nhân loại trong sự tha thứ và chia sẻ cuộc sống hằng ngày.
Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 18 THƯỜNG NIÊN NĂM C
COI CHỪNG LẦM LẪN! 

Thỉnh thoảng cũng có đôi lời tự an ủi phát ra từ những cuộc đời lam lũ vất vả, hay từ những hoàn cảnh tiêu phí hết cả cuộc đời mà vẫn không thấy thỏa mãn giàu có hơn ai, như nhìn quanh mình tất cả đều đi đến tận cùng, đi đến nghĩa trang... tại nơi đây, những kẻ giàu có hơn mình còn cơ hội tô son tô phấn đời họ lần chót bằng những lời ca tụng của gió của mây, trước khi bước vào lòng đất quê hương cát bụi cô đơn lạnh lẽo!   Khổ nỗi cuộc đời từ ngàn xưa xem ra vẫn cứ bất công giàu - nghèo, sung sướng - đói khổ, thế lực - trắng tay, danh vọng - cùng đinh... Mỗi cố gắng vươn lên là như thêm một dịp nhận chìm kẻ khác vô hình chung hay cố ý. Nhưng đó là phần ảo tưởng của cuộc đời. Phần thực sự của thân phận con người được kết thúc bằng lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay: “Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy.” (Lc 12:20-21) Lời Chúa chẳng yên ủi người nghèo, và cũng chẳng khích lệ hay lên án người giàu, nhưng cảnh cáo những kẻ Người gọi là ngu ngốc chỉ biết tiêu xài cuộc đời để tích trữ và hưởng thụ vật chất. 

Lời Chúa Giêsu xem ra làm khó dễ chúng ta quá! Sống trên đời ai lại chẳng muốn được sung sướng giàu có, vì có tiền mua tiên cũng được cơ mà. Hơn nữa Thiên Chúa khi dựng nên con người ngay từ đầu đã muốn cho họ được sống hạnh phúc; và vì lầm lỗi phạm tội, chính Ngài đã sai Con Một của Ngài đến cứu họ đó. Đúng thế, Thiên Chúa muốn tất cả mọi người chẳng những được sống hạnh phúc ở đời này, mà nhất là sẽ hưởng hạnh phúc viên mãn trên quê hương vĩnh cửu với Ngài. Tội tổ tông đã làm cho con người thường lầm lẫn giữa các thực tại giới hạn và vô hạn, nên chẳng lạ gì người phú hộ mà Chúa Giêsu dạy đã trở nên thí dụ điển hình. Ông ta có nhiều của cải vật chất hơn người, và niềm vui duy nhất của ông là ở đó. Ông lầm lẫn giữa đời sống linh hồn và thể xác, và coi vật chất là nhu cầu duy nhất thỏa mãn cho cả hai khi nói: “Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi!”   Xem ra đây là sự lầm lẫn vừa cố ý lại vừa ngu ngốc như Chúa nói, bởi vì vật chất sẽ tiêu tan, và chỉ có linh hồn mới bền vững thôi.   Câu kết luận của Chúa Giêsu: “Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy” sẽ cho chúng ta nhiều suy tư và quyết định chọn lựa.   Dù ở hoàn cảnh nào mà không để mình bị lầm lẫn giữa các giá trị hạnh phúc, chắc chắn sẽ nếm được hạnh phúc thật mà Chúa dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 19 THƯỜNG NIÊN NĂM C
KHO TÀNG VÀ LÒNG
Trong một cuốn sách thiêng liêng nói về những tương quan vật chất và tinh thần, người ta đọc thấy câu này: Các vị đạo đức khi lên tòa giảng nói về của cải vật chất thì thường khuyên chúng ta hãy bắt chước các thánh coi chúng như phân bón thế gian. Thế nhưng lại có rất nhiều người trong các vị ấy cứ tìm cách vơ cho đầy túi mình những thứ phân bón ấy...”Qủa thực đoạn sách nói rất đúng về tâm trạng của con người nói chung, bất kể họ ở địa vị nào, đều bị cám dỗ hay bị chi phối bởi vật chất rất mạnh trong suốt hành trình cuộc đời. Chúa Giêsu trong Phúc âm Thánh Luca hôm nay cho thấy rất rõ sự đối nghịch của Nước Trời và vật chất khi Ngài nói: Hỡi đoàn nhò, các con đừng sợ, vì Cha các con đã vui lòng ban Nước Trời cho các con. Các con hãy bán những của các con có mà bố thí. Hãy sắm cho các con những túi không hư nát... Vì kho tàng các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó. Trong thực tế, người ta thực sự có dễ dàng thực hiện được đề nghị của Chúa Giêsu không?
 

Có và không. Có, vì ngay lúc Chúa còn hiện diện ở trần gian, đã có mười hai tông đồ và rất nhiều môn đệ theo Đấng không có nhà để ở và gối để gối đầu! Và qua hơn hai ngàn năm trong lịch sử Kitô giáo, đã xuất hiện hàng ngàn ngàn những vị thánh chẳng những can trường từ bỏ hoàn toàn vật chất mình có để bố thí, mà còn bỏ luôn mạng sống vì tin yêu Chúa Giêsu. Ngược lại, không, vì hầu hết nhân loại hôm nay nói chung đều dành gần hết cuộc đời để đi tìm vật chất và hưởng thụ chúng quá mức cách này hay cách khác... Riêng Chúa thì vui lòng ban Nước Trời cho các con cái Người, với điều kiện họ phải biết dùng của cải vật chất để bố thí cho kẻ nghèo khó... Xem ra đề nghị của Chúa Giêsu thật gắt gao, nhưng vẫn còn lối thoát, vì Ngài chỉ đòi hỏi tấm lòng dứt khoát vật chất của ta khi biết dùng chúng để bố thí, trong khi đời sống thể xác nhân loại lúc nào cũng cần đến vật chất để có thể tồn tại. Đây cũng là cách biểu lộ đức tin và lòng mến tuyệt đối của con người trước Thiên Chúa, vì họ không thể một lúc tôn thờ hai chủ: tiền và Thiên Chúa! Sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu đặt nơi người quản lý trung tín vừa chứng tỏ lòng tin yêu của con người với Thiên Chúa, mà còn nhắc nhở họ phải biết dùng khả năng Người ban cho để điều hành vật chất trong cuộc sống và trong thế giới này để xây dựng Nước Trời. Và vật chất sẽ trở thành “những túi không hư nát và kho tàng không hao mòn trên trời”. Ai đã từng có kinh nghiệm từ bỏ của cải của mình để bố thí hoặc giúp vào việc xây dựng Nhà Chúa, đều nhận thấy mình hạnh phúc với tự do đích thực của con người “trong ý nghĩa thao thức hạnh phúc vĩnh cửu. Họ đang nếm được vị ngọt tuyệt vời và an bình của Nước Trời tại thế, vì “kho tàng các con ở đâu thì lòng các con cũng ở đó. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 20 THƯỜNG NIÊN NĂM C
NGHỊCH LÝ, NHƯNG CẦN THIẾT CỦA SỨ ĐIỆP TIN MỪNG
Đoạn Tin Mừng ngắn ngủi hôm nay như một sự nghịch lý hiếm có, nhưng lại rất cần thiết trong toàn bộ sứ điệp Tin Mừng của Chúa Giêsu rao giảng. Người ta sẽ dễ dàng hiểu lầm về bản tính Thiên Chúa trong Chúa Giêsu và sứ điệp yêu thương trong Tin Mừng của Ngài; ngược lại, những ai sẵng sàng mở rộng lòng đớn nhận Ngài và sứ điệp ấy, thì đoạn Tin Mừng này lại trở thành chìa khóa cho lý tưởng cuộc đời và ơn cứu độ của họ. Hãy thử nhìn ở cả góc độ nghịch lý và cần thiết của những lời rao giảng lạ lùng ấy!

Gọi là nghịch lý, bởi vì bản tính của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu là yêu thương, là hòa bình, là nhân ái, là hạnh phúc, là đoàn kết...; thế nhưng Ngài lại nói: "Các con tưởng Thầy đến để đem bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ..." Thực tế chia rẽ đã xẩy ra ngay lúc Chúa rao giảng Tin Mừng của Ngài, tiếp đến là thời các tông đồ và Giáo Hội tiên khởi. . . và vẫn đang làm con người chia rẽ ngay cả hôm nay và cho đến tận thế. Đúng thế, sứ điệp yêu thương của Chúa trước hết nâng đỡ và thứ tha cho các tội nhân và những kẻ yếu đuối, nghèo khó, xấu số trong xã hội, thì lập tức đụng chạm đến những người tự cho mình là thánh thiện mang tên Pharisiêu và các thầy thông luật Do thái; và cũng đụng chạm đến những người đạo đức hôm nay khi thấy mình lúc nào cũng có cuộc sống cao hơn những kẻ họ cho là thấp hèn! Sứ điệp Tin Mừng là sứ điệp chân lý của Nước Trời giải thoát khỏi bóng tối tội lỗi, sẽ lập tức đụng chạm đến những kẻ thích sống trong bóng tối của gian tham, của tiền tài vật chất, của mê đắm xác thịt, của dối trá lừa đảo!

Cũng Sứ Điệp ấy kêu gọi những ai muốn làm môn đệ Chúa phải từ bỏ đạo cũ của mình đang theo, từ bỏ nếp sống cũ ngược với Tin Mừng, từ bỏ chính bản thân và ý riêng để phó thác cuộc đời trọn vẹn cho ý Chúa và sự quan phòng của Ngài, sẽ lập tức tạo ra biết bao chống đối của những người thân, của những kẻ đã từng chung sống ý thức đạo cũ với mình, của bản năng sinh tồn theo khuynh hướng tự nhiên trong thân xác, và của cái tôi lúc nào cũng muốn tự làm Chúa cho chính mình. . . Và càng sống Sứ Điệp Tin Mừng, lại càng thấy nghịch lý hiện ra suốt dọc cuộc đời theo Chúa. Thế là cuộc chiến đấu nội tâm như phân rẽ chúng ta ra từng mảnh vụn.

Tuy nhiên Sứ Điệp Tin Mừng của Chúa trong đoạn Tin Mừng hôm nay lại vô cùng cần thiết cho hạnh phúc và ơn cứu độ cho những ai theo Chúa. Trước hết nó giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của ngọn lửa đang ấp ủ trong lòng Chúa Giêsu. Đó là ngọn lửa thanh lọc thế giới khỏi tội lỗi và cuộc sống đã bám sâu vào vật chất của trái đất này. Nếu đã là ngọc lửa thanh lọc, thì dĩ nhiên, phải nóng, phải cháy, phải thiêu rụi, và phải tạo ra chia rẽ nội tâm và ngay cả thực tế cuộc sống trong các tương quan con người và xã hội. Nếu hiểu ngọc lửa ấp ủ trong lòng Chúa Giêsu là tình yêu, thì chính ngọn lửa ấy đã được Chúa Thánh Thần làm cho bừng sáng trong Nhóm Mười Hai và trong cả Giáo Hội Chúa qua mọi thời đại, để ngọn lửa tình yêu ấy tự lan tỏa đến mọi tâm hồn trên khắp thế giới.

Thứ đến, cũng sẽ rất cần thiết để hiểu được điều mà Chúa Giêsu gọi là Phép Rửa mà Ngài phải chịu. Chúa không chỉ chịu phép rửa bằng nước của Gioan Tiên Hô trên dòng sông Giođan, nhưng Ngài đã chịu một Phép Rửa bằng chính máu Ngài đổ ra trên thập giá. Phép Rửa đó đã thanh tẩy tất cả tội lỗi nhân loại, nhưng cũng chia cắt Chúa Giêsu ra từng mảnh vụn mà những người lên án Chúa tưởng như sự hiện hữu của Ngài đã biến mất. Và cả hai hình ảnh lửa và phép rửa của Chúa cũng đang thực hiện trên thân thể Giáo Hội của Chúa, và trên từng thân thể của tất cả những ai theo Người. Đó là lý do cần thiết của ơn cứu độ trong Sứ Điệp Tin Mừng Phúc âm. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ nhận ra sự khôn ngoan và niềm hy vọng giữa bình an và sự chia rẽ mà Chúa Giêsu dạy trong đoạn Tin Mừng ngắn ngủi này. "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất."

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 21 THƯỜNG NIÊN NĂM C
QUA CỬA HẸP 

Có một vài hình ảnh cửa hẹp mà Chúa Giêsu hay nhắc đến, đó là cửa Đền Thờ Giêrusalem, nơi Ngài thường đi vào để tham dự các nghi thức thánh và giảng dạy. Cửa vào có một lối từ cuối dành cho mọi người mà thôi; hoặc cửa khác Chúa Giêsu nhắc nhiều hơn, đó là cửa chuồng chiên. Cửa này hẹp và chỉ có một lối cho cả đàn chiên vào; người chăn chiên thì gác tại cửa; hay một loại cửa khác nữa rất hạn chế và đòi hỏi người vào đúng giờ, đó là cửa phòng cưới. Mấy cô thiếu nữ khờ ngủ quên đã không được vào tiệc cưới với chàng rể ban đêm hơi giống với hình ảnh cửa hẹp của bài Phúc âm hôm nay.

Trong thực tế của Nước Trời, cửa không làm bằng vật chất, nhưng là Lề Luật và các phương tiện nên thánh, đúng hơn là các phương tiện dẫn vào Nước Trời. Nước Trời đây phải hiểu theo nghĩa trong Phúc Âm mà Chúa Giêsu nói qua các dụ ngôn; do đó, Nước Trời vừa mang tính hữu hình, vừa tồn tại vĩnh cửu, và do đó, nó vẫn tiếp tục cho đến ngày tận thế trong ý nghĩa loan báo Tin Mừng về Nước Trời. Người ta sẽ nhận ra ngay tính cách hẹp và rộng của Nước Trời nếu hiểu rõ ràng và chính xác ý nghĩa các Lề Luật, các phương tiện nên thánh và các giáo huấn của Chúa Giêsu. 

Điều quan trọng khác mà Chúa Giêsu nhắc trong Phúc âm hôm nay, đó là câu nói hơi có tính thất vọng: Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được! Nếu đọc kỹ Phúc âm trước đó về hình ảnh những người đam mê của cải vật chất, sẽ hiểu tại sao các môn đệ lại hỏi Chúa: Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ? Và câu trả lời mang tính thất vọng kia sẽ trở thành thực tế, bởi vì tính cách hẹp của cửa không hệ tại cửa hẹp, mà hệ tại tấm lòng hay ý muốn của con người. Họ muốn vào mà không vào được, vì lòng họ còn đầy đam mê và những ý muốn bất chính, hoặc tâm hồn họ không hướng về Nước Trời, mà chỉ hướng về trần thế với đủ thứ cám dỗ đưa đến sa đọa và diệt vong. Họ tự đóng cửa Nước Trời chứ không phải Chúa, bởi họ khinh thường Lề Luật và các phương tiện nên thánh cũng như các giáo huấn mà Chúa đã truyền dạy! 

Có thể nói cuộc đời người Kitô hữu theo Chúa luôn là hành trình đi vào cửa hẹp của Nước Trời. Bước đến Nhà Thờ các ngày Chúa Nhật hay tham dự các Bí Tích... gợi họ những quyết tâm không ngừng trong việc chọn Chúa và Nước Trời. Khi chọn Chúa thì cửa Nước Trời sẽ mở; nhưng khi xa Chúa thì họ sẽ tự động đóng cửa ấy lại!   Quả thực Chúa cần ta để Ngài ban ơn cứu độ; ngược lại ta rất cần Ngài để lãnh ơn cứu độ đó. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên


GIỜ MỞ CỬA VÀ ĐÓNG CỬA

Thỉnh thoảng tôi nghe vài ba người giáo dân nói (có thể thật, và có thể nói chơi) với một linh mục: Khi nào lên thiên đàng, cha nhớ kéo con lên với! Dĩ nhiên vị linh mục ấy cũng trả lời cho qua lần: Một người lên cũng chưa chắc, phương chi hai người, nặng qúa rớt xuống chắc!
Qủa thật vào Thiên Đàng là kết qủa của cả cuộc sống được dệt bằng các việc lành và các nhân đức, nhất là phải được Chúa nhận ra dấu chỉ thuộc về Người khi còn sống. Đó là những điều kiện của Bài Tin Mừng hôm nay.

Tôi cũng như các bạn sẽ giống như những người muốn cùng Chủ Nhà ăn Tiệc đến gõ xin Chủ mở cửa. Nếu được Chủ mở cửa, sẽ thuộc về số phận hạnh phúc thiên thu. Nhưng nếu bị từ chối, sẽ mãi mãi mất hạnh phúc Nước Trời bên Chúa.

Điều kiện mở cửa của Chúa cho chúng ta là bước qua cửa hẹp vào Nước Trời khi còn tại thế. Cửa hẹp xem ra đơn giản với vài ba mệnh lệnh: Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta... Cửa hẹp là sống theo ý Chúa khi chu toàn các giới răn, các lời khuyên Phúc âm và các bổn phận Kitô hữu như các thánh đã thực hiện, để có thể thuộc về và mang những dấu chỉ con cái Chúa.

Trong thực tế cuộc sống Kitô hữu, xem ra bề ngoài ai cũng đang bước qua cửa hẹp Nước Trời, nhưng rất có thể sẽ bị Chúa từ chối với những lời lạnh lùng khi đến gõ cửa:'Ta không biết các ngươi từ đâu tới'. Và cuộc đối thoại sẽ tiếp tục: 'Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi'. Nhưng chủ sẽ trả lời rằng: 'Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta'. Tại sao vậy?

Vì bề ngoài sẽ không đáng kể để trở thành một Kitô hữu đích thực! Có thể trước mắt người đời, họ xem ra rất đạo đức khi tham dự lễ hàng ngày, nhất là các lễ Chúa nhật. Rất có thể họ có mặt ở nhiều hội đoàn và tặng nhà thờ tiền bạc. Rất có thể họ thường thăm viếng bệnh nhân tại các bệnh viện hay nhà hưu dưỡng. Rất có thể, theo lời họ nói, họ đã từng ăn uống với Chúa khi rước lễ hoặc tham dự tiệc tùng gây quỹ bác ái. Rất có thể họ đã nghe Chúa giảng dạy khi tham dự không biết bao nhiêu lần các phần phụng vụ Lời Chúa. Điều bất công cho họ, dù đã làm tất cả những việc ấy, vẫn bị Chúa từ chối mở cửa vì coi họ là những kẻ gian ác!

Những kẻ gian ác là ai vậy? Dựa theo cuộc đối thoại của Tin Mừng hôm nay, chắc chắn họ là những kẻ giả hình, chỉ thi hành nghi thức, mà không đem ra thực hành Lời Chúa dạy trong đời sống. Có thể chính họ đã gây ra biết bao chia rẽ và hận thù trong gia đình, trong cộng đoàn và ngoài xã hội khi không tiếc lời kết án, dèm pha, vu khống, bỏ vạ cáo gian, nói hành nói xấu đủ mọi hạng người,
và hầu như không muốn hoặc rất khó tha thứ cho tha nhân. Họ không ngại ngùng vì lợi lộc riêng tư bày mưu làm hại và cướp cả gia tài, danh dự và cuộc sống kẻ khác. Họ luôn lén lút ngoại tình che dấu vợ hay chồng mình,vv... Nói chung không còn giới răn nào nguyên vẹn tinh tuyền trong cuộc sống nội tâm của họ. Họ đã đánh mất ý thức tội lỗi và tình yêu Chúa từ lâu lắm rồi! Điều thảm hại là chính họ không biết mình là những kẻ gian ác! Vì thế họ cứ tự nhiên gõ cửa Nước Trời để xin Chúa mờ cho, nhưng đã qúa muộn, cánh cửa sự sống đã khép lại, và đời sau làm gì còn giờ để ăn năn hối cải!

Những câu kết của Phúc âm hôm nay có vẻ lạ lùng, vì những kẻ "từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa." Chính kết luận của Chúa là những lời cảnh cáo gay gắt buộc chúng ta hãy bước vào đường lối từ bỏ mà Người gọi là hẹp; nhưng cũng là những lời khích lệ khi chúng ta vì cuộc sống vất vả lam lũ, vẫn sẵn sàng lắng nghe và thực hành Lời của Người một cách chân thành, vẫn kiên tâm chịu đựng những khổ nhục người đời lăng mạ, để yêu mến Chúa và anh chị em đồng loại, vẫn trung thành chu toàn bổn phận người Kitô hữu cộng tác với Giáo Hội xây dựng Nước Trời, vv... Và đấy là dấu chỉ thuộc về Chúa để hy vọng Người sẽ mở cửa Nước Trời cho chúng ta vào giờ sau hết.
Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 22 THƯỜNG NIÊN NĂM C
CHỖ NHẤT VÀ CHỖ RỐT HẾT 

Người Việt có câu: Phú quí sinh lễ nghĩa. Ai giàu có thường có nhiều dịp tổ chức tiệc tùng hay các hình thức gặp gỡ vui chơi, chia sẻ hoặc các dịp mang tính xã hội hay tôn giáo... với những nghi thức khác thường! Những người Pharisiêu thời Chúa Giêsu thuộc lớp người quyền hành quí phái trong xã hội. Y phục của họ trịnh trọng khác với dân thường. Trong các yến tiệc họ thường ngồi ở chỗ nhất và cao trọng mà chủ dành cho họ. Dĩ nhiên các chỗ ấy không thể so sánh với các thiết kế phòng ốc hay chỗ ngồi trong các tiệc tùng của thời đại chúng ta! Điều Chúa Giêsu nhắc về chỗ nhất và chỗ rốt hết trong các bữa tiệc vừa gợi đến lòng khiêm tốn lại vừa xác định sự hiện diện của con người mai sau được vào dự tiệc Nước Trời. Chính lòng khiêm tốn của con người sẽ cho họ cơ hội được tham dự tiệc thiên quốc và ở gần bên Chúa.  

Những hình thức mà người đời vẽ ra thường hay làm sai lạc ý nghĩa Nước Trời và tổn hại tha nhân đang cùng trên hành trình tiến về thiên quốc. Chẳng hạn, ngay trong các nghi thức tôn giáo, người ta cũng có thể tạo ra những chỗ nhất để tự mình chiếm đoạt khi khoác vào mình những danh dự hư không! Có khi trong các việc bác ái, nhiều khi vô tình những chỗ nhất cũng đang thổi phồng tính kiêu ngạo để đưa ta đến chỗ ham mê danh vọng hão huyền... Các chỗ nhất nơi công cộng là do ma quỷ và con người làm ra. Ma quỷ thì bảo con người ngồi vào hoặc “ăn đi!” thì sẽ bằng Thiên Chúa; còn con người thì tìm hết cách để ngồi vào cho cao bằng Thiên Chúa và cao hơn tha nhân. Thế là trật tự Nước Trời trần thế sẽ rối loạn và chiến tranh nội tâm hay ngoại tại bùng nổ.  

Sự khiêm tốn thẳm sâu nội tâm rất cần để phá đi những chỗ nhất vô nghĩa và hão huyền trong lòng người. Chính sự khiêm tốn ấy sẽ phanh phui ra ánh sáng những nhân danh lừa đảo, những tự khoác quyền hành để phê phán tha nhân, những thực tại giới hạn và giòn mỏng của thân phận con người hoặc những đam mê bất chính đã một thời chiếm ngự con tim và linh hồn để buộc họ sống trong ảo tưởng.   Nhờ tấm lòng khiêm tốn có được, chính Chủ là Thiên Chúa sẽ đánh thức chúng ta và mời lên chỗ cao trọng bên Chúa để dự tiệc với Người. Muốn biết mình có lòng khiêm tốn hay không, thì cứ nhìn mình xem có giống với cách Chúa Giêsu cư xử với những người mà xã hội đang cho là cùng đinh, tội lỗi, thấp hèn, thấp cổ bé miệng, đau khổ, đói khát, thất vọng, bị tù đày, bị bỏ rơi hay lãng quên... hoặc soi mình trong tấm gương thập giá sẽ thấy nguyên hình thân phận mình hiện ra trong giới hạn tận cùng, để từ đó hiểu được ý nghĩa đích thực chỗ nhất và chỗ rốt hết trong cuộc sống hôm nay của chúng ta. (Pl 2:8-9) 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 23 THƯỜNG NIÊN NĂM C

TỪ BỎ LÀ ĐƯỜNG NÊN THÁNH

 Nếu ai quan tâm đến việc nên thánh, phải nhận rằng việc chiến đấu chống lại các cám dỗ liên quan đến ý riêng và xác thịt mình, hoặc liên quan đến vật chất cũng như các thứ tương quan bất chính đưa dần mình xa Chúa, quả là việc làm hết sức khó khăn và đòi hỏi sự liên tục và trường kỳ không ngừng! Chẳng hạn, chỉ cần tìm cách loại bỏ hay chừa đi một tính xấu hoặc một tội quen phạm nào đó thôi, thì cũng có thể mất cả đời rồi không chừng. Việc nên thánh là việc cần thiết và quan trọng nhất của đời sống người Kitô hữu, vì nhờ đó họ được tham dự vào sự sống thật của Chúa và chắc chắn sẽ được hưởng vinh quang Nước Trời. Một trong những việc làm để nên thánh, đó là biết từ bỏ chính mình và những tương quan liên hệ để trao hiến cuộc sống cho Chúa. Chúa Giêsu xác định rõ ràng điều này như sau: “Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.” (Lc 14: 26-27)

Thoáng đọc qua điều Chúa Giêsu dạy, người ta có cảm tưởng điều Ngài đòi hỏi chỉ dành riêng cho các môn đệ và những ai theo Chúa một cách đặc biệt. Chẳng hạn, việc bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em, đòi kẻ theo Chúa phải dứt khoát để làm môn đệ như các học trò chọn đi theo Thầy (việc làm thường xảy ra thời Chúa Giêsu như khi một số người chọn đi theo một Rabbi nào đó). Tuy nhiên, những đòi hỏi khác của Chúa Giêsu, như vác thập giá của mình và bỏ luôn cả mạng sống mình để theo Chúa, thì lại dành cho tất cả mọi người muốn theo Ngài. Tất cả những đòi hỏi này khi mới nghe xem ra có vẻ khắt khe và khó khăn quá! Nhưng trong thực tế cuộc sống nó thường xảy ra cho bất cứ lựa chọn nào, vì khi chọn cái này thì phải bỏ cái khác, nếu muốn điều chọn lựa đó hoàn hơn hơn. Như thế, việc chọn theo Chúa để được sống với Ngài và được hưởng phúc trường sinh, thì việc này xứng đáng cho ta chọn lựa. Và khi đã chọn rồi, thì việc từ bỏ các tương quan khác, kể cả chính mình và cuộc sống, sẽ trở nên dễ dàng hơn. Thí dụ, khi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật vì muốn chọn và yêu Chúa, thì việc từ bỏ ý riêng mình và những thú vui khác sẽ trở nên dễ dàng. Nhưng vì việc từ bỏ là việc đặc thù của con đường nên thánh, nên sẽ đòi hỏi người Kitô hữu phải chiến đấu không ngừng với mọi cám dỗ làm họ xa Chúa. Việc từ bỏ chính mình và vác thập giá chính là con đường Chúa Kitô đã đi qua, và cũng là con đường cứu độ cho những ai biết từ bỏ để theo Chúa. Bắt đầu chọn hôm nay và ghé vai vác thánh giá của mình, sẽ cảm nhận và chia sẻ được tình yêu và sự sống của Chúa, Đấng yêu thương và bỏ mình vì chúng ta.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 24 THƯỜNG NIÊN NĂM C
CHA YÊU VÀ CON LẠC 

Đoạn Phúc âm hôm nay có ba câu truyện khác nhau, nhưng lại có một bố cục rất chặt chẽ, tất cả đưa về hình ảnh người tội lỗi trở về nhà Cha và do đó, mang lại một nỗi vui mừng khôn tả cho triều thầân thiên quốc. Sự trở về của người tội lỗi nói lên một quá khứ vong thân, tương tự như hình ảnh một con chiên trong một trăm con bị thất lạc, hoặc một trong mười đồng bạc bị mất; và đặc biệt qua hình ảnh đặc thù của người con hoang trở về, thì cái quá khứ vong thân của người tội lỗi không chỉ tác động trên họ, mà đúng hơn tác động mạnh mẽ trong trái tim nhân từ người Cha, Người đã sinh ra, yêu thương, nuôi dưỡng và đang mong mỏi con trở về. Chính người Cha ấy đã bị mất một người con yêu dấu, và có lẽ nỗi đau khổ của ông còn cao và lớn lao hơn sự dày vò trong lòng người con nữa! Nỗi đau khổ lớn lao bao nhiêu, thì sự vui mừng được gặp lại, được tìm thấy lại càng lớn lao bấy nhiêu. Cả ba câu truyện đều diễn tả nỗi vui mừng của người Cha và gia đình ấy như sau: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải. (Lc 15: 7)  

Qua ba câu truyện của Chúa Giêsu kể, chúng ta đọc được tình yêu cao vời trong trái tim của Ngài; và từ trái tim ấy, chúng ta cảm nghiệm được lòng nhân từ của Thiên Chúa Cha, Đấng đã dựng nên, nuôi dưỡng, yêu thương và sai Con Một cứu chuộc toàn thể nhân loại, nhất là những người đặc biệt mang danh tội lỗi. Khi ai đó phạm tội, thì tức khắc Cha trên trời bị mất đi một con chiên, một đồng bạc, một người con. Vì Ngài là Cha nhân từ, nên vội vã lao ngay vào cuộc tìm kiếm. Hành trình tìm kiếm được Chúa Giêsu diễn tả bằng việc bỏ lại chín mươi chín con chiên trong đàn; thắp lên ngọn đèn trong đêm tối để tìm đồng bạc; và kiên nhẫn ngày qua ngày đợi chờ con trở về trong tâm thức mỏi mòn yêu thương. Có lẽ chỉ những người có con bị lạc, bị mất mới có thể hiểu được một chút nỗi khắc khoải đợi chờ xum họp của Thiên Chúa với người tội lỗi thôi. Ngược lại chính bản thân con chiên lạc, đồng bạc bị mất và người con hoang, tức người tội lỗi cứ trơ trơ ra đó! Chỉ có một động lực duy nhất phát xuất từ tình yêu cao vời của người Cha, được bắt đầu bằng sự tìm kiếm của Ngài, mới biến cuộc đời của họ nên khác; đúng ra mới có thể rung động được tình trạng bị lạc, bị mất và đi hoang của họ. Khi ta phạm tội, ta cũng rơi vào tình trạng trơ trơ này! Hãy nhớ lại nỗi khổ đau của Cha mình đang thao thức mỏi mòn kiếm tìm ta, và sự vui mừng lớn lao vô cùng trên thiên quốc bừng sáng khi ta được tìm thấy. Quả thực, Thiên Chúa là Cha yêu thương ta vô cùng ! Hãy đứng lên trở về ngay mỗi khi lầm lỡ phạm tội, kẻo trì trệ thì hồn ta sẽ trơ trơ như đá, vừa vong thân, lại bị mất đi chính Ngài. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 25 THƯỜNG NIÊN NĂM C
BIẾT DÙNG TIỀN CỦA.. 

Có lẽ ai cũng cảm thấy khó hiểu về câu nói này của Chúa Giêsu: “Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời.” Chúng ta tự nghĩ, nếu đã là tiền của gian dối, cho dù qua trung gian bạn hữu thân tình, làm sao có thể mua được, hoặc được đón tiếp vào chốn an nghỉ đời đời! Người ta sẽ nghĩ sao về điều này? 

Có lẽ trước hết cần phải nhìn vào cách cư xử của người quản lý thất sủng với chủ. Ông đã khôn ngoan tìm đến sự cầu cứu cách gián tiếp từ những con nợ của chủ, bằng cách giảm bớt số nợ cho họ. Dĩ nhiên những người này chỉ nghĩ ông ta tốt, mà quên đi chủ của họ. Vì thế ông ta được Chúa Giêsu gọi là kẻ khôn khéo ở đời này (con cái thế gian). Chắc chắn Ngài không đồng hóa hành động của ông với kế hoạch tìm kiếm Nước Trời, nên Ngài đã nói: để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời. Việc mất hết tiền khác hẳn với cách cư xử khôn khéo của người quản lý. Cách cư xử của ông có thể tạm coi là sự lưu manh có ý; còn việc mất hết tiền của tượng trưng cho sự nghèo nàn trắng tay. Một kẻ nghèo như vậy (từ thân phận quản lý) sẽ được đồng hóa với những người làm công, và nhờ biết cư xử với họ, nên đã được họ thương coi như bạn bè. Đúng ra, ta có thể hiểu hình ảnh cách cư xử của người quản lý, và sự đón tiếp ông ta của những người thợ theo nghĩa bóng của tình thương mà Thiên Chúa đối xử với những kẻ nghèo khó, đặc biệt với những người biết dùng của cải đời này để tạo thêm tình nghĩa với anh chị em đồng loại (con cái sự sáng). 

Tuy nhiên, ở một phương diện nào đó của bản chất tiền bạc, thì có thể nói mọi thứ tiền của đều được coi là gian dối cả, bởi vì chúng đối nghịch với Thiên Chúa! Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được”. Biết dùng tiền của để mua lấy phần thưởng Nước Trời có lẽ thuộc phạm vi thi hành đức bác ái Kitô giáo của những ai theo Chúa Kitô. Nếu họ trung tín trong việc này, thì Chúa sẽ trao cho gia tài Nước Trời để quản lý. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc dùng tiền của gíup đỡ những người nghèo khó, giúp xây dựng các công trình Nhà Chúa cả thiêng liêng lẫn vật chất, hoặc xin lễ cầu cho các linh hồn hay thân bằng quyến thuộc. Quả thực có được sự khôn khéo của người quản lý biết dùng tiền của gian dối mua tình bạn hữu không phải là dễ! Điều này đòi hỏi chúng ta chấp nhận thân phận nghèo khó từ bản chất làm người của mình, để có thể trở về với Chúa trong tình trạng tay trắng, mới xứng đáng tỏ bày lòng tin yêu và phó thác của chúng ta nơi Ngài; Đồng thời nhờ sự chia sẻ những gì ta có với anh chị em đồng loại, mới xứng đáng tình thân với họ trên quê hương vĩnh cửu như Chúa đã phán. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên


NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN 

Hình ảnh người quản lý gian lận của cải của ông chủ trong dụ ngôn, một cách nào đó tố cáo tâm trí con người qúa lo lắng đến cuộc sống hôm nay cùng với các nhu cầu vật chất liên quan đến sự sống này. Có ai là người mà không lo lắng đến cuộc sống hiện tại! Hoàn cảnh sống đây đó có khác đó, nhưng đều có cùng mẫu số chung là tất cả mọi người đều lo kiếm sống cách này hay cách khác, tất cả đều vất vả gần như suốt cả đời lao mình vào guồng máy lao động để kiếm kết sinh nhai. Không ai có thể phủ nhận sự thật làm người này. Tuy nhiên Dụ Ngôn Chúa Giêsu nói đến người quản lý thất sủng không hệ tại việc lam lũ làm ăn, mà trọng tâm gắn liền đến sự khôn ngoan biết dùng tiền của đời này để mua lấy tình bạn hữu, đến khi chết sẽ được họ đón tiếp vào quê hằng sống, giống như việc người quản lý biết dùng tiền gian dối mua lấy bạn hữu, để khi thất nghiệp, ông ta được họ đón tiếp về nhà sống cho qua ngày!
Những suy tư trên đặt ra một câu hỏi rất lớn trong cuộc đời: Đó là làm sao có thể dung hòa giữa các lo lắng về cuộc sống vật chất và trách nhiệm người Kitô hữu trong việc xây dựng đời sống Đạo để đạt đến Nước Trời?
Tạm bỏ qua khía cạnh trong sạch hay bất lương của của người quản lý trong dụ ngôn, chúng ta trước hết cần biết dùng sự khôn ngoan của mình để  sử dụng của cải trần gian này cho hợp với ý Chúa. Ý Chúa về của cải vật chất được đề cập rõ rệt trong câu kết của Tin Mừng hôm nay: "Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc nó ghét chủ này và mến chủ kia; hoặc phục chủ này và khinh chủ nọ. Các con không thể làm tôi Thiên Chúa mà lại làm tôi tiền của được" Qua đó, ta hiểu tiền tài vật chất chỉ là phương tiện cho cuộc sống, chúng không thể trở thành mục đích tối hậu, và nhất là không thể trở thành ông chủ điều khiển đời ta. Chỉ có Thiên Chúa, Đấng dựng nên vũ trụ này mới là Chủ duy nhất và là cùng đích cuộc đời con người. Ngay cả những người chưa nhận ra hay không nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì chính họ cũng đang sống trong sự an bài và che chở của Ngài.
Sự khôn ngoan khác liên quan đến việc dùng của cải vật chất: Đó là biết tặng ban để xây dựng cuộc sống tha nhân và xây dựng Nước Trời. Người quản lý gian dối không cho đi, nhưng biết gian lận dùng của cải của chủ để mua tình bạn hữu; còn người Kitô hữu khôn ngoan sẽ biết tặng ban khi dùng của cải vật chất Chúa ban, để xây dựng gia tài Nước Trời cho mình. Cách so sánh của Tin Mừng không tuyệt đối với sự thật Lời Chúa, nhưng là một biểu tượng cho lý tưởng sống Đức Bác ái Kitô giáo. Khi biết thực hành những lời khuyên của Tin Mừng, người Kitô hữu cũng đang đóng vai trò những người quản lý của cải Chúa ban ở trần gian. Họ không được tích lũy, hay gian lận ích kỷ vơ đầy túi mình, nhưng một cách nào đó đang trở thành những vị quản lý cho tha nhân, nhất là cho những người nghèo khó.  Chính ý nghĩa đích thực của việc quản lý cũng xác định rõ các việc bác ái của những Kitô hữu không còn là những việc bố thì, mà là ban phát. Người nghèo khó không cần bố thí, nhưng là đòi được ban phát của cải Chúa trao trong tay những người người quản lý đang giữ những cũa cải ấy. Và cũng có thể quan niệm tương tự với tất cả các công cuộc bác ái và xây dựng đời sống con người hay các công trình xã hội và Giáo Hội Chúa ở trần gian.
Một khi đã trở thành người quản lý khôn ngoan, các Kitô hữu cũng đồng thời trở nên người quản lý trung thành của Chúa. Chúng ta nhớ lại Lời Chúa hôm nay: "Ai trung tín trong việc nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn; ai gian dối trong việc nhỏ, thì cũng gian dối trong việc lớn”. Và đây là sự khôn ngoan rất đẹp lòng Chúa khi người quản lý biết chu toàn trách nhiệm từ việc nhỏ đến việc lớn, từ phạm vì đời sống cá nhân đến trách nhiệm gia đình, công đoàn xã hội và đất nước, nhất là trách nhiệm đối với Nước Chúa ở trần gian và sự sống đời đời. Yếu tố trung tín có thể là yếu tố cần thiết nhất của người quản lý để trở thành khôn ngoan. Là những Kitô hữu, chúng ta rất cần trung tín với Chúa, vì trung tín là bản tính của Thiên Chúa đối với dân Ngài từ ngàn xưa và cho đến muôn đời. Khi trung tín làm người quản lý cho Chúa, chúng ta vừa biết dung hòa giữa các lo lắng kiếm tìm và dùng của cải trên đời (tức các việc nhỏ) với nhiệm vụ người quản lý Kitô giáo (là những việc lớn), và cũng tin chắc chắn Chúa sẽ đón tiếp chúng ta vào quê hằng sống với Ngài. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 26 THƯỜNG NIÊN NĂM C
NHỮNG KẺ ĂN XIN 

Lại một tên hành khất kiểu Mỹ “work for food” trông thấy dễ ghét, mình thường thấy hắn đứng ở ngã tư Garden Grove - Fairview, thế mà hôm nay đã lại “move” tới góc Euclid và McFadden rồi! Hắn không có gì thay đổi, vẫn tấm bảng trên tay và đầu tóc bù xù trong bộ quần áo cũ rích xông mùi hôi tanh tàn nhẫn! Gặp hắn là mình quay ngay cửa kiếng xe lên cho an toàn. Một ngày trên đường đi về làm việc, ít ra cũng gặp được vài ba tên ăn mày kiểu ấy. Men! Ở xứ Mỹ văn mình này mà cũng có ăn mày ăn xin, lạ thật! Đó là kiểu Mỹ; còn kiểu Việt cũng khối ở phố Bolsa, lê la trong các quán ăn cả ngày lẫn tối. Những chàng này khi thì bán đồ, khi lại trâng trâng ngửa tay trực tiếp xin vài ba đồng cho bữa ăn cứu sống. Mình gặp thấy mấy chàng lì lợm này đến chán ngấy cho cái văn minh bốn ngàn năm văn hiến! Tẩu vi là thượng sách. 

Người ta có lần bảo mình, trong số những kẻ ăn xin ấy, đôi khi cũng lẫn lộn mấy đứa triệu phú không chừng, hoặc vài ba đứa trá hình hút xách hay chích choác. Tin hay không tin cũng ở mình cả, nhưng phần tin thì may ra chỉ một phần trăm, chứ đã triệu phú rồi mà làm nghề ăn xin kiểu đó không phải là dễ; còn chích choác mà ăn xin nào có ai cho. Thì cứ coi họ là những kẻ ăn xin thật thì sao? Nếu thế thì có thể họ là những tên Lazarô lở loét lê la ăn xin trước cửa nhà người phú hộ không chừng. Mình bỏ qua hay tránh họ cũng phải, bởi vì đứa nào trên đời này cũng phải lam lũ mần ăn cơ mà. Không chịu mần thì ăn xin là phải rồi. Nghĩ thế cũng thấy dễ chịu đôi chút. Nhưng khổ nỗi Chúa Giêsu lại bảo sau này những tên ăn xin Lazarô ấy lại được ngồi trong lòng tổ phụ Abraham, còn những người phú hộ kiểu mình lại bị giam dưới đáy địa ngục nóng nảy vô cùng! Nhức nhối thật! Làm sao lại như vậy? Có phải là sự công bằng hay không? Nghĩ mãi cũng chẳng hiểu được điều Chúa nói! Chấp nhận hay không thì đây cũng là sự công bằng: “Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Lazarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Lazarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ! 

Sự công bằng đúng thật! Hai thế giới luôn luôn trái ngược: Ở đời này kẻ mang thân phận triệu phú keo kiệt nhưng lại ăn uống xa hoa cho riêng mình, còn Lazarô mãi mãi là kẻ ăn xin nghèo khó trước cửa nhà người triệu phú! Nhưng ở đời sau, thì Lazarô được làm con tổ phụ Abraham, riêng kẻ triệu phú trong lửa hỏa ngục xa cách muôn trùng. Sự công bằng có là do trái tim chai đá không lay động của người triệu phú cứ thản nhiên trước sự thảm hại bi đát của kẻ ăn xin Lazarô! Vô cảm và chai đá: Sợ quá! May thay mình vẫn chưa là kẻ triệu phú đời sau, vì còn nghe được Lời Chúa hôm nay. Hy vọng những con đường mình qua lại từ nay sẽ nở hoa tình thương khi tim mình biết đổi thay, và hình ảnh những kẻ ăn xin sẽ thân tình hơn với mình.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 27 THƯỜNG NIÊN NĂM C
CÙNG LÀM CỦA LỄ...  

Chuyện từ một ngôi thánh đường mới: Sau khi xây xong, người ta ăn mừng khánh thành rối rít. Tiếng vang đồn ra đó đây. Cha Xứ đi đến đâu cũng khoe mình vừa mới quyên tiền xây xong Nhà thờ đó. Lúc nào chữ nhà thờ của tôi cũng ở trên miệng ngài. Đến Ban Chấp Hành cũng cùng ca bài ca ấy như Cha xứ mình. Ông nào cũng tự nhiên phát biểu: Nhờ chúng tôi mà ngôi thánh đường mới hoàn thành được. Nhà thờ chúng tôi mới cáo và đẹp nhất vùng! Thôi thì ai cũng hãnh diện và nhận vào mình những công lao không ngớt. Và chuyện phản phé từ đa số giáo dân trong giáo xứ và cộng đoàn xảy ra. Một vài lá thư rơi gửi cha xứ xin ngài đừng tự khoe khoang nữa, bởi vì tiền xây cất là do chúng tôi đóng góp chứ đâu phải công lao riêng của cha hay của ai. Tội nghiệp thật! Còn đám đối nghịch với Ban Chấp Hành thì tìm hết cách nói hành nói xấu để giáo dân đừng tín nhiệm họ nữa. Ngôi thánh đường vẫn còn đó, nhưng đang bị những vầng mây xám kiêu căng từ lòng người bay lên che khuất vẻ huy hoàng!  

Trong Phúc âm, hình ảnh Chúa Giêsu một mình trên núi cầu nguyện luôn hiện ra đậm nét. Có lần Ngài chữa lại quan niệm của người phụ nữ Samarita nói về cha ông của bà cho rằng Thiên Chúa ở đây hay ở đó, ở đền thờ Giêrusalem hay ở trên núi này. Tất cả đều sai lạc, bởi vì Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng vô hình. Ngài ngự trị khắp nơi. Người ta phải thờ phượng Ngài trong tinh thần và trong chân lý (Jn 4:20-24). Trở lại chuyện ngôi thánh đường: chỉ nguyên gọi là một giáo xứ đa chủng, đa dạng và đa văn hóa thôi, thì việc tự nhận công lao hay nhà thờ cho riêng mình đã sai mất rồi, ấy là chưa nói nhà thờ thuộc về giáo hội, thuộc về Chúa đó. Nếu loài người nhận nhà thờ riêng của họ, và vận danh dự vào cho mình, thì có lẽ Thiên Chúa sẽ phải tìm chỗ khác để ở cho yên thân Ngài, vì Ngài luôn yêu chuộng hòa bình, Ngài là vua hòa bình và Ngài không thích chiến tranh.   Điều làm cho ngôi nhà thờ vật chất có giá trị là do bởi lòng quảng đại dâng cúng đóng góp phát xuất từ sự hy sinh thật tình như của lễ chung góp vào lễ hy sinh thánh giá của con người. Lúc đó, mọi cá nhân sẽ hòa hợp nên một như của lễ duy nhất, và tự nhiên họ được hòa tan trong sự hiện diện của Chúa Kitô thập giá ở đó. Chúa Kitô dạy chúng ta về sự hy sinh này: “Phần các con, khi làm xong mọi điều đã truyền dạy các con, thì các con hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô dụng, vì chúng tôi đã làm điều chúng tôi phải làm.” (Lc 17:10) Phải, bởi vì Chúa thích tấm lòng hy sinh chứ không phải của lễ. Đẹp đẽ thay hình ảnh Đức Kitô thập giá uy nghi trên cung thánh và ngài đang tế lễ trên bàn thờ sống động qua thân phận vị linh mục khiêm tốn cùng với của lễ hy sinh của đoàn chiên Chúa chung quanh bàn thờ!  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 28 THƯỜNG NIÊN NĂM C
TỎ LÒNG BIẾT ƠN  

Nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề biết ơn Thiên Chúa cho chính mình khi chính Chúa Giêsu lên tiếng: Chớ thì không phải cả mười người được lành sạch sao... , mà chỉ có người ngoại bang này? Một sự thật chắc chắn là Thiên Chúa không cần sự biết ơn của loài người để đóng góp vào vinh quang cho Ngài, vì trước khi dù cả mười người phong cùi tỏ lòng biết ơn, thì Chúa Giêsu đã thương chữa họ cả rồi (huống chi chỉ có một người trở lại tạ ơn Chúa). Điều con người phải làm là luôn biết tỏ lòng biết ơn Chúa và thờ phượng Người, bởi vì sự hiện hữu của họ, khởi đầu cho tất cả hạnh phúc, bao gồm cả hạnh phúc đời đời, đều đến từ Thiên Chúa. Do đó, điều Chúa Giêsu nhắc về lòng biết ơn của người Samaria không hẳn là trách mắng sự vô ơn của chín người Do thái, mà đúng ra Ngài muốn ca ngợi người Samaria đã sớm nhận ra quyền năng Thiên Chúa trên mình. Người này cũng giống như Mẹ Maria biết ca ngợi những kỳ công Thiên Chúa làm cho Mẹ trong Kinh Magnificat. Chính vì thế, sự biết ơn ở đây cũng đồng nghĩa với việc nhận ra quyền năng Thiên Chúa. 

Trong cuộc sống nhân loại, không thiếu gì những con người ít tỏ ra lòng biết ơn này, nghĩa là ít khi nhận ra quyền năng Thiên Chúa trên đời mình. Có thể có nhiều lý do, chẳng hạn như chín người phong cùi mà Chúa Giêsu nhắc đến, trước hết dù biết mình được khỏi bệnh mà vẫn yên lặng không chịu tung hô ngay kỳ công Thiên Chúa. Mỗi sáng thức dậy thấy mình còn tràn đầy sự sống chính là một phép lạ vĩ đại, nhưng mấy ai biết cảm tạ Chúa! Điều này dẫn đến lý do khác là có thể vì nhận được nhiều ơn lành quá lại hóa ra nhàm chán. Lý do thứ ba có thể vì xấu hổ, giống như chín người phong cùi sợ những người khác không tin họ đã lành mạnh, nên không dám tuyên xưng đức tin vào quyần năng Chúa. Ơn đức tin vào Chúa là một ơn vĩ đại nhất, nhưng mấy ai biết luôn cám ơn Chúa; ngược lại có khi coi bổn phận đi Lễ Chúa Nhật là sự bắt buộc chẳng đặng đừng! Lý do thứ bốn có thể là do lòng ích kỷ sẵn có trong bản tính con người, ít khi dám tỏ lòng biết ơn Chúa bằng sự quảng đại dám cho đi những gì mình có khi cần, nhất là trong việc xây dựng Nước Chúa. Sự im lặng của chín người phong cùi diễn tả lòng ích kỷ này. Quả thực, Chúa không cần ta biết ơn Ngài, nhưng bổn phận biết ơn Chúa là thuộc về ta. Thánh Phanxicô Assisi có thể là tấm gương biết ơn Chúa đẹp nhất, khi Ngài luôn ca tụng những kỳ công Chúa trên trần gian và trên cuộc đời. Ai cũng yêu thương người có lòng biết ơn, nhất là Thiên Chúa. Ngại gì mà ta im lặng khi hằng ngày đang nhận vô vàn ơn lành Chúa ban cho mình.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 29 THƯỜNG NIÊN NĂM C
KIÊN NHẪN CẦU NGUYỆN 

Chắc hẳn không ai dám nghĩ đến và muốn câu sau cùng của Bài Phúc âm hôm nay sẽ thành sự thật: Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Nếu thế thì tất cả hạnh phúc đời này và đời sau sẽ tùy thuộc vào đức tin và việc thực hành đức tin của ta hôm nay. Một trong những việc thực hành ấy là sự kiên nhẫn cầu nguyện như Chúa Giêsu đã dạy về thái độ của bà góa quấy rầy vị thẩm phán bất lương. Ông này vì sợ nhức óc do những lời kêu ca của bà, nên đành phải minh oan cho bà! Ở đây có hai điều hữu ích trong việc thực hành đức tin, đó là sự kiên nhẫn cầu nguyện và việc nhận ra thời giờ cũng như cách thức Chúa nhận những lời cầu xin ấy. 

Về sự kiên nhẫn cầu nguyện diễn tả lòng tin nơi Chúa có thể coi như việc thờ phượng tung hô và tin tưởng liên lỉ vào quyền năng của Ngài. Những lời cầu hay ca ngợi của ta với Chúa có thể rất nhàm chán như những lời quấy rầy của bà góa với vị thẩm phán, nhưng sự kiên nhẫn ấy là lại việc tin tưởng tuyệt đối của ta nơi Chúa, bởi ngoài Ngài ra, chẳng ai có thể ban cho ta ơn cứu độ đời đời và hạnh phúc từng ngày hôm nay. Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn quấy rầy Chúa, thế nào Ngài cũng cho điều ta cần.  

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn chính là nhận ra thì giờ và cách thức Chúa ban ơn lành cho ta. Thì giờ có thể coi như những điểm hẹn, những thời điểm trong cuộc đời; còn cách thức có thể xem như những gì tốt nhất cho cuộc sống. Những điểm hẹn hay thời điểm trong cuộc sống thì bàng bạc trải dài suốt cả đời ta. Chúng có thể là tích cực và tiêu cực, nghĩa là cả tốt lẫn rủi ro, bởi vì như thánh Phaolô nói tất cả đều tốt cho kẻ có lòng mến Chúa. Cuộc minh oan của vị thẩm phán cho bà góa chưa hẳn đã hoàn toàn may mắn, nên cần phải đợi chờ! Còn cách thức Chúa ban ơn lành lại quá xa vời với ý nghĩ nhân loại. Những gì ta nghĩ là cần là tốt cho mình, thì có khi Chúa lại không muốn như vậy. Nếu thế, Con Một Giêsu của Ngài đã không ngại chọn chết trên thập giá thay vì cách khác nhẹ nhàng hơn để cứu độ nhân loại. Về điểm này, ta phải nhận rằng mình bị giới hạn trong thân phận nhân loại, nên không thể hiểu được rõ ràng ý Chúa cho cuộc đời mình, chỉ biết rằng ý Chúa chắc chắn sẽ tốt hơn cho ta.   Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn cầu nguyện và tin tưởng vào Chúa, thế nào cũng được ơn cứu độ, điều mà ai cũng rất cần cho phút sau cùng của cuộc sống mình. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 30 THƯỜNG NIÊN NĂM C
LỜI TÂM SỰ 

Bạn ơi, cho tôi tâm sự nhé, điều tôi nghĩ và viết không phải những lời dạy đời, bởi Đức Kitô là Thầy dạy tuyệt vời nhất của chúng ta rồi. Những gì tôi viết chỉ là những lời cầu xin và sự chia sẻ đơn sơ thô thiển từ tấm lòng khiêm tốn và trí khôn thấp hèn đó thôi. Bởi vì trước Thiên Chúa và trước Đức Kitô Thánh Thể, tôi chẳng dám ngẩng mặt nhìn Ngài. Tôi thường chọn những nơi vắng lặng, những lúc xa xôi với đời để tâm sự cho riêng mình với Đấng tôi ước ao được yêu và được tôn thờ Ngài. Tôi ước muốn lời tâm sự của tôi là tâm tình của kẻ đứng cuối nhà thờ cầu nguyện, không dám ngẩng mặt lên vì thấy mình yếu đuối tội lỗi! Tôi chẳng được may mắn có nhiều công lao như người cầu nguyện trên cung thánh bàn thờ! Lời tâm sự của người viết này hơi giống thái độ khiêm tốn của người tội lỗi cầu xin, nhưng trong thực tế, mấy ai chịu khiêm tốn khi thấy mình được thiên hạ ca tụng. Riêng người này lại ước ao được chìm đi trong cõi tĩnh mịch thần thiêng. Người này và kẻ tội lỗi cầu nguyện cũng là một. Điều làm ta suy nghĩ là tại sao mình không thể chấp nhận thật lòng đức khiêm nhu khi cầu nguyện hay ca tụng Thiên Chúa, cho dù bên ngoài xem ra có vẻ khiêm hạ, nhưng lời cầu xin và ca tụng lại là những lời khoe khoang hay đòi hỏi của kẻ đứng trên cung thánh bàn thờ? 

Bạn ơi, mình thử đo sự khiêm tốn ấy coi. Điều bạn và tôi hay làm tỏ tường nhất là đến tham dự Thánh Lễ, nhất là vào các ngày Chúa Nhật. Lời cầu xin trước hết của tôi và bạn là ca tụng Chúa. Nhưng những lời ca tụng ấy thường trống vắng vô nghĩa, bởi tôi và bạn đang trôi vào dòng đời mênh mông của sự băn khoăn và suy tư riêng cho đời mình; có khi lại bị cuốn hút vào những tiếng thanh la khua vang ầm ĩ, những cảm giác ngoài da thay vì tâm tình biết ơn và tôn thờ nội tâm chân thật. Tâm tình của tôi và bạn là của người cầu xin trên cung thánh bàn thờ lúc nào mất rồi! Điều khác hiển nhiên hơn, đó là khi nghe Lời Chúa qua các bài đọc, nhất là qua bài giảng của vị chủ tế, bạn và tôi ít khi chú tâm, mà nếu có để ý, thì những phản ứng ngược lại thường đến trong nội tâm mình, thay vì khiêm tốn đón nhận ý Chúa áp dụng cho mình, thì lại đổ dồn về người khác, có khi đổ lên người giảng không chừng! Thánh Lễ là phương tiện duy nhất và đẹp nhất, vì là đỉnh cao của ơn cứu độ cho tôi và bạn, nhưng thời gian một tiếng đồng hồ sao dài lê thê và nhàm chán quá! Đến đó bạn và tôi như luôn phải ca đi ca lại điệp khúc một ngày như mọi ngày, em trả lại đời tôi... Thời gian trôi đi là thời gian khảng kháng. Sự phản kháng xem ra nhẹ nhàng và có lý của tôi và bạn. Chúng ta đang cầu nguyện như kẻ vênh vang trên cung thánh bàn thờ. Lời cầu nguyện của chúng ta đang nằm ở đâu trong lòng Chúa bây giờ? 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 31 THƯỜNG NIÊN NĂM C
HĂM HỞ GẶP CHÚA 

Có khi nào ta đánh giá Chúa bằng sự đo lường mức độ của cải vật chất mình nhận được khi cầu xin với Ngài không? Nếu việc này xảy ra thì có thể kéo theo vài ba hậu quả trong cái nhìn của con người về cuộc sống hiện tại: Đó là sẽ thêm cảm tình mến Chúa nếu được Chúa nhận lời; hoặc sẽ lơ là nguội lạnh và từ từ xa Chúa nếu bị Ngài từ chối hoặc chưa được đáp lời; và điều này gọi đến một tình trạng khác: đó là đặt đức tin của mình trong tình trạng nguy hiểm khi đồng hóa vật chất với lòng quảng đại và tình yêu vô biện của Thiên Chúa, trong khi mình rất ít hoặc chưa hề quảng đại đối với ai, hay đã từng là nguyên nhân tạo ra sự thê thảm cho cuộc đời mình! Điều suy nghĩ trên đây không hề đúng chút nào với cách ông Gia-kêu cư xử với Chúa Giêsu. Phúc âm hôm nay mô tả ông với vài chi tiết rất đặc biệt: “...vì người ta quá đông, mà ông lại thấp bé... nên chạy trước, trèo lên một cây sung để nhìn xem Chúa Giêsu...” Sau khi gặp được Chúa Giêsu, ông tuyên bố: “Lạy Ngài, tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó, và nếu có làm thiệt hại cho ai điều gì, tôi xin đền gấp bốn. 

Ở nơi Giakêu, người ta học được bài học đầu tiên về sự hăm hở khát khao muốn gặp được Chúa Giêsu, và tiếp đến là lòng quảng đại của ông đối với kẻ khó nghèo. Tại sao ông lại có những hành động “tức cười” và “liều mạng” như vậy? Thưa bởi vì ông đang là nạn nhân của những người Pharisiêu bị liệt vào hàng những người tội lỗi, không xứng đáng làm người, bởi đã lỡ một lần làm nghề thu thuế. Sự hăm hở khát khao gặp Chúa Giêsu cho thấy ông rất muốn được nhìn xem một Đấng vừa có quyền năng, lại vừa có lòng nhân từ bao dung tha thứ đối với các tội nhân như ông. Dù chưa biết Chúa, mới chỉ nghe thôi, ông đã tin Ngài rồi. Ông không hề đo Chúa bằng cầu xin thêm của cải vật chất, ngược lại chỉ muốn được tự do trong tâm hồn và cho đi. Vì thế, Chúa đã dừng lại, gọi ông, muốn trú ngụ tại nhà ông và ban cho ông cũng như cả nhà điều ông mong ước: “Hôm nay, nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất.”  

Chuyện Giakêu xem ra là chuyện thật đơn giản của ơn cứu độ: chỉ cần ước ao gặp Chúa và ơn cứu độ của Người, thì lập tức được thỏa mãn. Nhưng coi thế chứ không phải thế, bởi khi lòng ta còn cân đo Chúa bằng vật chất, hoặc cứ muốn ở lì trong tội, thì sẽ khó đứng lên và trở về như Giakêu được. Giakêu chính là hình ảnh của một người tự do đích thực, vì hồn ông được ngụp lặn trong suối nguồn ơn thánh Chúa. Hãy đứng lên, chạy đi trước và trèo lên cây... để nhìn Chúa, sẽ thấy bầu trời tình thương Chúa bao la hơn, và lòng ta sẽ từ từ biến đổi: Tôi xin bố thí nửa phần của cải tôi cho kẻ khó...để đổi lấy Chúa, vì chỉ mình Chúa đã đủ cho tôi rồi! 

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 32 THƯỜNG NIÊN NĂM C
TỰ DO VĨNH CỬU 

Người ta thi vị hóa sự chết và gọi chết là đi xuống ngàn đời, một sự xa cách thăm thăm ngàn trùng với sự sống. Quả thực chết luôn đối nghịch với sống, bởi người chết luôn im lặng bí mật, chỉ người sống mới ồn ào tranh cãi, nói năng. Và thực tế là không ai muốn chết cả, vì chết là ngõ cụt của mọi ước mơ, hy vọng và hạnh phúc đang nắm bắt trong tầm tay của sự hiện hữu. Đối với phái Sađốc trong Phúc âm hôm nay, vấn đề không phải là chết, nhưng là không tin có sự phục sinh của sự chết nơi con người. Họ có thể được gán cho danh xưng hệ phái hiện sinh luôn day dứt và thao thức với sự sống hiện tại, để từ đó tỏa ra nỗi khát vọng hưởng thụ vội vã mảnh đời mau qua trong những chụp bắt hoặc nắm bắt hữu hình. Nhưng đó lại là ngõ cụt của sự hiện hữu. Ngược lại, Đức Kitô xác định minh nhiên về sự sống, nhất là sự sống lại trường tồn của đời người, chẳng những bằng niềm tin vào Ngài, mà còn bằng thực tế phục sinh nơi thân xác của Ngài sau khi đã yên giấc trong mộ ba ngày. Riêng trong bài Phúc âm hôm nay, Ngài mở ra cho con người sự bừng sáng của sự hiện hữu trường tồn: Khi sống lại, người ta không còn cưới vợ gả chồng, nhưng sẽ sống như các thiên thần trong Nước Thiên Chúa.  

Ở cuộc sống hiện tại, người ta không muốn mất đi sự sống được gắn liền với các “khâu” cuộc đời mà họ đã xây dựng. Thực ra, nó chỉ là những gì quá nhỏ bé nếu đem so với thế giới bao la như mênh mông vô tận. Những người Sađốc nêu vấn nạn không tin vào sự sống lại với Chúa Giêsu, ngoài cái “trick” sau này cô sẽ là vợ ai trong bảy anh em cô đã lấy làm chồng ở đời này, quả thực còn tố cáo nỗi khát vọng hưởng thụ của con người chỉ có trong tầm tay hôm này. Như thế, ta có thể nói, sự giới hạn của sự sống trong thân xác chính là cản trở mở ra thế giới bao la siêu việt và vĩnh cửu. Nên sự chết từ đó sẽ không còn là việc đi xuống ngàn đời hoặc im lặng thăm thẳm ngàn trùng, nhưng sẽ là sự giải thoát sống động và chân thật cái giới hạn tù đày của thân xác đời này. Việc sống như các thiên thần của con người sau sự phục sinh của họ mà Chúa Giêsu mạc khải chính là sự vô biên của sự sống bất tận. Người ta sẽ không còn bị lệ thuộc bởi vật chất “tro bụi” trong thân xác nữa, nhưng sẽ tự do trong suốt vượt mọi biên giới của sự sống hiện tại. Chúa Kitô phục sinh là hiện thân của sự tự do này. Bởi thế, khi ngắm nhìn người chết, ta sẽ thấy nỗi bình yên vô tận và quyền năng của tinh thần bất tử đang bao bọc chính ta. Người ta có thể gọi đó là tự do vĩnh cửu, vì nó luôn sống động, di chuyển và biến hóa trong sự phục sinh với Đức Kitô, và nhất là hòa tan trong sự sống thật của Thiên Chúa, để có thể luôn sống trong trạng thái “như các thiên thần”.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 33 THƯỜNG NIÊN NĂM C
CỨ YÊN BÌNH BỀN VỮNG  

Có những chủ trương cá nhân cho rằng: Ngày tận thế làm gì có, người ta sợ năm 2000 là cái mốc, nhưng đã qua đi! Đừng bi quan tự dọa nạt mình, hãy cứ tự nhiên hưởng mọi thú vui cho ngất ngây cuộc đời. Có lẽ ta cũng nên tôn trọng tự do cá nhân như thi sĩ Dante chủ chương: tôi có thế giới riêng tôi, bạn có thế giới riêng cho bạn. Tuy nhiên, trong ánh sáng Kitô giáo dưới những mạc khải của Thánh Kinh, đặc biệt trong Lời Chúa hôm nay, thì ngày tận thế phải có và phải đến, chỉ có điều ngày ấy đến lúc nào thì không ai biết. Những gì mà Chúa Giêsu tiên báo liên quan đến ngày tận thế đã, đang và chắc chắn sẽ xảy ra. Chẳng hạn gần với thời của Ngài là Đền Thánh Giêrusalem đã bị bình địa hoang tàn vào năm 70 sau đó. Các biến cố khác như chiến tranh, giặc giã, đói khát, động đất, chết chóc, nước này nổi lên chống với nước kia... thì cứ lai rai ập đến nhân loại không ngừng hết thời này qua thời khác, dưới hình thức này hay hình thức kia! Rõ ràng nhất là sự tận cùng đời người của mỗi cá nhân con người. Mỗi ngày có không biết bao nhiêu nhân mạng tan biến đi thành tro bụi trên mặt đất này. Như thế, điều Chúa Giêsu dạy về ngày tận thế không phải là sự dọa nạt, nhưng luôn là cảnh tỉnh để đưa chúng ta về cuộc sống an bình, hạnh phúc trong sự đợi chờ của niềm tin và lòng cậy trông vững vàng vào sự quan phòng và quyền năng Thiên Chúa.  

Quả thực đối với một người chấp nhận ngày tận thế, đặc biệt cho riêng mình, họ sẽ nhận ra ngay sự thật cuộc sống này như hoa sớm nở chiều tàn. Những bông hoa cứ bình yên vui tươi khoe sắc phô màu tô đẹp cuộc đời; còn những cánh bướm chẳng cần lo nghĩ về phút giây ngắn ngủi hiện tại, cứ nhởn nhơ tung tăng trước gió vui đùa với hoa. Sự bình yên của hoa với bướm là hạnh phúc của sự sống nơi những ai đã được sinh ra bởi Chúa, sống trong Chúa hôm nay và chờ đợi Chúa trong tương lai. Đó có thể là một trong vô vàn thái độ chọn để chấp nhận ngày tận thế cho riêng cá nhân mình. Nhưng có lẽ điều mà ai cũng phải làm để chấp nhận và chuẩn bị ngày tận thế hơn cả, đó là thi hành điều Chúa Giêsu dạy: “Các con cứ bền đỗ, các con sẽ giữ được linh hồn các con.” Sự bền đỗ không phải là trạng thái thụ động đợi chờ hay chịu vậy, nhưng diễn tả một hoạt động can trường, xây dựng cuộc sống không ngừng trong đức tin nhẫn nại, trong tình yêu trung thành và ơn thánh với Chúa, Đấng ta nhận làm Chúa, làm Người yêu muôn thuở và hạnh phúc bất diệt. Và như thế, ít ra trong đức tin, ta đã chấp nhận ngày tận thế cho riêng mình, thì chắc chắn nó sẽ xảy ra cho toàn thế giới và cả vũ trụ trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Sự bền đỗ chính là hạnh phúc bình yên vô tận cho ta.  

Lm. Raphael Xuân Nguyên

CHUÁ NHẬT THỨ 34 THƯỜNG NIÊN NĂM C: LỄ CHÚA KITÔ VUA
VUA KITÔ, QUYỀN THIÊN CHỦ  

Hình ảnh Vua-tôi vẫn còn thấy và có lẽ mãi mãi vẫn thấy trong Kitô giáo, khi mỗi Kitô hữu nhận Chúa Giêsu là Vua của mình. Quan niệm này trong dân gian trải qua lịch sử nhân loại thường bị thay đổi khi các chế độ chính quyền chọn để cai trị dân mình. Ở một thời rất dài của nhân loại, người ta chọn theo quân chủ, nghĩa là trong nước có Vua đứng đầu, còn tất cả đều là thần dân. Khi tiến đến tự do nhiều hơn, thì nhân loại thích chọn chế độ dân chủ để diễn tả bản tính và tài năng phong phú của mỗi cá nhân con người. Riêng Kitô giáo chẳng chọn quân chủ, cũng chẳng theo dân chủ, nhưng là Thiên chủ, nghĩa là chọn theo chế độ quyền từ Thiên Chúa ban xuống. Và khi chọn theo đường hướng này, lại phải theo tất cả giáo huấn của Đức Kitô, Đấng làm Vua mỗi cá nhân và toàn thể nhân loại cũng như vũ trụ. Điều mà nhiều người trong quá khứ và hôm nay có lẽ không muốn chấp nhận 100%, hay chỉ 50%, và kém hơn chút nữa dưới 50% quyền bính trong Giáo Hội Công Giáo, Chi Thể, Nhiệm Thể và Hiền Thê của Đức Kitô, khi họ sống trong bầu khí dân chủ. Cho dù các chế độ đổi thay, Đạo Công Giáo sẽ muôn đời theo chế độ Thiên Chủ, vì đã chọn cho mình Đức Kitô, Vua muôn đời. Riêng những ai muốn cách mạng Giáo Hội Công Giáo, thì họ tự mình tách ra khỏi Nhiệm Thể này của Đức Kitô, như có nhiều biến cố đã từng xảy ra trong quá khứ.  

Điều người Kitô hữu suy nghĩ hôm nay, là nhìn Chúa Kitô Vua, không phải dưới hình ảnh một vị Vua độc tài, khắt khe hay tàn ác, nhưng ngược lại là vị Vua hòa bình, nhân ái, thương yêu nhân loại hết lòng đến hy sinh giọt máu cuối cùng để cứu chuộc họ khỏi tội lỗi và sự chết muôn đời. Cứ xem những gì Thánh Luca thuật lại trong bài Phúc âm hôm nay sẽ rõ về bản chất Vua của Đức Kitô. Cho dù hết mọi người xỉ nhục, lên án và giết Ngài, nhưng nếu ai trong số họ chỉ cần một lời kêu xin tha thứ như tên trộm van xin: Lạy Ngài, khi về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng, thì vị Vua ấy liền trả lời: Ta bảo thật, ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta. Còn vị Vua nào nhân ái và thương yêu thần dân của mình hơn được Đức Kitô Vua. Hôm nay, vị Vua ấy vẫn cai trị dân Ngài qua Hội Thánh Công Giáo mà Ngài đã thiết lập. Hội thánh Công Giáo không phải là tập thể trừu tượng, nhưng hiện thân là những con người bằng xương bằng thịt, đầy yếu đuối và sẵn sàng vấp ngã. Nhưng Hội thánh Công Giáo tin mình luôn có Vua Giêsu Kitô hướng dẫn và can thiệp qua Thánh Thần của Ngài. Ta đừng lầm lẫn tính cách dân chủ với Thiên chủ của Đạo Đức Kitô, để bị cám dỗ xa rời tình yêu bao la mà Đấng làm Vua ta đã liều mạng chết thay cho ta được sống. 

Lm. Raphael Xuân Nguyên